1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ “Kế toán chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Đầu tư Thịnh Phát” là công trình nghiên
cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nghiêm Thị Thà. Các sô
liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn gôc trích dẫn đầy đủ và trung thực. Kết
quả của luận văn chưa từng được công bô trong bất cứ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Lê Hồng Sơn
2
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ, tôi đã nhận
được sự giúp đỡ, tạo điều kiện nhiệt tình và quý báu của nhiều cá nhân và tập thể.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Thương
Mại, xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Sau đại học đã tạo điều kiện
thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn của mình.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nghiêm Thị Thà – người
hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn tác giả trong suôt quá trình thực hiện
luận văn.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình và quý báu của Ban lãnh
đạo, tập thể nhân viên phòng Kế toán, phòng Kỹ thuật, các đội thi công xây dựng
của Công ty Cổ phần Đầu tư Thịnh Phát đã cung cấp sô liệu thực tế, giúp đỡ tôi
trong quá trình tìm hiểu thực tế, khảo sát sô liệu tại công ty để tôi hoàn thành luận
văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Lê Hồng Sơn
BHTN
CBCNV
CCDC
CP
CT
GTGT
HMCT
KPCĐ
MTC
NVL
NVLTT
NCTT
SPDD
SXC
TK
TSCĐ
Diễn giải
Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm y tế
Bảo hiểm thất nghiệp
Cán bộ công nhân viên
Công cụ dụng cụ
Chi phí
Công trình
Giá trị gia tăng
Hạng mục công trình
Kinh phí công đoàn
Máy thi công
Nguyên vật liệu
48
Bảng 2.1.
Bảng các chi tiêu tài chính chủ yếu năm 2013- 2015
40
Bảng 2.2.
Kết quả kinh doanh trong 3 năm ( 2013- 2015)
44
Bảng 3.1
Sổ giao nhận chứng từ
79
Bảng 3.2
Bảng dự toán chi tiết chi phí nguyên vật liệu
81
Bảng 3.3
Bảng dự toán chi tiết chi phí nhân công
85
Bảng 3.9
Báo cáo chi phí theo khoản mục
86
6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bôi cảnh tình hình kinh tế Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn như hiện
nay và nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng khôc liệt, mỗi một doanh nghiệp
phải không ngừng hoàn thiện các công cụ quản lý, nhất là kế toán và tìm ra hướng
đi riêng mới có thể tồn tại và phát triển bền vững. Cũng với những khó khăn chung
của nền kinh tế, ngành xây dựng cũng đứng trước những thách thức không nhỏ.
Nhiều doanh nghiệp xây lắp gặp khó khăn trong tìm kiếm việc làm mới cũng như
thực hiện theo tiến độ các công trình dở dang do không có đủ vôn. Chính vì vậy, đã
có không ít doanh nghiệp xây lắp vừa và nhỏ phá sản trong năm vừa qua. Những
biện pháp cơ bản được các doanh nghiệp sử dụng là tăng cường năng lực điều hành
quản lý doanh nghiệp, sử dụng một cách chặt chẽ, khoa học và có hiệu quả các
nguồn lực tài chính. Trong đó quản lý chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm là
giải pháp trọng tâm và côt yếu bởi nó chính là một trong những yếu tô then chôt để
nâng cao hiêu quả kinh doanh. Trong doanh nghiệp xây lắp, chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công và chi phí sản
xuất chung là giá vôn hay giá thành phẩm của xây lắp. Muôn hạ giá thành sản xuất
thì mỗi doanh nghiệp ngoài việc tổ chức bộ máy làm việc, áp dụng khoa học tiên
tiến còn phải tập hợp thông tin đầy đủ, chi tiết, kịp thời và tính giá thành sản phẩm
trạng và các giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại
Công ty cổ phần phát triển công trình và ứng dụng công nghệ Bắc Hà. Ngoài ra,
phần hoàn thiện về kế toán quản trị chưa sát thực với doanh nghiệp xây dựng mà
được hoàn thiện giông như doanh nghiệp sản xuất sản phẩm thông thường.
Luận văn thạc sỹ năm 2013 của tác giả Nguyễn Ngọc Quỳnh: “Hoàn thiện
công tác kê toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần
xây dựng số 4 Thăng Long” đã phân tích rất chi tiết những lý thuyết cơ bản xung
quanh vấn đề tập hợp chi phí và giá thành sản phẩm xây lắp theo góc độ kế toán tài
chính và kế toán quản trị. Tuy nhiên, phần thực trạng tác giả không đề cập được
thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp theo góc độ
kế toán quản trị và đưa ra một sô giải pháp về chi phí nhân công trực tiếp, chi phí
sản xuất chung thép góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị. Cách tiếp cận hai
góc độ này của tác giả còn rời rạc, chưa chặt chẽ, trình bày riêng rẽ chưa đan xen
kết hợp với nhau để thấy được sự khác biệt.
Luận văn thạc sỹ: “Hoàn thiện kê toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
8
xây lắp tại Công ty cổ phần xây dựng Điện Biên” của tác giả Trần Thị Thanh Thủy
năm 2014 - đã nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trên
cả góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị và khái quát được những đặc điểm cơ
bản trong công tác kế toán chi phí và giá thành sản phẩm tại Công ty. Nhìn chung,
bộ máy kế toán trong công ty được bô trí gọn nhẹ, các phần hành kế toán phôi hợp
với nhau khá chặt chẽ, đảm bảo cung cấp thông tin kế toán chính xác, kịp thời. Tuy
nhiên, việc phân loại chi phí tại công ty còn chưa thực sự hợp lý theo đúng nội dung
và bản chất của từng khoản mục. Bên cạnh đó, việc tính giá thành sản phẩm cũng
chưa được chú trọng đúng mức, chỉ mang tính tương đôi nên chưa phản ánh được
chính xác thực tế giá thành sản phẩm tại công ty. Qua đó, tác giả đã đưa ra một sô
biện pháp hoàn thiện công tác kế toán tại công ty bằng cách kết hợp chặt chẽ giữa
thấp giá thành, hướng tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu đã công bô và các bài viết trên tạp chí đã đề
cập đến kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong các doanh
nghiệp xây lắp khác nhau, nhưng chưa có đề tài nghiên cứu nào đề cập đến kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Đầu tư
Thịnh Phát. Đây là đơn vị có đóng góp lớn trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước của tỉnh Quảng Ninh.
3. Mục đích nghiên cứu.
Thông qua nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn, đề tài: "Kế toán chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Đầu tư Thịnh
Phát” hướng đến các mục đích sau:
Về lý luận: Nghiên cứu, hệ thông, làm rõ cơ sở lý luận liên quan đến kế toán
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp xây lắp.
Về thực tiễn: Phân tích, đánh giá thực tiễn kế toán chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Đầu tư Thịnh Phát. Từ đó đề xuất các giải
pháp nhằm hoàn thiện hệ thông kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại
Công ty Cổ phần Đầu tư Thịnh Phát trong điều kiện hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ
phần Đầu tư Thịnh Phát theo hệ thông chuẩn mực, chế độ kế toán hiện hành của
Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Thời gian: nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm xây lắp
năm 2015, nửa đầu năm 2016.
10
Không gian: Nghiên cứu thực tế tại Công ty Cổ phần Đầu tư Thịnh Phát.
11
Kết quả thu được: Bằng phương pháp quan sát kết quả thu được bao gồm sơ
đồ bộ máy công ty, quy trình tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
xây lắp tại công ty.
Trình tự thực hiện: Tác giả tiến hành nghiên cứu trực tiếp sổ sách kế toán chi
tiết, tổng hợp, các báo cáo tài chính năm 2015 và 2016 để thu thập các thông tin liên
quan đến kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty. Ngoài ra tác
giả còn tham khảo các tài liệu liên quan ở thư viện, các đề tài nghiên cứu trước đây
về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
5.2. Phương pháp xử lý, phân tích dữ liệu.
Sau khi thu thập được những dữ liệu kế toán cần thiết cho việc viết đề tài, tác
giả đã tiến hành chắt lọc, phân tích cụ thể nhằm nổi bật vấn đề. Sô liệu điều tra
được phân loại nhóm để từ đó tìm ra những vấn đề tổng quát nhất liên quan đến kế
toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Qua kết quả điều tra trắc nghiệm, tác giả sử dụng phương pháp chỉ sô, phương
pháp so sánh để phân tích các thông tin thu được. Phương pháp này được áp dụng
để phân tích mức độ đánh giá của từng chỉ tiêu để từ đó đưa ra được kết quả chung
nhất, và chính xác nhất.
6. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn bao gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong doanh nghiệp xây lắp.
Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp
tại Công ty Cổ phần Đầu tư Thịnh Phát.
Chương 3: Các kết luận nghiên cứu và giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán chi
phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Đầu tư Thịnh Phát.
Trong đó, C là hao phí lao động vật hóa – giá trị của tư liệu sản xuất tiêu hao
như khấu hao TSCĐ, chi phí vật liệu, công cụ, dụng cụ…. V là hao phí lao động
sông như chi phí về tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động tham gia vào
quá trình hoạt động kinh doanh; M là một phần giá trị mới sáng tạo ra như các
khoản trích theo lương như BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ, các khoản thuế có tính
chất chi phí như thuế tài nguyên, thuế môn bài, thuế đất, chi phí lãi vay.
Tóm lại, các quan điểm về chi phí trong doanh nghiệp đều thể hiện bản chất
của chi phí là khoản phí tổn đã phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp
để đạt được một sản phẩm, dịch vụ nhất định.
Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp của ba yếu tô: tư liệu lao động, đôi
tượng lao động và sức lao động. Đồng thời, quá trình sản xuất sản phẩm cũng là quá
trình tiêu hao của chính bản thân các yếu tô trên. Điều đó có nghĩa là để tiến hành
13
sản xuất, người sản xuất phải bỏ ra chi phí về thù lao lao động, về tư liệu lao động
và đôi tượng lao động. Như vậy, chi phí sản xuất chính là biểu hiện bằng tiền của
toàn bộ các chi phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp phải bỏ
ra để tiên hành sản xuất sản phẩm tính cho một kỳ nhấtđịnh.
Cũng như các ngành sản xuất khác, quá trình sản xuất trong doanh nghiệp xây
lắp là quá trình biến đổi của vật liệu xây dựng thành sản phẩm dưới tác động của
máy móc thiết bị cùng sức lao động của công nhân. Như vậy, chi phí sản xuất xây
lắp là toàn bộ chi phí về lao động sống và lao động vật hoá phát sinh trong quá
trình thi công xây lắp công trình hoặc hạng mục công trình và tính cho một thời kỳ
nhất định.Trong đó, chi phí nhân công trực tiếp chính là biểu hiện bằng tiền của lao
động sông, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công… là biểu
hiện bằng tiền của lao động vật hoá.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam sô 15, chi phí sản xuất xây lắp bao gồm:
Chi phí liên quan trực tiếp đến từng sản phẩm xây lắp, chi phí chung liên quan đến
1.1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất
Phân loại chi phí sản xuất có ý nghĩa quan trọng trong việc tập hợp chi phí bởi
trong doanh nghiệp.Chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại và có nội dung kinh tế,
công dụng … khác nhau. Do đó, cần phân loại chi phí sản xuất theo những tiêu thức
khác nhau để đáp ứng yêu cầu quản lý theo từng mục đích nhất định của nhà quản
trị doanh nghiệp.
Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung tính chất kinh tê của chi phí
Theo tiêu thức này, chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây lắp được chia thành:
Chi phí nguyên vật liệu là trị giá nguyên vật liệu (nguyên liệu, vật liệu chính,
vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế) đã sử dụng phục vụ trực tiếp cho sản
xuất như xi măng, thép, gạch, cát …
Chí phí tiền lương, tiền công là chi phí về tiền lương, tiền công phải trả cho
người lao động tham gia vào quá trình sản xuất.
Chi phí các khoản trích theo lương là các khoản trích theo lương phải trả
người lao động như BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ.
Chi phí về công cụ, dụng cụ là giá trị các công cụ, dụng cụ xuất sử dụng và
tính phân bổ cho chi phí sản xuất trong kỳ như cuôc, xẻng, máy dầm, máy bơm …
Chi phí khấu hao tài sản cô định là chi phí về trị giá hao mòn của TSCĐ sử
dụng phục vụ trực tiếp cho sản xuất.
Chi phí dịch vụ mua ngoài là các khoản chi phí về dịch vụ phục vụ trực tiếp
cho quá trình sản xuất như vận chuyển, điện thoại, nước …
Các chi phí khác bằng tiền gồm những khoản chi phí trực tiếp khác ngoài những
khoản chi phí trên như tiếp khách, hội nghị tại phân xưởng, thuế Tài nguyên (nếu có).
Phân loại chi phí sản xuất theo tiêu thức này cho biết kết cấu, tỷ trọng của
từng loại chi phí sản xuất để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí
15
sản xuất, là cơ sở để lập kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch quỹ lương, kế hoạch về
chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí vật liệu, công cụ
dụng cụ, chi phí dịch vụ mua ngoài … phục vụ cho thi công xây lắp công trình.
16
Tùy theo đặc điểm, yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp mà chi phí sản
xuất cũng có thể được theo dõi chi tiết thành các khoản mục nhỏ hơn.
Phân loại chi phí sản xuất theo công dụng của chi phí là cơ sở để quản lý chi
phí theo định mức, là cơ sở để tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm theo khoản mục, là căn cứ để phân tích tình hình thực hiện kế
hoạch và xây dựng định mức chi phí sản xuất cho kỳ sau.
Phân loại chi phí theo mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp được
chia thành:
Chi phí trực tiếp là những chi phí có liên quan trực tiếp với quá trình xây dựng
một công trình, hạng mục công trình nhất định bao gồm nguyên vật liệu xây dựng,
tiền lương công nhân sản xuất, khấu hao máy móc thiết bị thi công…
Chi phí gián tiếp là những chi phí sản xuất có liên quan đến việc xây dựng nhiều
công trình, hạng mục công trình thường phát sinh ở bộ phận quản lý. Vì vậy, kế toán
phải tiến hành phân bổ cho các đôi tượng liên quan theo một tiêu thức thích hợp.
Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng đôi với việc xác định phương pháp
tập hợp và phân bổ chi phí cho các đôi tượng một cách chính xác và hợp lý.
Phân loại chi phí sản xuất theo cách ứng xử của chi phí
Theo cách phân loại này, chi phí được phân thành biến phí, định phí và chi phí
hỗn hợp. Trong đó:
Biến phí là những khoản chi phí thay đổi về tổng sô, có quan hệ tỷ lệ thuận với
khôi lượng công việc hoàn thành, các khoản mục chi phí nguyên liệu, vật liệu trực
tiếp và chi phí nhân công trực tiếp thể hiện rõ nhất đặc trưng của chi phí khả biến.
Biến phí trên một đơn vị sản phẩm luôn là một mức ổn định.
Chỉ tiêu giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ các chi phí để hoàn thành khôi
lượng sản phẩm lắp đặt theo quy định. Sản phẩm lắp đặt có thể là công trình, hạng
mục công trình, khôi lượng công việc hoàn thành theo giai đoạn…
Bản chất giá thành sản xuất của sản phẩm là sự dịch chuyển giá trị các yếu tô
chi phí vào sản phẩm hoàn thành. Trong kế toán quản trị, chỉ tiêu giá thành sản
phẩm có thể xác định theo các phạm vi chi phí khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích sử
dụng thông tin về giá thành sản phẩm của các nhà quản trị doanh nghiệp.
1.1.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm
Phân loại theo thời điểm và cơ sở số liệu tính giá thành
Theo tiêu thức này, giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắpbao gồm:
Giá thành dự toán xây lắp: Giá thành dự toán của công trình, hạng mục công
trình là giá thành công tác xây lắp được xác định trên cơ sở khôi lượng công tác xây
lắp, theo khôi lượng thiết kế được duyệt, các định mức dự toán và đơn giá xây dựng
cơ bản do cấp có thẩm quyền ban hành và dựa theo giá cả thị trường.
18
Giá trị
Giá thành
dự toán
dự toán
Thu
của từng
nhập
Thông qua giá thành dự toán xây lắp người ta có thể đánh giá được thành tích
của doanh nghiệp, nó là hạn mức chi phí cao nhất mà doanh nghiệp có thể chi ra
đểđảm bảo có lãi.
Giá thành kế hoạch là chỉ tiêu được xác định trên cơ sở giá thành dự toán gắn
với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp. Giá thành kế hoạch thường nhỏ hơn giá
thành dự toán.
Giá thành kế hoạch công
tác xây lắp
=
Giá thành dự toán
công tác xây lắp
-
Mức hạ giá thành
kế hoạch
(Tính cho từng công trình, hạng mục công trình)
Giá thành thực tế là toàn bộ chi phí thực tế để hoàn thành sản phẩm xây lắp
theo quy định (thiết kế) bao gồm cả thiệt hại trong sản xuất không thu hồi được và
sự tiết kiệm chi phí sản xuất thi công hợplý (tiết kiệm vật tư, quản lý nhân công chặt
chẽ, sửdụng cơ giới hoá trong thi công nhằm tăng năng suất lao đông …). Giá thành
thực tế thường thấp hơn giá thành dự toán.
Về nguyên tắc: Zdt ≥ Zkh ≥ Ztt
19
ngoài sản xuất tính cho sản phẩm tiêu thụ (chi phí ngoài sản xuất bao gồm chi phí bán
hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp). Chỉ tiêu này chỉ được xác định khi sản phẩm đã
được tiêu thụ và được sử dụng để xác định kết quả tiêu thụ của doanh nghiệp.
20
1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong
doanh nghiệp xây lắp
Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp có môi quan hệ chặt chẽ
biện chứng với nhau trong quá trình sản xuất ra sản phẩm. Chi phí sản xuất phản
ánh mặt hao phí sản xuất, còn giá thành sản phẩm phản ánh mặt kết quả của sản
phẩm. Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các khoản chi phí mà
doanh nghiệp bỏ ra bất kể ở kỳ nào nhưng có liên quan tới khôi lượng công việc,
sản phẩm hoàn thành trong kỳ.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp đều bao gồm các hao phí về
lao động sông và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình sản
xuất sản phẩm. Tuy nhiên, chi phí sản xuất giữa các kỳ không liên quan tới nhau
nên chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm khác nhau về lượng. Điều đó thể hiện ở
công thức:
Tổng giá thành
sản phẩm xây lắp
=
Chi phí sản xuất
dở dang đầu kỳ
+
móc, thiết bị để thực hiện hợp đồng; chi phí thiết kế và trợ giúp kỹ thuật liên quan
trực tiếp đến hợp đồng; chi phí dự tính để sửa chữa và bảo hành công trình; các chi
phí liên quan trực tiếp khác. Chi phí liên quan trực tiếp của từng hợp đồng sẽ được
giảm khi có các khoản thu nhập khác không bao gồm trong doanh thu của hợp
đồng. Ví dụ: Các khoản thu từ việc bán nguyên liệu, vật liệu thừa, thu thanh lý máy
móc, thiết bị thi công khi kết thúc hợp đồng.
Chi phí chung liên quan đến hoạt động của các hợp đồng xây dựng và có thể
phân bổ cho từng hợp đồng, bao gồm: Chi phí bảo hiểm, chi phí thiết kế và trợ giúp
kỹ thuật không liên quan trực tiếp đến một hợp đồng cụ thể, chi phí quản lý chung
trong xây dựng. Các chi phí trên được phân bổ theo các phương pháp thích hợp một
cách có hệ thông theo tỷ lệ hợp lý và được áp dụng thông nhất cho tất cả các chi phí
có các đặc điểm tương tự. Việc phân bổ cần dựa trên mức thông thường của hoạt
động xây dựng.
Các chi phí khác có thể thu lại từ khách hàng theo các điều khoản của hợp
đồng như chi phí giải phóng mặt bằng, chi phí triển khai mà khách hàng phải trả lại
cho nhà thầu đã được quy định trong hợp đồng.
Chi phí không liên quan đến hoạt động của hợp đồng hoặc không thể phân bổ
cho hợp đồng xây dựng thì không được tính trong chi phí của hợp đồng xây dựng.
Các chi phí này bao gồm: Chi phí quản lý hành chính chung, hoặc chi phí nghiên
cứu, triển khai mà hợp đồng không quy định khách hàng phải trả cho nhà thầu; chi
phí bán hàng; khấu hao máy móc, thiết bị và TSCĐ khác không sử dụng cho hợp
đồng xây dựng.
Chi phí của hợp đồng bao gồm chi phí liên quan đến hợp đồng trong suôt giai
đoạn kể từ khi ký hợp đồng cho đến khi kết thúc hợp đồng. Các chi phí liên quan
trực tiếp đến hợp đồng phát sinh trong quá trình đàm phán hợp đồng cũng được coi
là một phần chi phí của hợp đồng nếu chúng có thể xác định riêng rẽ, có thể ước
tính một cách đáng tin cậy và có nhiều khả năng là hợp đồng sẽ được ký kết. Nếu
chi phí phát sinh trong quá trình đàm phán hợp đồng đã được ghi nhận là chi phí sản
sự nghi ngờ về khả năng không thu được một khoản nào đó đã được tính trong
doanh thu của hợp đồng và đã được ghi trong báo cáo kết quả kinh doanh thì những
khoản không có khả năng thu được đó phải được ghi nhận vào chi phí.
Khi phần công việc đã hoàn thành được xác định bằng phương pháp tỷ lệ phần
trăm (%) giữa chi phí đã phát sinh của phần công việc đã hoàn thành tại một thời
23
điểm so với tổng chi phí dự toán của hợp đồng, thì những chi phí liên quan tới phần
công việc đã hoàn thành sẽ được tính vào chi phí cho tới thời điểm đó. Những chi
phí không được tính vào phần công việc đã hoàn thành của hợp đồng có thể là:
(a) Chi phí của hợp đồng xây dựng liên quan tới các hoạt động trong tương lai
của hợp đồng như: Chi phí nguyên vật liệu đã được chuyển tới địa điểm xây dựng
hoặc được dành ra cho việc sử dụng trong hợp đồng nhưng chưa được lắp đặt, chưa
sử dụng trong quá trình thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp những nguyên vật liệu
đó được chế tạo đặc biệt cho hợp đồng;
(b) Các khoản tạm ứng cho nhà thầu phụ trước khi công việc của hợp đồng
phụ được hoàn thành.
Khi kết quả thực hiện hợp đồng xây dựng không thể ước tính được một cách
đáng tin cậy thì chi phí của hợp đồng chỉ được ghi nhận là chi phí trong kỳ khi các
chi phí này đã phát sinh.
Các chi phí liên quan đến hợp đồng không thể thu hồi được phải được ghi
nhận ngay là chi phí trong kỳ đôi với các trường hợp:
(a) Không đủ điều kiện về mặt pháp lý để tiếp tục thực hiện hợp đồng;
(b) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng còn tuỳ thuộc vào kết quả xử lý các đơn
kiện hoặc ý kiến của cơ quan có thẩm quyền;
(c) Hợp đồng có liên quan tới tài sản có khả năng bị trưng thu hoặc tịch thu;
(d) Hợp đồng mà khách hàng không thể thực thi nghĩa vụ của mình;
(đ) Hợp đồng mà nhà thầu không thể hoàn thành hoặc không thể thực thi theo
sản xuất sản phẩm bao gồm chi phí sản xuất chung chung cô định và chi phí sản
xuất chung biến đổi.
Chi phí sản xuất chung cô định là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường không
thay đổi theo sô lượng sản phẩm sản xuất, như chi phí khấu hao, chi phí bảo dưỡng
máy móc thiết bị, nhà xưởng,... và chi phí quản lý hành chính ở các phân xưởng sản
xuất. Chi phí sản xuất chung cô định phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản
phẩm được dựa trên công suất bình thường của máy móc sản xuất. Công suất bình
thường là sô lượng sản phẩm đạt được ở mức trung bình trong các điều kiện sản xuất
bình thường. Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra cao hơn công suất bình
thường thì chi phí sản xuất chung cô định được phân bổ cho mỗi đơn vị sản phẩm theo
chi phí thực tế phát sinh. Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra thấp hơn công
suất bình thường thì chi phí sản xuất chung cô định chỉ được phân bổ vào chi phí chế
biến cho mỗi đơn vị sản phẩm theo mức công suất bình thường. Khoản chi phí sản xuất
chung không phân bổ được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ.
Chi phí sản xuất chung biến đổi là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường
thay đổi trực tiếp hoặc gần như trực tiếp theo sô lượng sản phẩm sản xuất, như chi
25
phí nguyên liệu, vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp. Chi phí sản xuất
chung biến đổi được phân bổ hết vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm theo
chi phí thực tế phát sinh.
Như vậy có thể thấy quá trình kế toán tập hợp chi phí sản xuất vàtính giá thành
sản phẩmvề thực chất đó cũng là quá trình xác định giá trị của “hàng tồn kho” theo
nguyên tắc giá gôc. Bên cạnh đó chuẩn mực cũng đưa ra hướng dẫn giúp loại bỏ các
chi phí không tính vào giá gôc của hàng tồn kho hay là các chi phí cần loại trừ khi
tính giá thành sản phẩm đó là: Chi phí nguyên liệu, vật liệu, chi phí nhân công và
các chi phí sản xuất kinh doanh khác phát sinh trên mức bình thường; chi phí bảo
quản hàng tồn kho (trừ các khoản chi phí bảo quản hàng tồn kho cần thiết cho quá