i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi là : Nguyễn Thị Hường
Sinh ngày : 05/06/1983
Nơi sinh : Hưng Yên
Học viên lớp : CH19B – Chuyên ngành kế toán
Khóa 2013 – 2015 : Trường Đại học Thương mại
Mã SV : 13BM0301036
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung luận văn: “Kế toán chi phí, doanh thu và
kết quả kinh doanh ô tô tại Công ty Cổ phần Thế Giới Thiết Bị”là công trình
nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu trích dẫn trung thực. Luận văn không trùng lặp
với các công trình nghiên cứu tương tự khác.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN THỊ HƯỜNG
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của tập thể
cán bộ khoa sau đại học, giảng viên trường Đại Học Thương Mại đã truyền đạt cho
Tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường.
Đặc biệt, Tôi cũng bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS.TS
theo phương pháp kiểm kê định kỳ
Error: Reference source not found
Sơ đồ 1.3: Hạch toán chi phí bán hàng Error: Reference source not found
Sơ đồ 1.4: Hạch toán chi phí quản lý doanh nghiệp Error: Reference source not
found
Sơ đồ 1.5: Hạch toán doanh thu Error: Reference source not found
Sơ đồ 1.6 : Hạch toán kế toán kết quả kinh doanh
found
Error: Reference source not
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BHXH, BHYT, BHTN
Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp
CCDC
CP
DT
KQKD
DN
QĐ
QLDN
TK
cao nhất cho doanh nghiệp thì doanh nghiệp phải đánh giá thế mạnh, điểm yếu, sức
cạnh tranh, yếu tố cung cầu của xã hội để từ đó khắc phục những điểm yếu của
mình đồng thời phát huy mọi ưu điểm để công ty đạt được lợi nhuận cao nhất tiến
tới khẳng định vị trí trên thị trường . Nhưng trên thị trường, cạnh tranh là một điều
thiết yếu không thể tránh khỏi vì vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải chuẩn bị kế hoạch
cho sự phát triển lâu dài, một trong những kế hoạch đó là việc sử dụng nguồn vốn
và chi phí sao cho hợp lí.
Muốn làm được những điều này cần có số liệu chính xác về mỗi đồng chi phí
bỏ ra là dùng vào việc gì, sử dụng cho mặt hàng nào; rồi doanh thu đạt được từ mỗi
loại hàng hóa là bao nhiêu; cho đến kết quả thực tế thu được từ việc kinh doanh mỗi
mặt hàng đó. Chính vì điều này mà việc ghi chép của kế toán luôn luôn rất quan
trọng và cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Công ty Cổ phần Thế Giới Thiết Bị - một công ty kinh doanh ngành hàng ô tô
là mặt hàng đang có sự cạnh tranh rất lớn trên thị trường Việt Nam. Sự cạnh tranh
không những từ các thương hiệu xe mà còn cạnh tranh cả về giá bán giữa các đại lý
cùng thương hiệu. Công ty luôn luôn phải tính toán để đưa ra mức giá bán cùng với
các chi phí đi kèm để luôn hấp dẫn người mua bởi lợi ích cao nhất mà nười mua
nhận được nhưng vẫn đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệp. Điều này lại phụ thuộc
rất lớn vào số liệu về chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh của kế toán vừa phải
chính xác vừa phải kịp thời để nhà quản trị có thể tính toán đưa ra phương án kinh
doanh tốt nhất cho công ty.
2
Vì nhận thấy tầm quan trọng của công tác kế toán nói chung và kế toán chi phí,
doanh thu và xác định kết quả kinh doanh nói riêng tại Công ty Cổ phần Thế Giới Thiết
Bị nên tôi chọn đề tài : “kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh ô tô tại công ty
Cổ phần Thế Giới Thiết Bị” làm đề tài nghiên cứu cho bài viết của mình
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
quản trị tại các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội, từ đó đề xuất các giải
pháp hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí, doanh thu, kết quả kinh doanh.
Tuy nhiên, luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động kinh doanh du lịch buồng ngủ
và ăn uống mà chưa nghiên cứu về loại hình hoạt động kinh doanh du lịch lữ hành
(loại hình kinh doanh du lịch phổ biến trong các doanh nghiệp du lịch) để có cái
nhìn tổng quát hơn về hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn Hà Nội. Bên cạnh
đó, luận văn tập trung nghiên cứu kế toán chi phí, doanh thu, kết quả trên góc độ kế
toán quản trị mà không đề cập trên góc độ kế toán tài chính, mở ra hướng nghiên
cứu mới cho các đề tài luận văn tiếp theo.
Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện kế toán chi phí - doanh thu – kết quả hoạt động
kinh doanh thiết bị y tế trên địa bàn Hà Nội” – Hoàng Minh Triết (2009). Trong
luận văn của mình, tác giả đã hệ thống hóa, làm sáng tỏ các nội dung cơ bản về kế
toán chi phí – doanh thu – kết quả kinh doanh, làm rõ đặc điểm hoạt động của kinh
doanh thiết bị y tế và thực trạng công tác kế toán chi phí – doanh thu – kết quả kinh
doanh trong các doanh nghiệp này, đề xuất các giải pháp cho loại hình kinh doanh
thiết bị y tế. Tuy nhiên, luận văn chỉ nghiên cứu và đề xuất các giải pháp trên
phương diện kế toán tài chính mà chưa chú trọng đến kế toán quản trị - một công cụ
quản lý kinh tế vô cùng quan trọng và cần thiết trong các doanh nghiệp nói chung,
doanh nghiệp kinh doanh thương mại nói riêng.
Sơ qua một số công trình nghiên cứu trên, có thể thấy các tác giả mặc dù có
chung đối tượng nghiên cứu là kế toán chi phí, doanh thu, kết quả kinh doanh
nhưng các tác giả lại tập chung nghiên cứu theo những khía cạnh khác nhau, nghiên
cứu tại những không gian, địa điểm khác nhau nên mỗi công trình lại có những giải
pháp riêng để hoàn thiện kế toán chi phí, doanh thu, kết quả tại mỗi đơn vị nghiên
cứu. Các công trình nàyvà nhiều các công trình khác mà tác giả được biết thì chưa
có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, mang tính đồng bộ về kế toán chi phí,
doanh thu và kết quả kinh doanh ô tô tại Việt nam.Chính vì vậy, vấn đề mà luận văn
4
5
- Phương pháp phỏng vấn: Các bài phỏng vấn trực tiếp lãnh đạo công ty và một
số phòng ban có liên quan như phòng kế toán, phòng kinh doanh, phòng vật tư,...
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thông qua nghiên cứu các tài liệu, các
văn bản liên quan, tìm hiếm, tra cứu bằng từ khóa, kế thừa các kết quả nghiên
cứu của các công trình khoa học đã công bố, người nghiên cứu hệ thống hóa
được những vấn đề cơ bản của đề tài, là cơ sở định hướng các nội dung nghiên
cứu tiếp theo.
b) Phương pháp phân tích dữ liệu
Thông qua các số liệu đã thu nhận được từ đơn vị nghiên cứu, tác giả tiến
hành so sánh và đối chiếu giữa chế độ kế toán và thực tiễn, phân tích, tổng hợp,
thống kê số học để xử lý các số liệu kế toán. Từ đó đưa ra kết luận, đề xuất các
giải pháp hoàn thiện của luận văn
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài.
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu kế toán chi phí, doanh
thu, kết quả hoạt động bán hàng trong doanh nghiệp.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các nghiệp vụ phát sinh chủ yếu
trong năm tài chính 2014, 2015.
+ Về không gian: Đề tài nghiên cứu tại Công ty cổ phần Thế giới Thiết bị.
+ Về nội dung nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu chủ yếu lý luận và thực trạng kế
toán chi phí, doanh thu, kết quả kinh doanh ô tô trên góc độ kế toán tài chính và đề
cập thêm khía cạnh kế toán quản trị
Trên góc độ kế toán tài chính, luận văn tập trung nghiên cứu việc tuân thủ quy
định của chuẩn mực, chế độ kế toán nhằm phục vụ cho việc trình bày các báo cáo
tài chính một cách trung thực, hợp lý.
Trên góc độ kế toán quản trị đề tài có đề cập đến nhưng chỉ dừng ở khâu thu
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ, DOANH
THU, KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP THƯƠNG MẠI.
1.1 Khái niệm, phân loại chi phí, doanh thu và kết quả hoạt động bán
hàng trong doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm, phân loại chi phí trong doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm chi phí trong doanh nghiệp thương mại
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam - Chuẩn mực số 01 “chuẩn mực chung”
(VAS 01) “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế
toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát
sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm các khoản
phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”.
Theo Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB - International Accounting
Standards Board) thì “Chi phí là các yếu tố làm giảm các lợi ích kinh tế trong niên
độ kế toán dưới hình thức xuất đi hay giảm giá trị tài sản hay làm phát sinh các
khoản nợ, kết quả là giảm nguồn vốn chủ sở hữu mà không do việc phân phối
nguồn vốn cho các bên chủ sở hữu”
Theo hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ (FASB – Financial
Accounting Standards Board) thì cho rằng “Chi phí là dòng ra (hoặc tự sử dụng)
của tài sản hay sự phát sinh nợ phải trả (hoặc phối hợp cả hai) từ việc bán hay sản
xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ hay thực hiện các hoạt động khác cấu thành hoạt
động chủ yếu hoặc trung tâm của DN”.
Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp phải huy động sử dụng các nguồn
lực, vật lực (lao động, vật tư, tiền vốn...) để thực hiện các công việc lao vụ, thu mua
dự trữ hàng hoá, luân chuyển, lưu thông hàng hoá, thực hiện hoạt động đầu tư ...kể
cả chi cho công tác quản lý chung của doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là doanh
8
hóa và các chi phí thu mua của số hàng hóa bán ra trong kỳ. Chi phí mua hàng là
biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá
9
phát sinh trong quá trình thu mua hàng hoá như chi phí lưu kho, lưu bãi; chi phí
kiểm định hàng hoá; chi phí vận chuyển, bốc dỡ hàng hoá; lệ phí thanh toán; chi phí
bảo hiểm hàng hoá; hao hụt tự nhiên phát sinh trong quá trình thu mua hàng hoá...
- Chi phí bán hàng là chi phí ở khâu dự trữ và tiêu thụ hàng hoá, các chi phí
này bao gồm các chi phí trọn lọc, đóng gói, bảo quản hàng hoá, chi phí vận chuyển
hàng hoá từ kho tới người mua, tiền thuê kho bãi, nhân viên bán hàng, quản lý, chi
phí sử dụng đồ dùng, khấu hao TSCĐ, chi phí quảng cáo tiếp thị, hoa hồng...
- Chi phí quản lý doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí
về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác phát sinh trong quá
trình quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và các chi phí chung khác liên quan
đến toàn doanh nghiệp
• Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế
Theo cách phân loại này, chi phí phát sinh nếu có cùng nội dung kinh tế được
sắp xếp chung vào cùng một yếu tố, bất kể nó phát sinh ở bộ phận nào. Việc phân
loại theo tiêu thức này giúp tập hợp, quản lý chi phí tốt hơn, qua đó đánh giá tình
hình thực hiện dự toán chi phí, cung cấp tài liệu để lập dự toán chi phí kinh doanh.
Tuy nhiên, việc phân loại này không phân biệt được chi phí theo từng mục đích và
nguyên nhân gây ra chi phí. Theo cách phân loại này, chi phí kinh doanh được chia
thành 5 yếu tố:
- Chi phí vật tư: Bao gồm toàn bộ giá trị các loại vật tư dùng vào hoạt động
kinh doanh trong kỳ.
- Chi phí nhân công (tiền lương và các khoản trích theo lương):Là toàn bộ các
khoản tiền lương phải trả và các khoản trích theo lương như: chi phí tiền lương,
phụ cấp phải trả, và các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm
đích là cơ sở đưa ra các quyết định kịp thời cho các nhà quản trị doanh nghiệp. Vì
vậy, kế toán quản trị không chỉ nhìn nhận chi phí đơn thuần như trong kế toán tài
chính, mà còn được nhìn nhận theo phương pháp nhận diện thông tin ra quyết định.
Với lý do này, chi phí có thể là những phí tổn thực tế phát sinh cũng có thể là những
ước tính, những phí tổn mất đi do lựa chọn phương án, hy sinh cơ hội kinh doanh…
Như vậy, kế toán quản trị khi nhận thức chi phí cần chú ý đến sự lựa chọn, so sánh
theo mục đích sử dụng, ra quyết định kinh doanh hơn là chú trọng vào chứng cứ
(chứng từ).
Một số cách phân loại chi phí của kế toán quản trị gồm:
- Phân loại theo chức năng hoạt động có: Chi phí giá vốn hàng bán, chi phí
bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp
11
- Phân loại theo cách ứng xử của chi phí có: Chi phí cố định, chi phí biến đổi,
chi phí hỗn hợp
- Phân loại theo đối tượng chi phí: chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp
- Phân loại theo khả năng kiểm soát: Chi phí kiểm soát được, chi phí không
kiểm soát được
- Phân loại theo mối quan hệ báo cáo KQKD: Chi phí sản phẩm, Chi phí thời kỳ
1.1.2. Khái niệm, phân loại doanh thu trong doanh nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm doanh thu
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 (VAS 14) và cả chuẩn mực kế toán
quốc tế số 18 (IAS 18) đều định nghĩa; "Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế
doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động kinh doanh
thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm
khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu".
Doanh thu phát sinh từ giao dịch, sự kiện được xác định bởi thoả thuận giữa
doanh nghiệp với bên mua và bên sử dụng tài sản. Nó được xác định bằng giá trị
hoạt động tài chính của doanh nghiệp
- Giá trị các hàng hoá, dịch vụ đem tặng, cho hoặc tiêu dùng ngay trong nội bộ
doanh nghiệp cũng phải được hạch toán để xác định doanh thu .
- Các khoản giảm trừ doanh thu chỉ được hạch toán khi việc giảm giá hàng bán
phát sinh sau khi đã phát hành hoá đơn bán hàng .Đối với trường hợp bán hàng theo
khối lượng lớn nếu giảm giá bán hàng cho người mua thì phải ghi rõ trên hoá đơn
phát hành lần cuối cùng .
Doanh nghiệp phải có quy chế quản lý và công bố công khai các khoản giảm
giá hàng bán. Giám đốc doanh nghiệp được quyền quyết định và chịu trách nhiệm
về các khoản giảm trừ nói trên.
Ngoài ra, doanh thu từ hoạt động kinh doanh có thể phân loại thành doanh
thu sản xuất kinh doanh thông thường và doanh thu hoạt động tài chính:
- Doanh thu hoạt động kinh doanh thông thường là toàn bộ số tiền phải thu
phát sinh trong kỳ từ việc bán sản phẩm hàng hoá, cung cấp dịch vụ của doanh
nghiệp. Đối với doanh nghiệp thực hiện cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích,
doanh thu bao gồm cả các khoản trợ cấp của Nhà nước cho doanh nghiệp khi doanh
nghiệp thực hiện cung cấp sản phẩm, dịch vụ theo nhiệm vụ Nhà nước giao mà thu
không đủ bù đắp chi;
13
- Doanh thu từ hoạt động tài chính bao gồm: các khoản thu phát sinh từ tiền
bản quyền, cho các bên khác sử dụng tài sản của doanh nghiệp, tiền lãi từ việc cho
vay vốn, lãi tiền gửi, lãi bán hàng trả chậm, trả góp, lãi cho thuê tài chính; chênh
lệch lãi do bán ngoại tệ, chênh lệch tỷ giá ngoại tệ; chênh lệch lãi chuyển nhượng
vốn và lợi nhuận được chia từ việc đầu tư ra ngoài doanh nghiệp (bao gồm cả phần
lợi nhuận sau thuế sau khi để lại trích các Quỹ của doanh nghiệp trách nhiệm hữu
hạn nhà nước một thành viên; lợi nhuận sau thuế được chia theo vốn nhà nước và
lợi nhuận sau thuế trích lập Quỹ đầu tư phát triển của doanh nghiệp thành viên hạch
hàng bán
-
Chi phí
bán hàng
-
Chi phí quản lý
doanh nghiệp
14
bán hàng
thuần
1.2 Yêu cầu quản lý chi phí, doanh thu, kết quả hoạt động bán hàng và
nhiệm vụ kế toán
Chi phí của doanh nghiệp gồm rất nhiều loại chi phí khác nhau. Việc phân
loại, ghi nhận cho đúng nội dung phát sinh chi phí vừa đảm bảo đầy đủ lại vừa đảm
bảo đúng nguyên tắc kế toán là rất quan trọng.Việc xác định chi phí một cách chính
xác kịp thời giúp cho nhà quản lý xác định được kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp, từ đó đưa ra phương hướng phát triển cho công ty. Điều này đòi hỏi kế toán
phải thường xuyên cập nhật các chi phí phát sinh và phân loại các chi phí theo đúng
nội dung yêu cầu của nguyên tắc kế toán và yêu cầu quản trị của công ty
Doanh thu là kết quả của khối lượng hàng hóa dịch vụ bán ra trong kỳ. Thông
tin về doanh thu hoạt động kinh doanh được xem là một trong những dòng thông tin
quan trọng nhất để người sử dụng thông tin phân tích, đánh giá tình hình và kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp. Qua đó đánh giá được khả năng cạnh tranh, chiếm
Kết quả bán hàng phải được tính toán chính xác, kịp thời và chi tiết cho
từng loại sản phẩm hàng hóa
Tính toán, xác định chính xác chi phí thuế thu thu nhập doanh nghiệp và
giám sát tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước
Vvv..
1.3 Kế toán chi phí, doanh thu, kết quả hoạt động bán hàng trong doanh nghiệp
1.3.1 Kế toán chi phí, doanh thu, kết quả hoạt động bán hàng trên góc độ kế
toán tài chính
1.3.1.1 Kế toán chi phí, doanh thu, kết quả hoạt động bán hàng theo quy định
của một số chuẩn mực kế toán.
Theo VAS 01 – Chuẩn mực chung: “Chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí
khác được ghi nhận trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh khi các khoản chi phí
này làm giảm bớt lợi ích kinh tế trong tương lai có liên quan đến việc giảm bớt tài sản
hoặc tăng nợ phải trả và chi phí này phải xác định được một cách đáng tin cậy”
Và: Chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh
doanh thông thường của doanh nghiệp, như: giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng,
chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí lãi tiền vay, và những chi phí liên quan đến
hoạt động cho các bên khác sử dụng tài sản sinh ra lợi tức, tiền bản quyền,…
16
Những chi phí này phát sinh dưới dạng tiền và các khoản tương đương tiền, hàng
tồn kho, khấu hao máy móc, thiết bị
Theo VAS 02 – Hàng tồn kho: Hàng tồn kho được tính theo giá gốc.
Trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính theo
giá trị thuần có thể thực hiện được.
Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: Chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí
liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái
hiện tại.
phải lập ở cuối niên độ kế toán năn nay lớn hơn khoản dự phòng giảm giá hàng tồn
kho đã lập ở cuối niên độ kế toán năm trước, các khoản hao hụt, mất mát của hàng
tồn kho, sau khi trừ (-) phần bồi thường do trách nhiệm cá nhân gây ra, và chi phí
sản xuất chung không phân bổ, được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong
kỳ. Trường hợp khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập ở cuối niên độ kế
toán năm nay nhỏ hơn khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã lập ở cuối niên độ
kế toán năm trước, thì số chênh lệch lớn hơn phải được hoàn nhập ghi giảm chi phí
sản xuất, kinh doanh.
Theo VAS 03 – Tài sản cố định hữu hình: Các tài sản được ghi nhận là
TSCĐ hữu hình phải thỏa mãn đồng thời tất cả bốn (4) tiêu chuẩn ghi nhận sau:
Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó;
Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy; Thời gian sử dụng
ước tính trên 1 năm; Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành.
Kế toán TSCĐ hữu hình được phân loại theo nhóm tài sản có cùng tính chất
và mục đích sử dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, gồm:
Nhà cửa, vật kiến trúc; Máy móc, thiết bị; Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn;
Thiết bị, dụng cụ quản lý; Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm;
TSCĐ hữu hình khác.
Giá trị phải khấu hao của TSCĐ hữu hình được phân bổ một cách có hệ thống
trong thời gian sử dụng hữu ích của chúng. Phương pháp khấu hao phải phù hợp với
lợi ích kinh tế mà tài sản đem lại cho doanh nghiệp. Số khấu hao của từng kỳ được
hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, trừ khi chúng được tính vào
giá trị của các tài sản khác, như: Khấu hao TSCĐ hữu hình dùng cho các hoạt động
trong giai đoạn triển khai là một bộ phận chi phí cấu thành nguyên giá TSCĐ vô
18
hình (theo quy định của chuẩn mực TSCĐ vô hình), hoặc chi phí khấu hao TSCĐ
hữu hình dùng cho quá trình tự xây dựng hoặc tự chế các tài sản khác
19
đủ các điều kiện Xác định chi phí đi vay được vốn hoá.Các chi phí đi vay được vốn
hoá khi doanh nghiệp chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai do sử dụng
tài sản đó và chi phí đi vay có thể xác định được một cách đáng tin cậy.
Các chi phí được ghi nhận trong báo cáo kết quả kinh doanh phải tuân thủ
nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí. Khi lợi ích kinh tế dự kiến thu được
trong kỳ kế toán có liên quan đến doanh thu và thu nhập khác được xác định một
cách gián tiếp thì các chi phí liên quan được ghi nhận trong báo cáo kết quả kinh
doanh trên cơ sở phân bổ theo hệ thống hoặc theo tỷ lệ. Một khoản chi phí được ghi
nhận ngay vào báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ khi chi phí đó không đem lại lợi
ích kinh tế trong các kỳ sau
Theo VAS 14 – Doanh thu và thu nhập khác: Doanh thu chỉ bao gồm tổng
giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được. Các
khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn
chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu. Các khoản góp vốn
của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không là doanh thu.
- Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ
thu được.
-. Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa doanh
nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó được xác định bằng giá trị hợp lý
của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các khoản chiết khấu
thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại.
- Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì
doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu
được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi
suất hiện hành. Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá
trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai.
- Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ
hữu hàng hóa thì giao dịch không được coi là hoạt động bán hàng và doanh thu
không được ghi nhận. Doanh nghiệp còn phải chịu rủi ro gắn liền với quyền sở hữu
hàng hóa dưới nhiều hình thức khác nhau, như:
(a) Doanh nghiệp còn phải chịu trách nhiệm để đảm bảo cho tài sản được hoạt
động bình thường mà việc này không nằm trong các điều khoản bảo hành thông thường;