i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân. Các
số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Kết quả nghiên cứu này chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học
nào. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Hà Nội, ngày 08 tháng 08 năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Dịu Huế
ii
LỜI CẢM ƠN
Nhờ sự chỉ dạy tận tình của các thầy cô giáo trường Đại học Thương mại
nên em có thêm nhiều bài học quý báu. Em muốn nói lời cảm ơn chân thành
với ngôi trường mà em đã gắn bó – trường Đại học Thương mại và các thầy
cô giáo đã truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu làm hành trang
cho em sau này.
Với lòng kính trọng và biết ơn, em xin bày tỏ lời cảm ơn tới thầy giáo
TS. Nguyễn Viết Tiến đã khuyến khích, chỉ dẫn tận tình cho em trong suốt
thời gian thực hiện nghiên cứu này.
Xin chân thành cảm ơn công ty Cổ phần Công trình Viettel và các cô
chú, anh chị phòng tài chính, phòng tổ chức lao động đã hợp tác chia sẻ thông
tin, cung cấp cho em nhiều nguồn tư liệu, tài liệu hữu ích phục vụ cho đề tài
nghiên cứu.
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin kính chúc Ban giám hiệu nhà trường,
thầy cô và các cô chú, anh chị phòng tài chính, phòng tổ chức lao động thành
công trong công việc, chúc Công ty Cổ phần Công trình Viettel ngày càng
3
BHXH
Bảo hiểm xã hội
4
BHYT
Bảo hiểm y tế
5
CBCNV
Cán bộ công nhân viên
6
CCDC
Công cụ dụng cụ
7
CNTT
Công nghệ thông tin
13
KT
Kế toán
14
KLXLDD
Khối lượng xây lắp dở dang
15
KPCĐ
Kinh phí công đoàn
16
KTQT
Kế toán quản trị
17
KTTC
Kế toán tài chính
23
TNCN
Thu nhập cá nhân
24
TSCĐ
Tài sản cố định
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường đang chịu ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế
thế giới những năm gần đây, chính sách tín dụng thắt chặt, hầu hết các thành
phần kinh tế trong nước đều gặp khó khăn. Bên cạnh đó, nền kinh tế Việt
Nam đang trong quá trình hội nhập với thế giới, nhiều cơ hội và thách thức
đặt ra với các doanh nghiệp trong nước. Đây có thể là cánh cửa mở ra những
cơ hội mới cho các doanh nghiệp trong nước, đồng thời đặt các doanh nghiệp
đứng trước sự lựa chọn hoặc thay đổi để tồn tại và phát triển hoặc phá sản vì môi
trường cạnh tranh quá khốc liệt. Không nằm ngoài tình trạng đó, các doanh
nghiệp xây lắp phải đối mặt với bài toán giải quyết khó khăn và tìm đường đi
cho định hướng hoạt động cũng như duy trì sự phát triển của doanh nghiệp.
Trong bối cảnh của nước ta hiện nay, xây dựng cơ bản là ngành sản sản
xuất vật chất có vị trí quan trọng trong nền kinh tế, việc hiện đại hóa cơ sở hạ
lắp tại công ty Cổ phần Công trình Viettel sẽ chỉ ra những hạn chế trong quá
trình quản lý và hạch toán kế toán xây lắp tại công ty, từ đó đề xuất giải pháp
khắc phục, giúp công ty quản lý chặt chẽ chi phí, nâng cao chất lượng công
trình và tối đa hóa lợi nhuận trong thời gian tới. Đồng thời, công ty có những
cơ sở tin cậy để đưa ra các quyết định đầu tư mới.
Với mong muốn ứng dụng các kiến thức đã học vào thực tế và xuất phát
từ các lý do trên, học viên xin lựa chọn đề tài: “ Kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần công trình Viettel” làm
đề tài nghiên cứu của mình.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài
Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp đã có một số
tác giả nghiên cứu như:
- Luận văn thạc sỹ “ Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành công trình
xây dựng tại công ty Cổ phần xây dựng số 5” của tác giả Vũ Thị Kim Chinh -
3
ĐHTM (2015): luận văn đã hệ thống hóa được những vấn đề chung về kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại các công ty xây
dựng. Tuy nhiên, tổng quan các công trình nghiên cứu còn sơ sài, thực trạng
kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành công trình xây dựng tại công ty
chưa trình bày rõ quá trình nhận thầu, chia thầu và tính giá thành.
- Luận văn thạc sỹ “ Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
xây lắp tại công ty Cổ phần 471” của tác giả Nguyễn Thị Thùy Vân – ĐHTM
(2015): về mặt nội dung, luận văn đã nêu được các vấn đề và lý luận cơ bản
liên quan đến đề tài nghiên cứu, thực trạng kê toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xây lắp trên cả hai phương diện kế toán tài chính và kế toán
quản trị, đồng thời rút ra các giải pháp có tính khả thi phù hợp với công ty.
Tuy nhiên tác giả có cách sắp xếp các mục chưa thật hợp lý và chưa nêu bật
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
* Về mặt lý luận: Phân tích và hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về
kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp xây lắp.
* Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu, khảo sát và đánh giá thực trạng kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phần Công trình
Viettel; từ đó chỉ ra ưu điểm và những hạn chế còn tồn tại trong kế toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty Cổ phần Công
trình Viettel; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp tại công ty Cổ phần Công trình Viettel.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Công ty Cổ phần Công trình Viettel và xí nghiệp trực
thuộc Công ty.
+ Về thời gian: Năm 2015
5
5. Các câu hỏi đặt ra trong quá trình nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành trong các
doanh nghiệp xây lắp là gì?
- Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
tại công ty Cổ phần Công trình Viettel như thế nào? Có những ưu điểm, hạn
chế gì?
- Cần có những giải pháp gì để hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty Cổ phần Công trình Viettel?
6. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp .
Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp tại công ty Cổ phần Công trình Viettel.
Chương 3: Các kết luận và giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty Cổ phần Công trình Viettel.
7
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN
XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1 Đặc điểm hoạt động sản xuất xây lắp có ảnh hưởng đến kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Hoạt động sản xuất xây lắp là 1 hoạt động xây dựng mới, mở rộng, khôi
phục cải tạo cơ sở vật chất cho nền kinh tế. Xây lắp là 1 ngành sản xuất vật
chất mang tính chất sản xuất công nghiệp, nhưng có đặc điểm riêng biệt khác
với ngành sản xuất khác, ảnh hưởng đến công tác quản lý và công tác kế toán.
Sản xuất xây lắp có những đặc điểm sau đây:
- Sản phẩm xây lắp mang tính chất riêng lẻ đó là những công trình, vật
kiến trúc... có qui mô lớn, kỹ thuật sản xuất phức tạp, sản xuất đơn chiếc, thời
gian sản xuất dài, mỗi sản phẩm xây lắp có yêu cầu về mặt cấu trúc, mỹ thuật,
hình thức địa điểm xây dựng khác nhau. Đặc điểm này đòi hỏi phải lập dự
toán (dự toán thiết kế, dự toán thi công), quá trình xây lắp phải luôn luôn sát
với dự toán, phải lấy dự toán làm căn cứ tổ chức thực hiện.
- Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá trị dự toán (hoặc giá thoả
thuận khi trúng thầu hoặc giá chỉ định thầu). Tính chất hàng hoá của sản phẩm
xây lắp không thể hiện rõ (vì đã quy định giá cả, người mua, người bán từ
trước thông qua hợp đồng giao thầu). Vì vậy việc tiêu thụ được thực hiện
Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động xây lắp
nói riêng cần có sự kết hợp của ba yếu tố: sức lao động của con người, tư liệu
lao động như máy móc, nhà xưởng và đối tượng lao động như nguyên vật
liệu, nhiên liệu. Các yếu tố này tham gia vào quá trình sản xuất hình thành các
yếu tố tương ứng như khấu hao tài sản cố định, chi phí nguyên vật liệu, tiền
công... Các chi phí đó được lượng hóa bằng tiền.
9
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01: Chi phí là tổng giá trị các khoản
làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra,
các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn
chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu.
Bên cạnh đó có thể hiểu chi phí là một phạm trù kinh tế gắn liền với sản
xuất và lưu thông hàng hóa. Chi phí doanh nghiệp là những khoản chi phí
phát sinh gắn liền với doanh nghiệp trong quá trình bắt đầu từ mua vật liệu,
tạo ra sản phẩm đến khi tiêu thụ nó. Đó là những hao phí lao động xã hội
được biểu hiện bằng tiền trong hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh
nghiệp được xem xét theo từng kỳ kế toán.
“Chi phí sản xuất xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về
lao động vật hóa, lao động sống và các chi phí cần thiết khác mà doanh
nghiệp bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất xây lắp trong một thời kỳ nhất
định.” [11,tr.68]
Có rất nhiều cách định nghĩa về khái niệm chi phí sản xuất khác nhau
nhưng đều có những điểm chung. Tóm lại, có thể định nghĩa về chi phí sản
xuất xây lắp là toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa và các
chi phí cần thiết khác được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ phát sinh trong
hoạt động sản xuất xây lắp của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
1.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất xây lắp
động sản xuất xây lắp của doanh nghiệp.
Yếu tố các chi phí khác bằng tiền: là toàn bộ chi phí khác dùng cho hoạt
động xây lắp ngoài các yếu tố trên như chi phí tiếp khách, hội họp, hội nghị.
Cách phân loại này thể hiện các thành phần ban đầu của chi phí bỏ vào
sản xuất, tỷ trọng từng loại chi phí trong tổng số làm cơ sở cho việc kiểm tra
tình hình thực hiện dự toán chi phí, lập kế hoạch cung ứng vật tư, tính nhu cầu
vốn và thuyết minh báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Đồng thời phục vụ
11
cho việc lập các cân đối chung (lao động, vật tư, tiền vốn…). Tuy nhiên cách
phân loại này không biết được chi phí sản xuất sản phẩm là bao nhiêu trong
tổng chi phí của doanh nghiệp.
* Phân loại theo mục đích, công dụng của chi phí (Khoản mục chi phí)
Theo cách phân loại này những khoản chi phí có cùng công dụng kinh tế,
cùng mục đích sử dụng được xếp thành một khoản mục, không phân biệt tính
chất kinh tế của nó như thế nào. Theo cách này chi phí sản xuất được chia
thành các khoản mục sau: chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp; chi phí nhân
công trực tiếp; chi phí sử dụng máy thi công; chi phí sản xuất chung. Trong đó:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: là chi phí về toàn bộ giá trị nguyên
liệu, vật liệu, nhiên liệu,…xuất dùng cho sản xuất xây lắp trong kỳ.
- Chi phí NCTT: là toàn bộ chi phí về các loại tiền lương, tiền công và phụ
cấp phải trả cho công nhân trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất.
- Chi phí sử dụng máy thi công : bao gồm toàn bộ chi phí có liên quan
đến máy thi công như chi phí vật liệu chi máy hoạt động, chi phí tiềnf lương
và các khoản phụ cấp lương của công nhân trực tiếp điều khiển máy.
- Chi phí sản xuất chung: Bao gồm những chi phí phục vụ cho quá trình
sản xuất tại đội, công trình xây dựng. Chi phí sản xuất chung gồm nhiều loại
chi phí gồm nhiều loại chi phí có nội dung kinh tế khác nhau như lương nhân
Tóm lại, mỗi cách tập hợp chi phí sản xuất đều có ý nghĩa riêng phục vụ
cho từng đối tượng quản lý, từng đối tượng cung cấp thông tin cụ thể và luôn
bổ sung cho nhau nhằm quản lý có hiệu quả toàn bộ chi phí phát sinh trong
phạm vi từng doanh nghiệp, trong từng thời kỳ nhất định.
13
1.2.2 Khái niệm và phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
1.2.2.1 Khái niệm giá thành sản phẩm xây lắp
Mục đích của việc bỏ ra một lượng chi phí của các nhà sản xuất là để tạo
nên những giá trị sử dụng nhất định, nhằm đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của xã hội.
Sau quá trình sản xuất ra sản phẩm có những khoản chi phí liên quan đến khối
lượng sản phẩm, công việc , lao vụ hoàn thành gọi là giá thành sản phẩm.
“Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí bằng tiền phát sinh
trong quá trình sản xuất tính cho một khối lượng sản phẩm xây lắp hoàn
thành theo qui định. Giá thành hạng mục công trình hoặc công trình hoàn
thành toàn bộ là giá thành sản phẩm cuối cùng của công việc xây lắp.” [7,
tr.285]
Vậy giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí lao động
sống, lao động vật hoá và các hao phí khác mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên
quan đến một khối lượng sản phẩm, công việc lao vụ hoàn thành nhất định.
Những chi phí đưa vào giá thành sản phẩm phải phản ánh được giá trị thực
của các tư liệu sản xuất và các chỉ tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp hao
phí lao động sống.
1.2.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
Cũng như chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm cũng được phân loại để
phục vụ công tác hạch toán và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.Trong sản
xuất xây lắp cần phân biệt các loại giá thành sau đây:
- Giá trị dự toán:
thành các loại giá thành sau đây:
+ Giá thành dự toán công tác xây lắp: là toàn bộ các chi phí để hoàn
thành khối lượng công tác xây lắp theo dự toán. Như vậy giá thành dự toán là
một bộ phận của giá trị dự toán của từng công trình xây lắp riêng biệt và được
xác định từ giá trị dự toán không có phần lợi nhuận định mức.
Hoặc:
Giá thành dự toán = Giá trị dự toán - Lợi nhuận định mức - Thuế GTGT
Giá thành dự toán là khối lượng công tác xây lắp theo định mức kinh tế
kỹ thuật do nhà nước quy định nhân với đơn giá xây lắp do nhà nước ban
hành theo từng khu vực thi công và chi phí khác theo định mức.
Giá thành dự toán được xây dựng và tồn tại trong một thời gian nhất
định, nó được xác định trong những điều kiện trung bình về sản xuất thi công,
về tổ chức quản lý, về hao phí lao động vật tư ... cho từng loại công trình hoặc
15
công việc nhất định. Giá thành dự toán có tính cố định tương đối và mang tính
chất xã hội.
+ Giá thành kế hoạch: là giá thành được xác định từ những điều kiện và đặc
điểm cụ thể của một doanh nghiệp xây lắp trong một kỳ kế hoạch nhất định.
Căn cứ vào giá thành dự toán và căn cứ vào điều kiện cụ thể, năng lực
thực tế sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch, doanh
nghiệp tự xây dựng những định mức kinh tế kỹ thuật và đơn giá để xác định
những hao phí cần thiết để thi công công trình trong một kỳ kế hoạch.
Như vậy, giá thành kế hoạch là một chỉ tiêu để các doanh nhiệp xây lắp
tự phấn đấu để thực hiện mức lợi nhuận do hạ giá thành trong kỳ kế hoạch.
Giá thành
=
16
So sánh giá thành thực tế với giá thành định mức cho thấy mức độ hoàn
thành định mức đã đề ra của doanh nghiệp đối với từng khối lượng xây lắp cụ thể.
1.2.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp
Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau trong quá trình sản xuất sản phẩm, lao vụ, dịch vụ, nó là hai mặt thống
nhất của cùng một quá trình. Chi phí thể hiện hao phí và giá thành thể hiện
kết quả sản suất. Giữa chi phí và giá thành có những điểm tương đồng và
khác biệt sau đây:
- Đều là những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh
nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm.
- Đều gắn liền với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Chi phí sản xuất biểu hiện mặt hao phí lao động phát sinh trong quá
trình sản xuất còn giá thành sản phẩm biểu hiện hao phí lao động kết tinh
trong khối lượng sản phẩm, công việc hoàn thành.
- Chi phí sản xuất luôn gắn với một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm)
không cần biết nó thuộc loại sản phẩm nào, hoàn thành hay chưa hoàn thành.
Còn giá thành sản phẩm luôn luôn gắn liền với một khối lượng sản phẩm,
công việc, lao vụ hoàn thành nhất định.
- Với giác độ biểu hiện bằng tiền để xem xét thì trong một thời kỳ tổng
số chi phí sản xuất phát sinh khác với tổng giá thành sản phẩm hoàn thành
trong kỳ đó. Vì giá thành sản phẩm không bao giờ gồm những chi phí sản
xuất không liên quan đến hoạt động tạo ra sản phẩm và những chi phí sản
xuất dở dang cuối kỳ (chuyển sang kỳ sau), nhưng nó lại chứa đựng cả phần
chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ (của kỳ trước chuyển qua), biểu hiện qua
công thức sau:
Giá thành sản
nhiều công việc. Vì vậy, chi phí sản xuất phải được tập hợp theo từng khoản
mục trong phạm vi giới hạn nhất định để phục vụ công tác tính giá thành sản
phẩm. Tương ứng với đặc điểm thi công, tổ chức sản xuất của ngành xây
dựng cơ bản thì đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây
lắp có thể là công trình, hạng mục công trình xây lắp , các giai đoạn quy ước
của hạng mục công trình có giá trị dự toán riêng hay nhóm công trình, các
đơn vị thi công (xí nghiệp, đội thi công xây dựng).
1.3.2 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất xây lắp
Có hai phương pháp tập hợp chi phí sản xuất sản phẩm xây dựng sau :
- Phương pháp tập hợp trực tiếp : Áp dụng các chi phí có liên quan đến
từng công trình, hạng mục công trình cụ thể. Phương pháp này đòi hỏi phải tổ
chức việc ghi chép ban đầu theo đúng đối tượng, trên cơ sở đó kế toán tập hợp
số liệu theo từng đối tượng liên quan.
- Phương pháp phân bổ gián tiếp : Áp dụng đối với những loại chi phí có
liên quan đến nhiều công trình, hạng mục công trình, không thể tập hợp riêng
rẽ cho từng đối tượng mà phải tiến hành phân bổ cho từng công trình, hạng
mục công trình theo tiêu thức phù hợp. Theo phương pháp này doanh nghiệp
18
phải tổ chức ghi chép ban đầu cho các chi phí sản xuất theo địa điểm phát
sinh chi phí. Sau đó lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ để tính toán, phân bổ chi phí
sản xuất và tập hợp cho các đối tượng liên quan một cách hợp lý nhất.
1.4. Kế toán chi phí sản xuất xây lắp dưới góc độ kế toán tài chính
1.4.1 Kế toán chi phí sản xuất xây lắp theo hướng dẫn của chuẩn mực
kế toán Việt Nam
1.4.1.1 Kế toán chi phí sản xuất xây lắp theo hướng dẫn của Chuẩn mực
kế toán số 01 “ Chuẩn mực chung”
Theo chuẩn mực này thì chi phí sản xuất được ghi nhận theo số tiền thực
tính vào chi phí xây dựng. Giá trị của TSCĐ được phân bổ một cách có hệ
thống trong thời gian sử dụng hữu ích của chúng. Các doanh nghiệp xây dựng
thường áp dụng phương pháp khấu hao đường thẳng. Theo phương pháp này,
số khấu hao hằng năm không đổi trong suốt thời gian sử dụng hữu ích. Mức
khấu hao tài sản cố định được xác định theo công thức:
Mức trích khấu hao bình
Nguyên giá TSCĐ
Thời gian sử dụng của TSCĐ
quân năm TSCĐ
1.4.1.4 Kế toán chi phí sản xuất xây lắp theo hướng dẫn của Chuẩn
=
mực kế toán số 15 “ Hợp đồng xây dựng”
Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15 “Hợp đồng xây dựng” được ban
hành và công bố theo quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002 của
Bộ trưởng Bộ tài chính nhằm quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và
phương pháp kế toán doanh thu và chi phí liên quan đến hợp đồng xây dựng,
gồm: Nội dung doanh thu và chi phí của hợp đồng xây dựng; ghi nhận doanh
thu, chi phí của hợp đồng xây dựng làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo
tài chính.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15, một số thuật ngữ được hiểu
như sau:
20
“Hợp đồng xây dựng: Là hợp đồng bằng văn bản về việc xây dựng một tài
sản hoặc tổ hợp các tài sản có liên quan chặt chẽ hay phụ thuộc lẫn nhau về mặt
thiết kế, công nghệ, chức năng hoặc các mục đích sử dụng cơ bản của chúng.
(d) Chi phí vận chuyển, lắp đặt, tháo dỡ máy móc, thiết bị và nguyên
liệu, vật liệu đến và đi khỏi công trình;
(đ) Chi phí thuê nhà xưởng, máy móc, thiết bị để thực hiện hợp đồng;
(e) Chi phí thiết kế và trợ giúp kỹ thuật liên quan trực tiếp đến hợp đồng;
(g) Chi phí dự tính để sửa chữa và bảo hành công trình;
(h) Các chi phí liên quan trực tiếp khác.
Chi phí liên quan trực tiếp của từng hợp đồng sẽ được giảm khi có các
khoản thu nhập khác không bao gồm trong doanh thu của hợp đồng. Ví dụ:
Các khoản thu từ việc bán nguyên liệu, vật liệu thừa, thu thanh lý máy móc,
thiết bị thi công khi kết thúc hợp đồng.
18. Chi phí chung liên quan đến hoạt động của các hợp đồng xây dựng
và có thể phân bổ cho từng hợp đồng, bao gồm:
(a) Chi phí bảo hiểm;
(b) Chi phí thiết kế và trợ giúp kỹ thuật không liên quan trực tiếp đến
một hợp đồng cụ thể;
(c) Chi phí quản lý chung trong xây dựng.
Các chi phí trên được phân bổ theo các phương pháp thích hợp một cách
có hệ thống theo tỷ lệ hợp lý và được áp dụng thống nhất cho tất cả các chi
phí có các đặc điểm tương tự. Việc phân bổ cần dựa trên mức thông thường
của hoạt động xây dựng. (Chi phí chung liên quan đến hoạt động của các hợp
đồng và có thể phân bổ cho từng hợp đồng cũng bao gồm chi phí đi vay nếu
thỏa mãn các điều kiện chi phí đi vay được vốn hóa theo quy định trong
Chuẩn mực "Chi phí đi vay").