BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------------------------
PHẠM PHƯƠNG THẢO
PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VIỆT NAM - CHI NHÁNH
TRUNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------------------------
PHẠM PHƯƠNG THẢO
PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VIỆT NAM - CHI NHÁNH
TRUNG YÊN
CHUYÊN NGÀNH : TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
MÃ SỐ : 60.34.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS TÔ NGỌC HƯNG
DANH MỤC BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT.........................iv
LỜI MỞ ĐẦU.................................................................................................1
Chương 1.........................................................................................................5
CƠ SỞ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG CỦA.....5
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI....................................................................5
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1............................................................................32
Chương 2.......................................................................................................33
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG TẠI .......33
AGRIBANK CHI NHÁNH TRUNG YÊN...............................................33
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2............................................................................74
Chương 3.......................................................................................................76
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG TẠI ..............76
AGRIBANK CHI NHÁNH TRUNG YÊN...............................................76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3............................................................................97
KẾT LUẬN...................................................................................................98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................99
iii
DANH MỤC BẢNG – BIỂU
1. Danh mục các bảng
Bảng 2.1. Tình hình hoạt động huy động vốn ........................................36
tại Agribank chi nhánh Trung Yên..........................................................36
Bảng 2.2. Tình hình hoạt động cho vay tại Agribank chi nhánh Trung
Yên..................................................................................................................37
Bảng 2.3. Doanh thu từ dịch vụ phi tín dụng..........................................43
Bảng 2.4. Doanh thu từ dịch vụ thanh toán............................................45
Bảng 2.5. Doanh thu phí dịch vụ bảo lãnh..............................................49
Dịch vụ phi tín dụng
DVNH
Dịch vụ Ngân hàng
NHNN
Ngân hàng nhà nước
Agribank
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Việt Nam
Agribank chi nhánh
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trung Yên
Việt Nam – Chi nhánh Trung Yên
NHTM
Ngân hàng thương mại
TTQT
Thanh toán quốc tế
Để không bị tụt hậu các Ngân hàng cần có những chuyển biến về nhận thức
cũng như hoạt động để tăng sức cạnh tranh, điển hình là việc đa dạng hóa các sản
phẩm dịch vụ.
Phát triển và đa dạng hóa dịch vụ Ngân hàng góp phần làm giảm thiểu rủi ro
đối với hoạt động kinh doanh, đồng thời nâng cao uy tín của Ngân hàng đối với
khách hàng. Sự thành công của Ngân hàng phụ thuộc vào khả năng xác định, triển
khai hiệu quả sản phẩm, dịch vụ tài chính mà xã hội đang có nhu cầu. Bởi vậy phát
triển sản phẩm dịch vụ Ngân hàng có ý nghĩa hết sức to lớn.
Trước tình hình trên, Agribank chi nhánh Trung Yên đã và đang thực hiện
nhiều giải pháp để phát triển, đa dạng hoá và nâng cao chất lượng các dịch vụ Ngân
hàng, trong đó chú trọng là các dịch vụ phi tín dụng (DVPTD) nhằm đáp ứng nhu
cầu ngày càng tăng của khách hàng. Tuy nhiên, so với tiềm năng và yêu cầu thì còn
nhiều bất cập, nổi lên là phát triển các loại DVPTD còn hạn chế chưa thoả mãn
được nhu cầu của khách hàng ngày càng cao. Điều đó đòi hỏi phải được nghiên cứu
có hệ thống, đầy đủ vấn đề này để chỉ ra những kết quả cần phát huy, những tồn tại
cần khắc phục thông qua đề xuất các giải pháp và kiến nghị khả thi nhất.
2
Từ cơ sở lý thuyết và thực tiễn nêu trên, tác giả chọn đề tài: "Phát triển dịch
vụ phi tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam –
Chi nhánh Trung Yên" làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề nghiên cứu về phát triển DVPTD là rất cần thiết nhưng còn khá mới
mẻ, nên các đề tài nghiên cứu và hội thảo chuyên đề về phát triển DVPTD còn ít và
mang tính sơ khai; hầu hết mới chỉ ở dạng hội thảo, hoặc báo cáo nội bộ của các
NHTM. Do đó, việc tìm ra giải pháp phát triển dịch vụ phi tín dụng là vấn đề có ý
nghĩa quan trọng mang tính chiến lược đối với hoạt động của các NHTM Việt Nam.
Phát triển dịch vụ ngân hàng đã được một số nhà kinh tế quan tâm và nghiên cứu.
nhánh Trung Yên trong giai đoạn từ năm 2013 đến 31/12/2015, từ đó đề xuất giải
pháp phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Agribank chi nhánh Trung Yên.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp từ số liệu thu thập được để
đánh giá phát triển DVPTD của Agribank chi nhánh Trung Yên.
6. Ý nghĩa về lý luận và thực tiễn
- Về lý luận: Luận văn đã phân tích dịch vụ Ngân hàng, đặc điểm của dịch vụ
Ngân hàng, DVPTD của NHTM. Dựa trên những lý luận về phát triển DVPTD luận
văn đã đưa ra những quan điểm riêng về khái niệm DVPTD, những điều kiện và
nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển DVPTD, từ đó đã xây dựng được hệ thống các
chỉ tiêu định lượng và định tính đánh giá sự phát triển của DVPTD. Những vấn đề
này được luận văn giải quyết đầy đủ, khá sâu sắc và có thể coi đây là một trong
những đóng góp mới cho phần lý luận của đề tài.
- Về thực tiễn: Luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng phát triển DVPTD
tại Agribank chi nhánh Trung Yên trên các khía cạnh: Về cơ cấu và quy mô phát
triển DVPTD, về các loại DVPTD chủ yếu, luận văn rút ra một số kết quả đạt được,
hạn chế và nguyên nhân. Đây có thể coi là một trong những đóng góp mới cho phần
thực tiễn của luận văn. Đây là tài liệu quan trọng giúp Ban Giám Đốc Agribank chi
nhánh Trung Yên trong việc xây dựng chiến lược và tổ chức thực hiện việc phát
triển DVPTD có hiệu quả.
- Về giải pháp: Từ việc nghiên cứu phần lý luận ở chương 1 và phân tích phần
thực trạng ở chương 2, luận văn đã đề xuất 5 nhóm giải pháp cũng như một số kiến
nghị. Một số nhóm giải pháp có tính thực tiễn cao, có thể coi là điểm mới của luận văn
4
như : Xây dựng quy trình quản lý phát triển dịch vụ; Hoàn thiện DVPTD đã có;…
7. Kết cấu luận văn
một giá trị nào đó. Giá trị của dịch vụ gắn liền với lợi ích mà người tiêu dùng dịch
vụ nhận được.
Toàn thể những nhà cung cấp dịch vụ hợp thành khu vực thứ ba của nền kinh
tế. Có nhiều ngành dịch vụ như thương mại, du lịch, khách sạn, tài chính, ngân
hàng… Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho công chúng
và doanh nghiệp. Dịch vụ ngân hàng thương mại được hiểu là toàn bộ các hoạt động
mà một ngân hàng có thể tạo ra nhằm cung cấp làm thoả mãn nhu cầu của khách
hàng về dịch vụ tiền tệ, tài chính, góp phần trực tiếp hoặc gián tiếp làm tăng thu
nhập của ngân hàng. Với định nghĩa trên có thể hiểu tất cả các hoạt động của ngân
hàng thương mại nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng đều là dịch vụ.
6
Hiện nay chưa có định nghĩa trực tiếp DVPTD của ngân hàng thương mại là gì,
tuy nhiên ta có thể định nghĩa DVPTD thông qua dịch vụ tín dụng. Theo luật các Tổ
chức tín dụng Việt Nam, những hoạt động được coi là hoạt động tín dụng bao gồm:
- Cho vay;
- Bảo lãnh;
- Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác;
- Phát hành thẻ tín dụng;
- Bao thanh toán trong nước; bảo lãnh bao thanh toán quốc tế đối với các ngân
hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế;
- Các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.
Như vậy, những dịch vụ không phải là dịch vụ tín dụng thì sẽ là DVPTD.
DVPTD là các dịch vụ mà ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng
mà không phải là dịch vụ tín dụng. Hay DVPTD là loại dịch vụ mà khi được ngân
hàng thương mại cung cấp cho khách hàng thì không làm phát sinh việc cấp và thu
hồi vốn (tiền mặt hoặc tài sản) đối với khách hàng. Các DVPTD của ngân hàng
thương mại mang lại nguồn thu nhập từ các khoản phí, hoa hồng, chênh lệch giá
càng cao, số lượng giao dịch sẽ ngày càng nhiều, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
- Các DVPTD hiện nay ngày một đa dạng, do công nghệ ngày càng phát triển
và yêu cầu khách hàng ngày càng tăng cao. Do đó, trong hệ thống ngân hàng
thương mại hiện nay có rất nhiều sản phẩm DVPTD để khách hàng lựa chọn. Mỗi
ngân hàng có các DVPTD giống hoặc khác nhau, với cách thức phục vụ khác nhau.
- Vì phát triển DVPTD dựa trên phát triển về công nghệ nên đem lại thuận tiện
cho khách hàng. Khách hàng có thể giao dịch trực tiếp với ngân hàng, hoặc có thể ở
nhà truy cập vào hệ thống để thực hiện các giao dịch như: internet banking, SMS
banking… Đây là các dịch vụ mang tính đột phá của ngân hàng, góp phần giảm bớt
lượng giao dịch tại quầy, thuận tiện cho khách hàng, từ đó ngân hàng tiến tới phát
triển hệ thống ngân hàng điện tử.
1.1.2. Các loại hình dịch vụ phi tín dụng chủ yếu của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Phân loại dịch vụ phi tín dụng
* Nếu căn cứ vào đối tượng khách hàng thì các DVNH được phân thành 2
loại: DVNH cho khách hàng cá nhân, DVNH cho khách hàng doanh nghiệp. Trong
mỗi loại hình dịch vụ cho từng loại đối tượng khách hàng lại được chia ra nhiều loại
khác nhau phù hợp với nghiệp vụ hoạt động. Chẳng hạn:
8
- Dịch vụ cho khách hàng cá nhân, có nhiều loại hình dịch vụ: Thẻ séc; Tín dụng
mở; Thẻ tín dụng; Máy rút tiền tự động (ATM); DVNH tại nhà; Các dịch vụ lữ hành;
Mua trả góp; Quản lý đầu tư cho khách hàng; Dịch vụ bảo quản và ký gửi; Điều tra
thân thế khách hàng; Bảo hiểm; Dịch vụ quản lý tín khác; Dịch vụ về thuế,.....
- DVNH cho khách hàng doanh nghiệp:
+ Hầu hết các ngân hàng bán lẻ lớn đều có các dịch vụ chuyên môn dành cho
khách hàng doanh nghiệp... Có 7 loại hình dịch vụ cơ bản: Dịch vụ bảo lãnh; Dịch
vụ chuyển tiền; Dịch vụ đối ngoại; Dịch vụ đầu tư; Dịch vụ bảo hiểm; Dịch vụ kế
toán; Dịch vụ tư vấn.
hợp đã có thỏa thuận trước bằng văn bản.
- Dịch vụ thanh toán quốc tế truyền thống là việc thực hiện chi trả bằng tiền
liên quan đến các dịch vụ thương mại giữa các tổ chức và cá nhân nước này với các
tổ chức cá nhân nước khác hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế thông qua
quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan. Dịch vụ thanh toán quốc tế
truyền thống bao gồm các dịch vụ chuyển tiền, nhờ thu, tín dụng chứng từ (L/C):
+ Chuyển tiền: Đây là hình thức thanh toán mà người mua yêu cầu ngân hàng
phục vụ mình trích một số tiền nhất định để trả cho người bán vào một thời điểm
nhất định (có thể trả trước, trả sau hoặc trả một phần trước). Để thực hiện chuyển
tiền thì ngân hàng chuyển tiền phải thông qua đại lý của mình tại nước ngoài.
Phương thức chuyển tiền có thể thực hiện bằng hai cách: Chuyển tiền bằng điện,
chuyển tiền bằng thư.
+ Nhờ thu: Là hình thức thanh toán mà trong đó người bán sau khi giao hàng
cho người mua sẽ tiến hành ký phát hối phiếu nhờ ngân hàng thu hộ tiền ở người
mua. Phương thức nhờ thu gồm nhờ thu phiếu trơn và nhờ thu kèm chứng từ.
Trong các phương thức thanh toán quốc tế, phương thức tín dụng chứng từ là
phương thức được sử dụng phổ biến nhất, nó đảm bảo quyền lợi cho cả người xuất
khẩu và người nhập khẩu. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả phương thức tín
dụng chứng từ được xếp vào dịch vụ tín dụng.
- Dịch vụ bảo lãnh:
Theo luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Bảo lãnh là hình thức cấp tín dụng,
theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ
thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện
hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và
10
hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận Như vậy bảo lãnh ngân hàng chính là
việc ngân hàng cam kết sẽ thanh toán cho bên thụ hưởng của hợp đồng khoản đền
* Đặc điểm của nhóm dịch vụ phi tín dụng truyền thống
Các sản phẩm thuộc nhóm phi tín dụng truyền thống đã có từ lâu đời, thường
được thực hiện thủ công, tiêu hao nhiều thời gian, sức người và đầu tư nhiều công
cụ dụng cụ. Vì vậy, để thực hiện tốt công việc, cán bộ Ngân hàng đòi hỏi phải có
một trình độ chuyên môn nhất định, cũng như kỹ năng kiểm đếm tiền, lưu giữ
chứng từ phải tốt.
Kể từ khi cách mạng công nghệ thông tin bùng nổ, các ngân hàng trên thế giới
đã áp dụng khoa học kỹ thuật để tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời gian, nâng
cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng. Nhiều nước tiên tiến trên thế giới
hiện nay đã thay thế hoàn toàn lao động thủ công trong các dịch vụ bằng công nghệ
hiện đại.
1.1.2.3 . Nhóm dịch vụ phi tín dụng hiện đại
* Các loại dịch vụ phi tín dụng hiện đại
- Thẻ:
Thẻ thanh toán là một hình thức thanh toán không dùng tiền mặt mà chủ thẻ có
thể sử dụng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý, các máy rút tiền tự động, hoặc
thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thẻ. Dựa vào tính chất về
số dư trên tài khoản thẻ, người ta phân thành 2 loại thẻ: Thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng.
+ Thẻ ghi nợ là loại thẻ rất phổ biến. Đây là loại thẻ mà khách hàng nạp tiền
trước vào tài khoản thẻ để rút tiền hoặc thanh toán tại các máy ATM hoặc các
cơ sở chấp nhận thẻ trong phạm vi số tiền có trên tài khoản thẻ. Mặc dù thẻ ghi nợ
có thể được đặt nhiều tên khác nhau tuỳ vào các ngân hàng nhưng bản chất
vẫn là ghi Có trước, ghi Nợ sau, tức là khách hàng chỉ được sử dụng trong phạm vi số
tiền mình đã nạp vào thẻ. Vì vậy đối tượng sử dụng thẻ ghi nợ rất rộng rãi.
+ Thẻ tín dụng là loại thẻ mà khách hàng có thể thanh toán vượt quá số
tiền đã nạp vào tài khoản thẻ. Số tiền vượt quá đó được coi như một món vay của
khách hàng đối với ngân hàng, và hàng tháng khách hàng sẽ bị trừ lãi. Do đó, thẻ
tín dụng không là đối tượng nghiên cứu trong phạm vi luận văn này.
+ Môi giới toàn dịch vụ tức là ngân hàng có thể cung cấp đầy đủ các dịch vụ
có liên quan đến chứng khoán cho khách hàng như: đại diện cho khách hàng của
13
mình để thương lượng mua bán chứng khoán sao cho có lợi cho thân chủ hoặc thay
mặt cho khách hàng giải quyết mọi vấn đề có liên quan tuỳ theo sự uỷ nhiệm của
khách hàng như quyết đoán trong việc mua bán chứng khoán hộ cho họ mà không
cần phải thông báo cho họ biết là đã mua và bán chứng khoán cho ai.
+ Môi giới bán phần dịch vụ là ngân hàng chỉ cung cấp một số ít dịch vụ chủ
yếu là thương lượng mua bán chứng khoán hộ khách hàng.
- Dịch vụ bảo hiểm
Các ngân hàng cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho tất cả các khách hàng thông
qua các công ty con hoặc thông qua các nhà môi giới bảo hiểm của mình. Bên cạnh
các sản phẩm bảo hiểm đặc biệt cho các doanh nghiệp như bảo hiểm tổn thất lợi
nhuận ( bảo hiểm về hoả hoạn, trộm cắp, lũ lụt…), bảo hiểm tín dụng, bảo hiểm
trách nhiệm, các ngân hàng còn có bảo hiểm dành cho khách hàng cá nhân như bảo
hiểm nhân thọ, bảo hiểm lữ hành, bảo hiểm những đồ vật trong nhà…
- Ngân hàng điện tử
Dịch vụ ngân hàng điện tử được giải thích như là khả năng của một khách
hàng có thể truy cập từ xa vào một ngân hàng nhằm: thu thập các thông tin, thực
hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các khoản lưu ký tại ngân hàng đó
và đăng ký sử dụng các dịch vụ mới. Đây là khái niệm rộng dựa trên khả năng của
từng ngân hàng trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các sản phẩm dịch vụ
của mình. Nói cách khác, ngân hàng điện tử là một hệ thống phần mềm vi tính cho
phép khách hàng tìm hiểu hay mua dịch vụ ngân hàng thông qua việc kết nối mạng
vi tính của mình với ngân hàng.
Với sự phát triển của công nghệ mạng ngày nay các khách hàng của
ngân hàng có thể sử dụng dịch vụ ngân hàng ngay tại nhà mình thông qua
mô, số lượng DVPTD đã có và phát triển thêm DVPTD mới trước tiên xuất phát từ
nhu cầu của khách hàng, sức ép của đối thủ cạnh tranh, từ yêu cầu mở rộng danh
mục DVNH để tăng lợi nhuận. Việc Việc tăng quy mô, số lượng DVPTD cho phép
NH đa dạng hóa danh mục dịch vụ, mở rộng lĩnh vực kinh doanh. Nó giúp NH thỏa
mãn được những nhu cầu mới phát sinh của khách hàng. Từ đó, NH vừa duy trì
được khách hàng cũ, đồng thời thu hút thêm khách hàng mới. Việc tăng trưởng quy
mô phát triển DVPTD còn góp phần quan trọng vào việc nâng cao hình ảnh và sức
15
cạnh tranh của NHTM trên thị trường. Có thể hiểu phát triển DVPTD mới là những
DVPTD lần đầu tiên được đưa vào danh mục dịch vụ kinh doanh của NHTM. Theo
cách hiểu này, DVPTD mới được chia thành hai loại: Thứ nhất: DVPTD mới hoàn
toàn là những DVPTD mới đối với NH và thị trường. Khi đưa ra thị trường loại
dịch vụ này, NH không phải đối mặt với cạnh tranh nên có thể đem lại nguồn thu
nhập lớn cho NH. Tuy nhiên, NH chủ động trong việc đưa ra các biện pháp để hạn
chế những rủi ro trong đầu tư vốn lớn, thiếu kinh nghiệm và khách hàng chưa quen
sử dụng dịch vụ mới này. Thứ hai: DVPTD mới về chủng loại (dịch vụ sao chép) là
DVPTD chỉ mới đối với NH, không mới so với thị trường. Loại DVPTD mới này
đã có sự cạnh tranh trên thị trường. Thu nhập tiềm năng có thể bị giảm do dịch vụ bị
cạnh tranh. Tuy nhiên, phát triển DVPTD mới loại này NH có thể tận dụng được lợi
thế của người đi sau, sẽ tránh được những sai lầm của người đi trước. Vì vậy phát
triển DVPTD mới loại này được coi là trọng tâm của xu thế phát triển DVPTD mới
của các NHTM hiện nay.
Mặc dù các thuộc tính cơ bản của một DVPTD được xác định ngay từ khi hình
thành, nhưng để duy trì và phát triển, DVPTD phải được bổ sung các thuộc tính
mới, những thay đổi đó được thực hiện trong giai đoạn đầu khi DVPTD mới xâm
nhập thị trường trên cơ sở những phản hồi từ phía khách hàng. Như vậy: Phát triển
về chất lượng DVPTD, có nghĩa là hoàn thiện DVPTD đã có, nó gắn liền với việc
thống trong nước và quốc tế, với rất nhiều dịch vụ vì thế các giao dịch trong và
ngoài nước ngày càng thuận lợi, thúc đẩy giao thương giữa các nước, từ đó thúc đẩy
kinh tế phát triển
* Tạo điều kiện cho quá trình lưu thông hàng hóa, tiền tệ
Các DVPTD của ngân hàng hầu hết được sử dụng dựa trên mạng giao dịch
điện tử hiện đại, giúp cho việc chuyển tiền nhanh chóng, thuận tiện. Các doanh
nghiệp, cá nhân ở xa có thể giao dịch với nhau không cần dùng tiền mặt, và sử dụng
chứng từ chuyển tiền của ngân hàng làm căn cứ để chuyển hàng. Vì thế người bán
có thể sớm thu hồi vốn để tiếp tục quay vòng vốn, người mua không cần phải giao
tiền tận tay mà vẫn mua được hàng. Như vậy, sự phát triển của DVPTD nói riêng và
hệ thống ngân hàng nói chung đã tạo điều kiện cho quá trình mua bán hàng hóa, lưu
thông tiền tệ giữa các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức.
1.2.2.2. Đối với Ngân hàng thương mại
Với tình hình cạnh tranh gay gắt như hiện nay, các DVPTD đã trở thành một
trong những công cụ chủ yếu để các ngân hàng nâng cao sức cạnh tranh. Đối với
17
ngân hàng thương mại, DVPTD có các vai trò như:
* Tăng doanh thu cho ngân hàng
Hiện nay, mục tiêu hoạt động hàng tháng, quý, năm của ngân hàng không chỉ là
tăng nguồn thu từ tín dụng mà còn tăng cả doanh thu dịch vụ. Trước đây, nguồn thu
chủ yếu của ngân hàng là thu từ lãi tiền vay của hoạt động tín dụng. Tuy nhiên với
tình hình tín dụng phức tạp, nợ xấu cao cùng với chính sách tiền tệ thắt chặt như hiện
nay, ngân hàng không thể chỉ dựa vào nguồn thu tín dụng mà còn phải đẩy mạnh các
nguồn thu từ phí DVPTD. Đặc biệt với nhu cầu của khách hàng ngày càng lớn, doanh
thu từ phí dịch vụ sẽ tăng cao, góp phần tăng doanh thu cho ngân hàng.
* Nâng cao tính cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại
Để đáp ứng được nhu cầu của thị trường, các ngân hàng thương mại đã và
lợi, khách hàng muốn giao và nhận hàng cũng đỡ phải đi lại thanh toán trực tiếp với
nhau, từ đó giảm chi phí đi lại cho khách hàng.
* Tiết kiệm thời gian
Nhờ có các dịch vụ chuyển tiền, khách hàng có thể tiết kiệm thời gian đi lại
giao dịch với bạn hàng, từ đó giúp khách hàng đẩy nhanh hoạt động kinh doanh,
cũng như thúc đẩy giao thương giữa các vùng miền, các nước. Với công nghệ ngày
càng hiện đại, hệ thống mạng được nâng cấp khiến các hoạt động giao dịch cũng trở
nên nhanh chóng, giảm bớt thời gian chờ đợi của khách hàng.
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển dịch vụ phi tín dụng
1.2.3.1. Chỉ tiêu định tính
* Chất lượng, các tiện ích của DVPTD
Chất lượng cũng như các tiện ích của DVPTD cũng đánh giá sự phát triển của
DVPTD. DVPTD có chất lượng tốt sẽ thu hút được sự quan tâm của nhiều khách
hàng, từ đó ngân hàng sẽ nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu của khách hàng để nâng
cao hơn nữa chất lượng của sản phẩm. Một dịch vụ được coi là tốt nếu nó đáp ứng
được các yêu cầu của khách hàng, mang lại sự tiện lợi và hài lòng cho khách hàng
khi giao dịch. Chất lượng của dịch vụ có thể được đánh giá qua: số lượng khách
hàng sử dụng dịch vụ, mức độ hài lòng của khách hàng, thời gian phục vụ ngắn
nhưng chính xác, mức phí dịch vụ…. Chất lượng đóng vai trò hết sức quan trọng,
bởi chất lượng không chỉ là điều kiện cho ngân hàng thu hút khách hàng trong thời
19
gian hiện tại mà là nền tảng phát triển những dịch vụ mới của ngân hàng.
* Năng lực cạnh tranh của DVPTD
Cùng với sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại là sự gia tăng các
loại sản phẩm dịch vụ. Càng ngày càng có nhiều loại DVPTD mới ra đời, khiến cho
các ngân hàng phải chạy đua để sản phẩm của mình giành được một vị thế nhất
định. Dịch vụ nào có tính cạnh tranh cao thì càng có cơ hội phát triển. Vì thế, để