1
ĐỒ
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------
THỊ
NG
ÂN
LU
ĐỒNG THỊ NGÂN
ẬN
VĂ
N
TH
PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY
ẠC
TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
SĨ
NG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------
THỊ
NG
ÂN
ĐỒNG THỊ NGÂN
LU
ẬN
VĂ
PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY
N
TH
TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
ẠC
CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI - CHI NHÁNH TÂY HỒ
SĨ
KIN
CHUYÊN NGÀNH : TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Đồng Thị Ngân, Học viên lớp CH21A-TCNH. Tôi xin cam đoan bài
luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi. Nếu tôi có bất cứ hành vi gian lận
nào thì tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường.
Học viên
Đồng Thị Ngân
6
MỤC LỤC
7
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
BẢNG
BIỂU ĐỒ
SƠ ĐỒ
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TỪ VIẾT TẮT
MB
CBCNV
TCTD
CVTD
DNCVTD
DSCVTD
NH
rộng cho vay tiêu dùng nhằm phát triển dịch vụ mới mẻ và đầy tiềm năng này.
Trước đây, người dân phải mất rất nhiều thời gian để góp tiền mua một ngôi nhà
hay một chiếc xe ô tô thì ngày nay, với sự phát triển của dịch vụ cho vay tiêu dùng,
người dân có thể tiếp cận dịch vụ này một cách dễ dàng và nhanh chóng. Năng
động nhất là các ngân hàng thương mại cổ phần liên tục đưa ra những sản phẩm tiện
ích như: Cho vay siêu tốc, đăng ký vay qua mạng internet, lãi suất cho vay hấp dẫn,
kì hạn vay dài, cho vay tới 80% giá trị ngôi nhà hay xe ô tô…Đặc biệt trong những
năm gần đây, trong bối cảnh hậu khủng hoảng, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, tín
dụng tăng trưởng chậm, việc cho vay các doanh nghiệpbị hạn chế đã thúc đẩy nhiều
ngân hàng thương mại chuyển sang hướng mở rộng dịch vụ cho vay tiêu dùng.
Chính vì vậy, mở rộng cho vay tiêu dùng là xu thế tất yếu của các ngân hàng thương
mại Việt Nam nói chung và MB nói riêng trong thời gian tới.
Được sự chỉ đạo của MB, trong những năm qua, MB -chi nhánh Tây Hồ đã
triển khai dịch vụ cho vay tiêu dùng và đạt được những kết quả bước đầu, tỷ trọng
cho vay tiêu dùng trong tổng dư nợ liên tục có xu hướng gia tăng từ năm 2013là
10.7% lên 12.75% vào năm 2015. Bên cạnh đó, hoạt động cho vay tiêu dùng tại Chi
nhánh vẫn còn tồn tại những hạn chế, đòi hỏi tiếp tục nghiên cứu những giải pháp
để hoàn thiện và phát triển.
9
Chính vì những lý do đó và cùng với sự phân tích tính cấp thiết về mặt lý luận,
cũng như thực tế tại Chi nhánh MB Tây Hồ, tôi đã quyết định chọn đề tài“Phát
triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân
Đội-Chi nhánh Tây Hồ”để nghiên cứu.
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây cũng đã có nhiều công trình nghiên
cứu trên các khía cạnh và phạm vi khác nhau về phát triển hoạt động cho vay tiêu
dùng của các NHTM. Có thể nêu một số công trình sau đây :
Luận văn thạc sỹ về đề tài: “Phát triển dịch vụ cho vay tiêu dùng tại Ngân
Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm đề xuất các giải pháp phù hợp, khả thi
giúp NHTM cổ phần Quân Đội, chi nhánh Tây Hồ phát triển dịch vụ cho vay tiêu
-
dùng trong những năm tới.
Để đạt được mục đích đó, các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể của luận văn là:
Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động cho vay tiêu dùng
và phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng của các NHTM, các kinh nghiệm quốc tế
-
trong phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng của các NHTM.
Đánh giá đúng thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng của MB Tây Hồ trong những
-
năm gần đây. Các kết quả đạt được và những hạn chế, tồn tại, nguyên nhân của nó.
Đề xuất các giải pháp phát triển hơn nữa hoạt động cho vay tiêu dùng tại MB Tây
Hồ.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, đối
chiếu lý luận với thực tiễn, diễn giải, tổng hợp...trên cơ sở phương pháp luận duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét đánh giá, giải quyết các vấn đề đặt ra
1.5
trong đề tài nghiên cứu
nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi huy động được từ trong xã hội (quỹ cho vay) để đáp
ứng nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống.
Cho vay là quyền của NHTM với tư cách người cho vay (chủ nợ) yêu cầu khách
hàng của mình - người đi vay- muốn vay được vốn phải tuân thủ những điều kiện
nhất định, những điều kiện này là cơ sở ràng buộc về pháp lý đảm bảo cho người
cho vay có thể thu hồi được vốn (cả gốc và lãi) sau một thời gian nhất định. Để thu
hồi vốn, các ngân hàng có quyền yêu cầu người đi vay đáp ứng những điều kiện vay
cụ thể dựa trên cơ sở mức độ tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau và uy tín khách hàng.
Mặt khác, cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở
hữu (NHTM) sang người sử dụng (người vay– khách hàng), sau một thời gian nhất
định, lại quay về với lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu, hay nói cách khác, cho
vay là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể (NHTM và người vay), trong đó một
bên (NHTM) chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia (người vay) sử dụng trong
một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn
(gốc và lãi) cho bên cho vay vô điều kiện theo thời hạn thỏa thuận.
Qua khái niệm trên cho thấy, bản chất của cho vay là một giao dịch về tiền
hoặc tài sản trên cơ sở có hoàn trả, mà thực chất là sự vay mượn dựa trên cơ sở tin
tưởng, tín nhiệm lẫn nhau. Trong đó, sự hoàn trả là đặc trưng thuộc về bản chất của
cho vay, là nguyên tắc để phân biệt phạm trù cho vay với cấp phát của Ngân sách
Nhà nước.
Ở Việt Nam, theo Quyết định số 1627/2001/QĐ – NHNN ngày 31/12/2001
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành Quy chế cho vay
của tổ chức tín dụng đối với khách hàng “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng,
13
theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng
vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả
gốc và lãi”
1.1.2. Khái niệm cho vay tiêu dùng
1.1.3. Đối tượng và đặc điểm cho vay tiêu dùng
1.1.3.1 Đối tượng cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của
người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là một nguồn tài chính quan
trọng giúp khách hàng vay trang trải nhu cầu tiêu dùng trước trước khi tích lũy tiết
kiệm đủ cho một khoản tiêu dùng như nhu cầu mua nhà ở, mua sắm đồ dùng gia
đình, xe cộ, đóng tiền học phí, chi phí y tế, du lịch...
Thông thường, đối tượng khách hàng vay của cho vay tiêu dùng là những cá
nhân có thu nhập tương đối ổn định.
1.1.3.2 Đặc điểm cho vay tiêu dùng
Nhìn chung, hoạt động cho vay tiêu dùng của các ngân hàng thường có những
đặc điểm sau:
-
Các khoản cho vay tiêu dùng thường có tính chu kỳ
Các khoản cho vay tiêu dùng thường chịu ảnh hưởng lớn từ nhu cầu của
khách hàng, mà nhu cầu của khách hàng thường có tính chu kỳ. Thật vậy, cho vay
tiêu dùng sẽ tăng lên trong thời kỳ kinh tế phát triển, khi mà người dân có cuộc
sống no đủ hơn, có mức thu nhập cao và ổn định hơn, tình hình kinh tế xã hội đầy
lạc quan và ngược lại, trong thời kỳ kinh tế suy thoái, rất nhiều hộ gia đình và cá
nhân sẽ cảm thấy không mấy tin tưởng vào tương lai, nhất là khi xu hướng thất
nghiệp gia tăng, thu nhập của họ giảm xuống thì việc vay mượn ngân hàng sẽ được
hạn chế đi, đặc biệt là các khoản vay dành cho chi tiêu.
-
Các khoản cho vay tiêu dùng có chi phí lớn.
Thực tế cho thấy quy mô của hầu hết các khoản CVTD là không lớn, nhưng
thời gian vay kéo dài lâu và số lượng các món vay lại nhiều. Hơn nữa, các thông tin
về cá nhân thường không đầy đủ và chính xác hoàn toàn. Điều này khiến cho ngân
mạnh, khi đó khách hàng khó có thể trả nợ được. Vì thế, mà các ngân hàng thường
yêu cầu khách hàng phải có tài sản đảm bảo khi vay.
-
Khách hàng đa dạng về mức thu nhập và trình độ học vấn
Đây là một đặc điểm khá nổi bật của CVTD, bởi vì khách hàng là cá nhân.
Mỗi cá nhân có trình độ học vấn và thu nhập khác nhau. Từ những người cán bộ
công chức có thu nhập ổn định, cho đến những người thất nghiệp họ cũng có thể
vay được của ngân hàng, chỉ cần có đầy đủ giấy tờ pháp lý chứng minh được rằng
họ đang làm việc chính thức cho một doanh nghiệp, một cơ quan, hay một tổ chức
nào đó được hưởng lương là có thể dễ dàng vay tiền cho mua sắm đồ cưới, mua xe
máy, trang bị đồ dùng đắt tiền trong nhà, thậm chí là mua xe hơi và mua nhà đất…
Những người khác, tuy không có bảng lương và quyết định tuyển dụng, nhưng có
tài sản đảm bảo thì có thể vay tiền cho con em học nghề, đi du học, cho người thân
đi chữa bệnh hay đi du lịch ở nước ngoài.
16
1.1.4. Phân loại cho vay tiêu dùng
Hoạt động CVTD ngày càng được các ngân hàng chú trọng phát triển hơn.
Các sản phẩm, dịch vụ CVTD không những đa dạng và phong phú về số lượng mà
chất lượng cũng được nâng cao nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Có
rất nhiều tiêu chí để phân loại CVTD như:Căn cứ vào mục đích vay, căn cứ vào
hình thức đảm bảo tiền vay, căn cứ theo thời hạn vay, căn cứ vào mức độ tín nhiệm
với khách hàng, căn cứ vào phương thức hoàn trả, hoặc vào nguồn gốc trả nợ...Mỗi
tiêu chí phân loại sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về hoạt động CVTD. Cụ thể như sau:
1.1.4.1 Căn cứ vào mục đích vay
Theo mục đích sử dụng tiền vay của khách hàng, có thể chia CVTD thành hai
loại, đó là cho vay tiêu dùng bất động sản và cho vay tiêu dùng thông thường.
thời khách hàng phải chuyển toàn bộ giấy tờ sở hữu tài sản cho ngân hàng.
+ Cho vay có tài sản đảm bảo khác: Đối với hình thức vay này thì tài sản đảm
bảo không phải là tài sản được hình thành từ khoản tín dụng ngân hàng cấp cho
khách hàng, mà là các tài sản thuộc sở hữu của khách hàng. Có thể phân loại hình
thức này làm hai loại đó là cho vay thế chấp và cho vay cầm cố.
1.1.4.3 Căn cứ theo thời hạn vay
Căn cứ theo thời hạn vay thì CVTD bao gồm cho vay tiêu dùng ngắn hạn, cho
vay tiêu dùng trung hạn và cho vay tiêu dùng dài hạn.
- Cho vay tiêu dùng ngắn hạn: Đây là khoản tín dụng có khoảng thời gian
ngắn, thường dưới 1 năm. Khoản tín dụng này thường đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
ngắn hạn của khách hàng.
- Cho vay tiêu dùng trung hạn: Đây là khoản tín dụng tiêu dùng có thời hạn
dài hơn, thường từ 1 đến 5 năm. Khoản tín dụng này nhằm đáp ứng cho nhu cầu
tiêu dùng trụng hạn của khách hàng như vay mua xe máy, vay sửa nhà...
- Cho vay tiêu dùng dài hạn:Là khoản tín dụng dài hạn, thường trên 5 năm.
Nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng dài hạn của khách hàng như mua xe ô tô, vay mua
nhà, xây nhà...
1.1.4.4 Căn cứ vào phương thức hoàn trả
Theo tiêu thức này thì cho vay tiêu dùng được chia làm ba loại đó là, cho vay
tiêu dùng trả góp, cho vay tiêu dùng trả một lần và cho vay tiêu dùng tuần hoàn.
18
- Cho vay tiêu dùng trả góp: Là phương thức cho vay, trong đó người đi vay
trả nợ gốc cho ngân hàng làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Cho
vay trả góp thường áp dụng cho các khoản vay trung và dài hạn nhằm tài trợ cho
các khoản vay mang tính chất dài hạn. Ngân hàng thường cho vay trả góp đối với
khách hàng thông qua hạn mức nhất định. Ngân hàng sẽ thanh toán cho người bán
lẻ về số hàng hóa mà khách hàng đã mua trả góp. Các cửa hàng bán lẻ nhận ngay
tiền sau khi bán hàng từ phía ngân hàng và làm đại lý thu tiền cho ngân hàng hoặc
các doanh nghiệp bán hàng hoặc làm các dịch vụ mà không tiếp xúc trực tiếp với
khách hàng. Ngân hàng và các công ty bán lẻ ký hợp đồng mua bán nợ. Trong hợp
đồng, ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng mà doanh nghiệp được bán
chịu, số tiền bán chịu tối đa, loại tài sản bán chịu. Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký
kết hợp đồng mua bán chịu hàng hóa. Thường thì người tiêu dùng phải trả trước một
phần giá trị tài sản.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp có ưu điểm là tạo điều kiện cho ngân hàng thương
mại dễ dàng mở rộng và tăng doanh số tiêu dùng. Các ngân hàng thương mại sẽ tiết
kiệm được chi phí khi cho vay. Đây là cơ sở để mở rộng quan hệ với khách hàng và
tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động khác của ngân hàng.
Tuy nhiên, CVTD gián tiếp cũng bộc lộ một số hạn chế như ngân hàng không
tiếp xúc trực tiếp với khách hàng trước khi cho vay mà chỉ được biết thông tin qua
công ty bán lẻ. Thiếu sự kiểm soát của ngân hàng khi công ty bán lẻ bán chịu hàng
hóa, đặc biệt là trong việc lựa chọn khách hàng. Các công ty bán lẻ không có
chuyên môn sâu để lựa chọn khách hàng một cách chi tiết, chính xác dẫn đến rủi ro
cho ngân hàng. Vì vậy, các ngân hàng khi cho vay theo hình thức gián tiếp thường
có những cơ chế quản lý chặt chẽ đối với doanh nghiệp bán lẻ.
NGÂN HÀNG
CÔNG TY BÁN LẺ
KHÁCH HÀNG VAY- NGƯỜI TIÊU DÙNG
(1)
(4)
(5)
(6)
(2)
(3)
KHÁCH HÀNG VAYNGƯỜI TIÊU DÙNG
21
(3)
(1)
(5)
(2)
(4)
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ cho vay tiêu dùng trực tiếp
(1) Ngân hàng và người tiêu dùng ký kết hợp đồng vay.
(2) Người tiêu dùng trả trước một phần tiền mua tài sản cho các công ty bán lẻ.
(3) Ngân hàng thanh toán số tiền mua tài sản còn thiếu cho công ty bán lẻ.
(4) Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
(5) Người tiêu dùng thanh toán số tiền vay cho ngân hàng.
1.1.5. Quy trình cho vay tiêu dùng cá nhân
Hoạt động cho vay cũng là thuộc hoạt động tín dụng, vì thế, quy trình cho vay
phải đảm bảo được các bước của một quy trình tín dụng. Sau đây người viết xin đưa
ra các bước căn bản của một quy trình tín dụng như sau:
Bước 1: Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng (xin vay): Là khâu căn bản đầu tiên
của qui trình tín dụng, nó được thực hiện ngay sau khi cán bộ tín dụng tiếp xúc với
khách hàng có nhu cầu vay vốn. Tùy theo quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng,
loại tín dụng yêu cầu và qui mô tín dụng, cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng lập
hồ sơ với những thông tin yêu cầu khác nhau.
CVTD đã kích cầu cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoàn thành
kế hoạch sản xuất kinh doanh…làm cho sản xuất ngày càng phát triển, sản phẩm
hàng hóa dịch vụ làm ra ngày càng nhiều, đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của
xã hội. Và có sự tác động trở lại với năng suất, sản lượng tăng thì doanh nghiệp sẽ
mở rộng lao động, nâng cao tiền công, tiền lương tăng thu nhập cho người lao động
chính là những khách hàng vay tiêu dùng của ngân hàng. Chính nhờ đó mà góp
phần làm ổn định thị trường giá cả trong nước, một xã hội phát triển mạnh, đời sống
ổn định, ai cũng có công ăn việc làm…đó là tiền đề quan trọng để ổn định và phát
triển xã hội.
1.1.6.2.Đối với ngân hàng
Đối với ngân hàng, hoạt động cho vay tiêu dùng tạo điều kiện đa dạng hóa
hoạt động kinh doanh, nhờ vậy, nâng cao thu nhập, phân tán rủi ro.Vai trò của các
ngân hàng thương mại đối với xã hội ngày càng được khẳng định hơn qua sự phát
triển ngày càng hoàn thiện của hệ thống ngân hàng nói chung và ngân hàng thương
mại nói riêng. Nhưng không vì thế mà các ngân hàng có thể thoát khỏi sự cạnh
trạnh ngày càng gay gắt của các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ khác.Ngày
càng có nhiều tổ chức muốn cung cấp các dịch vụ mà các ngân hàng đã và đang
cung cấpvà ngay cả giữa các ngân hàng thương mại với nhau thì sự cạnh tranh
giành giật thị trường và khách hàng còn khốc liệt hơn nữa. Chính vì vậy, muốn tồn
tại và phát triển, các ngân hàng thương mại phải không ngừng đổi mới, tìm tòi và
đưa ra những dịch vụ mới ngày càng có nhiều tiện ích cho khách hàng, từ đó thu
hút, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của khách hàng và nâng cao thu nhập cho ngân
hàng. Ngoài ra, hoạt động CVTD chứa đựng nhiều rủi ro nhưng chính điều đó lại
mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Ngân hàng có thể ngăn ngừa và hạn chế rủi ro bằng
cách đưa ra những quy chế tín dụng chặt chẽ và thẩm định kỹ càng. Mặt khác, tài trợ
vốn vay cho cá nhân, nhất là tiêu dùng, thì ngân hàng gián tiếp tài trợ cho sản xuất. Khi
25
tiêu dùng được đẩy mạnh thì hoạt động sản xuất sẽ tăng lên, do đó, gia tăng nhu cầu