luận văn thạc sĩ quản lý chi ngân sách nhà nƣớc tại thành phố hải dƣơng, tỉnh hải dƣơng - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-----------o0o------------

PHẠM MINH ĐỨC

QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI
THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Hà Nội, Năm 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-----------o0o------------

PHẠM MINH ĐỨC

QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI
THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
Mã số

: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

nghiệp tại Sở Tài chính Hải Dương đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi hoàn thành công
tác nghiên cứu và học tập của mình.
Xin trân trọng cảm ơn!


iii

MỤC LỤC
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO....................................................................................................................... 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO....................................................................................................................... 2
Bảng 2.1. Cân đối ngân sách thành phố Hải Dương.................................................................................30
giai đoạn 2012-2015............................................................................................................................... 30
Bảng 2.2: Quyết toán chi NS thành phố Hải Dương giai đoạn 2012-2015..................................................32
Bảng 2.3: Chi thường xuyên thành phố Hải Dương giai đoạn 2012-2015..................................................40
Bảng 2.4: Cơ cấu chi thường xuyên thành phố Hải Dương.......................................................................41
giai đoạn 2012-2015............................................................................................................................... 41
KẾT LUẬN............................................................................................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................................... 78


iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT
1
2
3
4
5

14

KBNN

TÊN TIẾNG VIỆT
Ngân sách
Ngân sách Nhà nước
Ngân sách Trung ương
Hội đồng nhân dân
Ủy ban nhân dân
Kinh tế xã hội
Hồ Chí Minh
Bảo hiểm xã hội
Ngân sách thành phố
Xây dựng cơ bản
Trách nhiệm hữu hạn
Trung học cơ sở
Thể dục thể thao
Bộ Tài chính
Hệ thống thông tin quản lý ngân sách
và Kho bạc
Kho bạc Nhà nước


v

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

BẢNG


41


1

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước đang bước vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ về mọi mặt. Các điều
kiện kinh tế, xã hội được cải thiện đáng kể, cuộc sống nhân dân ngày một khởi sắc,
diện mạo đất nước ngày một vững bước đi lên.
Có được điều đó là do Đảng, Nhà nước đã có một chính sách phát triển đúng
đắn hợp lý gắn liền với thời cuộc. Trong đó, phải kể đến quan điểm phát triển kinh
tế vẫn dựa trên nội lực là chính và đã thu được nhiều thành tựu. Đất nước đang đẩy
mạnh cải cách, phát triển tài chính nhằm tạo dựng nền tài chính quốc gia vững
mạnh, cơ chế tài chính phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là công nghiệp hóa, hiện đại hóa
thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, bền vững, giữ vững an ninh tài chính quốc gia
trong phát triển và hội nhập. Mặt khác, Đảng cũng chủ trương phát triển toàn diện
giữa nông thôn và thành thị, đồng bằng và miền núi, thu hẹp tối đa khoảng cách
giàu nghèo.
Song song với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước là một
trong những công cụ quan trọng với tính chất là nội lực cho sự phát triển của nền
kinh tế quốc dân.
Sự tồn tại và phát triển của một Nhà nước luôn cần thiết phải có nguồn lực tài
chính đảm bảo cho hoạt động chi tiêu thường xuyên của tổ chức, cơ quan đơn vị
thuộc bộ máy quản lý nhà nước. Để đáp ứng nguồn kinh phí đảm bảo cho các hoạt
động của các cơ quan quản lý nhà nước, lực lượng vũ trang, sự nghiệp văn hóa, giáo
dục, y tế, phúc lợi xã hội, đầu tư phát triển kinh tế đất nước,... Nhà nước cần phải tạo
dựng được các nguồn thu để đảm bảo, bao gồm thuế, phí, lệ phí và các nguồn thu

Đối tượng nghiên cứu: Quản lý chi ngân sách nhà nước tại thành phố Hải
Dương và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN thành phố.
Nội dung nghiên cứu:
- Hệ thống hóa một số khái niệm, vai trò, những vấn đề cơ bản, cơ sở lý luận
về NSNN, quản lý chi NSNN cấp thành phố.
- Phân tích thực trạng quản lý chi NSNN tại thành phố Hải Dương giai đoạn
2012-2015. Qua đó rút ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân
của hạn chế.


3

- Đề ra các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý chi NSNN tại thành
phố Hải Dương.
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là quản lý chi NSNN trên địa bàn thành phố Hải Dương
giai đoạn 2012-2015.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê kinh tế: Sử dụng để thu thập, tổng hợp và phân tích
tài liệu phục vụ nghiên cứu.
- Phương pháp tổng hợp: Trên cơ sở số liệu đã thu thập, lựa chọn, phân tích
đối chiếu, so sánh và rút ra kết luận về vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp so sánh: Nghiên cứu mức độ biến động của các chỉ tiêu kinh tế
xã hội trong kỳ nghiên cứu.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản lý chi ngân sách nhà nước cấp thành phố
trực thuộc tỉnh.
Chương 2: Thực trạng quản lý chi NSNN tại thành phố Hải Dương, tỉnh Hải
Dương.

trách nhiệm.Quốc hội quyết định dự toán ngân sách Nhà nước, phân bổ ngân sách
trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước.
1.1.1.2 Chức năng của ngân sách nhà nước
Yêu cầu tiên quyết đối với Ngân sách Nhà nước là phải thống nhất các khoản
thu - chi trên cơ sở dự toán và hạch toán. Do đó Ngân sách Nhà nước phải tập hợp


5

và cân đối thu chi của Nhà nước, bắt buộc mỗi khoản chi phải theo dự toán, mỗi
khoản thu phải theo luật định, chấm dứt sự tuỳ tiện trong quản lý thu - chi của Nhà
nước. Như vậy ta có thể kết luận chức năng của Ngân sách Nhà nước bao gồm :
Một là: điều tiết thu nhập đối với nguồn thu nhập của các tổ chức, cá nhân để
đảm bảo công bằng xã hội đối với chính sách an sinh xã hội của Nhà nước.
Hai là: quản lý, khai thác nguồn thu Ngân sách Nhà nước theo luật Ngân sách
Nhà nước.
Ba là: cân đối thu, chi Ngân sách Nhà nước về : Chi thường xuyên, Chi Đầu tư
Phát triển, Chi thanh toán nợ công, Chi dự phòng...
Bốn là, quản lý và điều hành hoạt động tài chính công để hạn chế hiện tượng
bội chi Ngân sách Nhà nước.
Ngân sách Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động của
nền kinh tế, trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, an ninh quốc phòng và các nhiệm vụ
ngoại giao của Nhà nước, hay nói chung là đảm bảo các nguồn thu để đáp ứng nhu
cầu chi tiêu của Nhà nước. Xét riêng trong nền kinh tế thị trường, Ngân sách nhà
nước là một trong những công cụ hữu hiệu để Nhà nước điều chỉnh vĩ mô nền kinh
tế, xã hội. Mục tiêu của Ngân sách Nhà nước không phải để Nhà nước đạt được lợi
nhuận như các doanh nghiệp và cũng không phải để bảo vệ vị trí của mình trước các
đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Ngân sách nhà nước ngoài việc duy trì sự tồn tại
của bộ máy Nhà nước còn phải xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội để tạo ra môi
trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động.

quyết mối quan hệ này rất phức tạp, gay cấn. Do đó phải xác định rõ nhiệm vụ
kinh tế, chính trị của mỗi cấp chính quyền. Phân cấp này phải ổn định và đảm
bảo cho ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung những nguồn thu
lớn để thực hiện những nhiệm vụ quan trọng trên phạm vi cả nước, đồng thời
những nhiệm vụ nào ổn định mang tính thường xuyên, có tính xã hội rộng
phân cấp cho chính quyền địa phương.
- Giải quyết mối quan hệ trong quá trình thực hiện chu trình ngân sách.
Đó là quá trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách.
1.1.2 Ngân sách nhà nước cấp thành phố trực thuộc tỉnh
1.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm ngân sách nhà nước cấp thành phố trực thuộc tỉnh
Ngân sách cấp thành phố thuộc tỉnh là một cấp ngân sách hoàn chỉnh với
nguồn thu và nhiệm vụ chi được quy định cụ thể để đảm bảo hoàn thành chức
năng nhiệm vụ của cấp thành phố thuộc tỉnh.


7

Là một bộ phận của NSNN, Ngân sách nhà nước cấp thành phố vừa mang
những đặc điểm chung của NSNN, vừa có những đặc điểm riêng gắn với việc thực
hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý tài chính Nhà nước ở thành phố:
- Là một quỹ tiền tệ của Nhà nước, do thành phố quản lý sử dụng để duy trì sự
tồn tại của bộ máy Nhà nước và thực hiện chức năng, nhiệm của của Nhà nước tại
thành phố;
- Là một cấp ngân sách trung gian, vừa trực thuộc ngân sách tỉnh, vừa có ngân
sách phường, xã trực thuộc;
- Quan hệ lợi ích phát sinh trong quá trình thu – chi ngân sách thành phố là
quan hệ lợi ích chung của một bên đại diện là chính quyền thành phố và một bên là
các chủ thể kinh tế khác trong xã hội;
- Nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách thành phố được phân định cụ thể và
có tính chất pháp lý.

ngày càng tốt hơn nhiệm vụ phát triển KT-XH ở địa phương.
1.1.2.3. Vai trò ngân sách nhà nước cấp thành phố trực thuộc tỉnh
NSNN là khâu tài chính tập trung quan trọng nhất, là kế hoạch tài chính
cơ bản, tổng hợp của Nhà nước. Nó giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính
và có vai trò quyết định sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Vai trò của
NSNN được xác lập trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ cụ thể của nó trong
từng giai đoạn cụ thể. Phát huy vai trò của NSNN như thế nào là thước đo
đánh giá hiệu quả điều hành, lãnh đạo của Nhà nước.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng x ã h ộ i c h ủ n g h ĩ a ở nước ta
hiện nay, NSNN cấp thành phố trực thuộc tỉnh có các vai trò chủ yếu sau:
Thứ nhất, với chức năng phân phối, ngân sách có vai trò huy động nguồn
tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của cấ p thà nh phố và thực hiện sự cân
đối thu chi tài chính của Nhà nước. Đó là vai trò truyền thống của NSNN trong
mọi mô hình kinh tế. Nó gắn chặt với các chi phí của Nhà nước trong quá trình
thực hiện nhiệm vụ của mình.
Thứ hai, NSNN là công cụ tài chính của Nhà nước góp phần thúc đẩy sự
tăng trưởng của nền kinh tế, điều chỉnh kinh tế. Sử dụng NSNN như là công cụ
tài chính để kiềm chế lạm phát, ổn định thị trường, giá cả cũng như giải quyết
các nguy cơ tiềm ẩn về bất ổn định kinh tế xã hội.
Thứ ba, NSNN là công cụ tài chính góp phần bù đắp những khiếm khuyết
của kinh tế thị trường, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thúc đẩy


9

phát triển bền vững. Kinh tế thị trường phân phối nguồn lực theo phương thức
riêng của nó, vận hành theo những quy luật riêng của nó.
1.1.3 Quản lý ngân sách nhà nước nói chung và cấp thành phố trực thuộc
tỉnh nói riêng
1.1.3.1 Khái niệm và thực chất nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước

với sự phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động chi Ngân sách địa phương cũng ngày
càng đa dạng hơn, phức tạp hơn. Điều này làm cho cơ chế quản lý chi nhiều khi
không theo kịp với sự biến động của hoạt động chi Ngân sách địa phương. Ví dụ
như: cấp phát nhưng thực chất chỉ mang tính chất xuất quỹ Ngân sách địa phương,
cho đơn vị rút về chi tiêu; phân bổ dự toán không chính xác; hệ thống tiêu chuẩn,
định mức không đồng bộ, xa rời thực tế; cơ chế quản lý chi một số lĩnh vực đặc biệt
như chi đầu tư xây dựng cơ bản, chi chương trình mục tiêu, chi Ngân sách xã chưa
phù hợp; công tác kế toán, quyết toán chưa nghiêm túc, chặt chẽ... Tình trạng này
đã tạo ra những kẽ hở trong cơ chế quản lý chi Ngân sách địa phương, tạo môi
trường cho tham nhũng, lãng phí nảy sinh. Vì vậy, phải có cơ quan có thẩm quyền
thực hiện kiểm tra, giám sát quá trình chi tiêu để phát hiện và ngăn chặn kịp thời
những hiện tượng tiêu cực; đồng thời phát hiện những kẽ hở trong cơ chế quản lý.
Từ đó, có những kiến nghị nhằm sửa đổi, bổ sung hay kịp thời ban hành những cơ
chế quản lý phù hợp, chặt chẽ hơn.
1.1.3.2 Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cấp thành phố trực thuộc tỉnh
- Phân cấp NSNN phải phù hợp với Hiến pháp, với Luật tổ chức
HĐND và UBND các cấp. Nguyên tắc này đảm bảo tính pháp lý cho mỗi
chính quyền về quyền hạn trách nhiệm trong điều hành NSNN các cấp. Đồng thời
phân cấp NSNN phải đồng bộ với phân cấp quản lý kinh tế nhằm đảm bảo sự phù
hợp giữa nguồn thu và nhiệm vụ chi được giao.
- Phân cấp NSNN phải đảm bảo tính hiệu quả. Nguyên tắc này yêu cầu
phân cấp NSNN không dẫn đến sự chia cắt nguồn thu ngân sách, làm suy yếu và
phân tán nguồn tài chính quốc gia. Phân cấp NSNN phải đảm bảo sự phối hợp
đồng bộ giữa các cấp trong hệ thống ngân sách để hướng vào phục vụ lợi ích
chung của quốc gia. Bên cạnh đó, phân cấp NSNN phải mang tính ổn định để
tạo điều kiện cho các cấp ngân sách chủ động khai thác và bồi dưỡng nguồn
thu, tiến đến cân đối ngân sách địa phương nhằm thực hiện tốt chức năng nhiệm
vụ được giao.



- Chi bổ sung cho ngân sách Phường xã.
- Chi chuyển nguồn từ ngân sách năm trước sang ngân sách năm sau.


12

1.2. Các yếu tố nội dung quản lý chi ngân sách nhà nước cấp thành phố
trực thuộc tỉnh
Quản lý chi NSNN cấp thành phố trực thuộc tỉnh là quá trình thực hiện có hệ
thống các biện pháp phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của thành phố tập trung nhằm
phục vụ chi tiêu cho bộ máy và thực hiện các chức năng của Nhà nước. Thực chất
quản lý chi NS là quá trình sử dụng các nguồn vốn chi tiêu của thành phố từ khâu
lập kế hoạch đến khâu sử dụng NS đó nhằm đảm bảo quá trình chi tiết kiệm và hiệu
quả, phù hợp với yêu cầu thực tế đang đặt ra theo đúng chính sách chế độ của Nhà
nước phục vụ các mục tiêu KT-XH.
NSNN được quản lý theo năm NS và chu trình NS. Chu trình NS dùng để chỉ
toàn bộ hoạt động của một NS kể từ khi bắt đầu hình thành cho tới khi kết thúc
chuyển sang NS mới. Một chu trình NS gồm ba khâu nối tiếp nhau: lập NS, chấp
hành NS và quyết toán NS. Chu trình NS thường bắt đầu từ trước năm NS và kết
thúc sau năm NS. Trong một năm NS đồng thời diễn ra cả ba khâu của chu trình NS
đó là: chấp hành NS của chu trình NS hiện tại; quyết toán NS của chu trình NS
trước đó và lập NS cho chu trình tiếp theo.
1.2.1. Các yếu tố nội dung cơ bản của quản lý chi NSNN cấp thành phố
thuộc tỉnh
1.2.1.1 Quản lý chi thường xuyên
Chi thường xuyên của NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn NSNN để
đáp ứng cho các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước
về lập pháp, hành pháp, tư pháp và một số dịch vụ công cộng khác mà Nhà nước
vẫn phải cung ứng.
- Theo lĩnh vực chi, chi thường xuyên của NSNN bao gồm các lĩnh vực chi

các khoản này vẫn được tính vào cơ cấu chi thường xuyên của NSNN và được xử lý
qua các nghiệp vụ ghi thu – ghi chi của NSNN tại Kho bạc nhà nước.
+ Chi cho các hoạt động quản lý Nhà nước:
Khoản chi này phát sinh hầu hết ở các ngành trong nền kinh tế quốc dân. Bởi
với chức năng quản lý toàn diện nền kinh tế - xã hội, nên bộ máy hành chính Nhà
nước được thiết lập từ Trung ương đến địa phương và có ở toàn bộ các ngành, lĩnh
vực của nền kinh tế quốc dân. Chi quản lý hành chính Nhà nước nhằm đảm bảo sự
hoạt động của hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước. Theo nghĩa rộng, các


14

khoản chi này bao quát 5 lĩnh vực cơ bản: Chi về hoạt động của các cơ quan quyền
lực Nhà nước; hệ thống cơ quan pháp luật, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam ở các
cấp, các tổ chức chính trị xã hội và quản lý vĩ mô nền KT-XH cho hệ thống các cơ
quan quản lý KT-XH và chính quyền các cấp.
+ Chi cho các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và các tổ chức khác được cấp
phát từ nguồn NSNN
Được xếp vào các tổ chức này bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Các tổ
chức chính trị đoàn thể - xã hội như: Đoàn thanh niên cộng sản HCM, Ủy ban mặt
trận tổ quốc, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân, Hội liên hiệp phụ nữ... Có thể đây
là nét đặc thù trong cơ cấu chi thường xuyên của NSNN ở nước ta vì các tổ chức
chính trị - xã hội coi như là cánh tay nối dài để tổ chức các hoạt động mà Đảng và
nhà nước giao cho các tổ chức đó.
+ Chi cho quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội:
Chi quốc phòng, an ninh được tính vào khoản chi thường xuyên đặc biệt quan
trọng, vì đây là lĩnh vực mà hoạt động của nó đảm bảo sự tồn tại của Nhà nước, ổn
định trật tự xã hội và sự toàn vẹn lãnh thổ. Khoản chi này được chia làm 2 bộ phận
cơ bản: Các khoản chi cho quốc phòng để phòng thủ và bảo vệ Nhà nước, chống lại
sự xâm lược và đe dọa của nước ngoài; Các khoản chi nhằm bảo vệ, giữ gìn chế độ

1.2.2.1. Hoạch định triển khai và lập kế hoạch chi NSNN
Dự toán chi NS thành phố là một bản tổng hợp chi NS thành phố, nó thể hiện
tổng số và chi tiết các khoản chi NS thành phố trong năm tài chính đó. Qua đó, cơ
quan chủ quản cấp thành phố như UBND và HĐND thấy được nhiệm vụ chi của
cấp mình quản lý.
Yêu cầu của việc lập dự toán chi NS thành phố:
Lập dự toán chi là khâu đầu tiên trong chu trình quản lý NS. Để chu trình quản
lý NS được thực hiện hiệu quả, quá trình lập dự toán NS thành phố cần đảm bảo:
- Dự toán chi NS thành phố phải tổng hợp theo từng lĩnh vực chi và theo cơ cấu
giữa chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển. Bên cạnh đó khi lập dự toán NS thành phố
phải đảm bảo tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên.
- Dự toán chi NS thành phố phải được lập theo đúng nội dung, biểu mẫu, thời
hạn và phải thể hiện đầy đủ các khoản chi theo Mục lục NSNN và hướng dẫn của
Bộ Tài chính.


16

Đối với lập dự toán chi đầu tư phát triển phải căn cứ vào những dự án đầu tư
có đủ các điều kiện bố trí vốn theo quy định và quy chế quản lý vốn đầu tư xây
dựng, phù hợp với kế hoạch tài chính của thời kỳ ổn định NS và khả năng NS hàng
năm. Đồng thời ưu tiên bố trí đủ vốn phù hợp với tiến độ triển khai của các chương
trình, dự án đã được cấp có thẩm quyền quyết định và đang thực hiện dở dang.
Đối với lập dự toán chi thường xuyên phải tuân theo các chính sách, chế độ,
tiêu chuẩn, định mức do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định. Các định
mức chi lại phải đảm bảo các yêu cầu: Định mức chi phải được xây dựng một cách
khoa học từ việc phân loại đối tượng đến trình tự, cách thức xây dựng định mức;
định mức chi phải có tính thực tiễn cao. Tức là, nó phải phản ánh mức độ phù hợp
của các định mức với nhu cầu kinh phí cho các hoạt động; định mức chi phải đảm
bảo thống nhất đối với từng khoản chi và với từng đối tượng thụ hưởng NSNN cũng

được giao, báo cáo Phòng Tài chính – Kế hoạch thành phố.
Phòng Tài chính – Kế hoạch xem xét dự toán NS của các cơ quan, đơn vị trực
thuộc và các phường xã, sau khi thảo luận với các cơ quan, đơn vị cùng trực thuộc,
UBND các phường xã, Phòng Tài chính – Kế hoạch thành phố sẽ thực hiện tổng
hợp và lập dự toán chi NS thành phố trình Chủ tịch và Phó Chủ tịch HĐND thành
phố, đồng thời gửi Sở Tài chính và UBND tỉnh xem xét phê duyệt.
Đối với lập kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản: chủ đầu tư các dự án sử
dụng vốn đầu tư phát triển căn cứ vào tiến độ mục tiêu thực hiện dự án lập kế hoạch
vốn đầu tư xây dựng cơ bản của dự án gửi cơ quan quản lý cấp trên. Chủ đầu tư các
dự án sử dụng vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư căn cứ vào nhu cầu sửa chữa, cải
tạo, mở rộng, nâng cấp các cơ sở vật chất hiện có của đơn vị lập kế hoạch vốn đầu
tư xây dựng cơ bản gửi cơ quan quản lý cấp trên.
Đối với lập dự toán chi thường xuyên: căn cứ vào mức độ phân cấp về chi
thường xuyên, Phòng Tài chính – Kế hoạch thành phố xem xét và tổng hợp dự toán
kinh phí của các cơ quan đơn vị dự toán cấp I của NS cấp thành phố để lập dự toán
chi thường xuyên của NS thành phố; đồng thời báo cáo dự toán chi thường xuyên
của NS thành phố cho Sở Tài chính.
Bước 3: Phân bổ, thẩm tra và thông báo kế hoạch
Sau khi nhận được quyết định giao nhiệm vụ chi NS của UBND tỉnh, phòng
Tài chính – Kế hoạch thành phố có nhiệm vụ giúp UBND thành phố trình HĐND
thành phố quyết định dự toán chi NS thành phố, phương án phân bổ NS.


18

UBND thành phố có trách nhiệm báo cáo UBND tỉnh, Sở Tài chính dự toán
chi NS thành phố và kết quả phân bổ dự toán chi NS thành phố được HĐND thành
phố quyết định.
Căn cứ vào Nghị quyết của HĐND, UBND thành phố quyết định giao nhiệm
vụ chi NS cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc thành phố được HĐND thành phố


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status