luận văn thạc sĩ quản lý chi ngân sách nhà nƣớc trên địa bàn quận ba đình, thành phố hà nội - Pdf 41

1

1
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện. Các số liệu, kết

quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng. Luận văn không có
sự sao chép bất kỳ công trình nào trước đấy.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên

Nguyễn Đức Vương


2

2
2
LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình tìm tòi và nghiên cứu dưới sự giúp đỡ tận tình của Thầy, Cô, em

đã hoàn thành luận văn “Quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn quận Ba
Đình, thành phố Hà Nội”. Để có được kết quả như ngày hôm nay, đầu tiên, cho em
được gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô giảng viên của khoa Sau Đại học –
Trường Đại học Thương mại đã nhiệt tình giảng dạy chúng em trong suốt khóa học
vừa qua.
Em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Hoàng Long - người
đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn..
Em cũng xin đặc biệt gửi lời cảm ơn các cô chú, các anh chị tại phòng Tài
chính – Kế hoạch quận Ba Đình đã nhiệt tình giúp đỡ em trong việc thu thập và


Ngân sách Nhà nước
Ngân sách
Ngân sách trung ương
Ngân sách địa phương
Kho bạc Nhà nước
Hội đồng nhân dân
Ủy ban nhân dân
Xây dựng cơ bản
Kinh tế xã hội
An ninh quốc phòng
Sự nghiệp giáo dục
Sự nghiệp kinh tế
Quản lý nhà nước

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Bảng 1: Thu thuế, phí và lệ phí quận Ba Đình 2012-2015
Bảng 2: Tổng hợp chi đầu tư ngân sách quận theo lĩnh vực 4 năm (20122015)
Bảng 3: Tỷ lệ chi đầu tư XDCB trong tổng chi NSNN quận Ba Đình
Bảng 4: Tỉ lệ giải ngân vốn đầu tư XDCB từ ngân sách quận Ba Đình
Bảng 5: Tổng hợp chi ngân sách quận Ba Đình (2012 - 2015)
Bảng 6: Tỷ lệ chi thường xuyên trong tổng chi NSNN quận Ba Đình
Bảng 7: Tình hình thực hiện chi NSNN quận Ba Đình năm 2012-2015


4

MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, các yếu tố cấu

ngành thương mại tăng bình quân 17,62%/năm, giá trị sản xuất công nghiệp tăng
bình quân 11,43%/năm, giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng 10,9%/năm.
Trong công tác quản lý, điều hành chi ngân sách của Quận đã hoàn thành tốt
các nhiệm vụ trọng tâm của năm ngân sách. Tổng chi ngân sách cho các ngành, lĩnh
vực được đáp ứng kịp thời đảm bảo nguồn lực tài chính phục vụ các nhiệm vụ chính
trị, kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng trên địa bàn quận. Chi cho đầu tư phát
triển chiếm 25%, chi thường xuyên chiếm 75% trong tổng chi ngân sách. Các nhiệm
vụ chi đầu tư xây dựng, chi thường xuyên đều tuân thủ theo Luật ngân sách, các
quy định của Bộ tài chính và quyết định của UBND Thành phố Hà Nội
Tuy nhiên thực trang quản lý chi ngân sách nhà nước quận Ba Đình còn nhiều
hạn chế như: vốn chi cho lĩnh vực đầu tư xây dựng còn dàn trải, tiến độ giải ngân
còn chậm, một số công trình đầu tư còn bất hợp lý, tình trạng quản lý thu, chi
NSNN vẫn còn thất thoát do chưa bao quát hết các nguồn thu và khoản chi, gặp
nhiều khó khăn trong quá trình điều hành và quyết toán ngân sách do trong công tác
xây dựng dự toán chi ngân sách còn chưa dự báo hết và xác định được đầy đủ các
nhiệm vụ chi, đội ngũ cán bộ quản lý ngân sách còn hạn chế về chuyên môn,
Nhận thấy tính cấp thiết của công tác này, tôi mạnh dạn chọn đề tài “ Quản lý
chi ngân sách chi ngân sách nhà nước trên địa bàn Quận Ba Đình, thành phố
Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế. Đây là một đề tài mang tính thực tiễn
cao, góp phần làm rõ hơn thực trạng trong công tác quản lý ngân sách nhà nước của
Quận sau gần 15 năm thực hiện Luật Ngân sách để từ nâng cao hiệu quả công tác
quản lý quản lý chi NSNN hiện nay. Đây là một nhiệm vu quan trọng luôn được
chú trọng quan tâm trong công tác quản lý nhà nước về tài chính, góp phần thực
hiện quản lý tốt và toàn điện các hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng
trên địa bàn của Quận.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan:
Quản lý ngân sách nhà nước nói chung và quản lý chi ngân sách nhà nước nói
riêng luôn là nội dung nhận được sự quan tấm, chú trọng của nhiều nhà khoa hoc,
nhà quản lý quan tâm và có nhiều các công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao.


- Luận án Tiến sỹ“Nâng cao hiệu quả quản lý NSNN tỉnh An Giang giai đoạn
2010-2015 và tầm nhìn đến năm 2020” của tác giả Tô Thiện Hiền, Trường Đại học


7

Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh, năm 2012. Luận án đã làm sáng tỏ về mặt lý
luận về hiệu quả quản lý NSNN và quản lý NSNN tỉnh An Giang. Phân tích thực
trạng các hình thưc thu, chi NSNN tỉnh trong giai đoạn 2006 -2010. Sử dụng các
phương pháp nghiên cứu khoa học để phân tích số liệu thu, chi ngân sách nhà nước
để minh họa về những thành tích cũng như hạn chế của công tác quản lý thu,chi
ngân sách nhà nước tỉnh An Giảng. Để từ đó đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm
hoàn thiện quản lý ngân sách nhà nước tỉnh An Giang đảm bảo tăng trưởng và phát
triển kinh tế bền vững của địa phương với tầm nhìn đến năm 2020.
- Đề tài “Tăng cường quản lý và sử dụng NSNN có hiệu quả trên địa bàn thị
xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh” của tác giả Nguyễn Thị Hoa (năm 2011), cũng xây dựng
được mô hình khung lý thuyết về quản lý thu, chi NSNN cấp huyện gồm các nội
dung chủ yếu: lập dự toán thu, chi ngân sách; chấp hành dự toán thu, chi ngân sách;
kiểm soát thu, chi ngân sách. Nêu sơ bộ về tình hình KTXH thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc
Ninh. Phân tích thực trạng quản lý thu chi NSNN cấp huyện tại thị xã Từ Sơn theo
các nội dung: lập dự toán thu, chi ngân sách, chấp hành dự toán thu, chi ngân sách,
kiểm soát dự toán thu, chi ngân sách. Từ thực trạng quản lý thu, chi NSNN cấp
huyện tại thị xã Từ Sơn, tác giả đã đưa ra giải pháp để hoàn thiện quản lý thu, chi
NSNN cấp huyện tại thị xã Từ Sơn. Tuy nhiên, trong đề tài này tác giả chủ yếu đi
sâu vào đánh giá thực trạng thu, chi ngân sách cấp huyện tại thị xã Từ Sơn mà chưa
đưa ra được giải pháp tối ưu về hoàn thiện quản lý thu, chi NSNN cấp huyện tại thị
xã Từ Sơn.
- Huỳnh Thị Cẩm Liên (năm 2011) trong đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý
NSNN huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi” cũng đã xây dựng được mô hình khung lý
thuyết về quản lý NSNN cấp huyện gồm các nội dung chủ yếu: dự toán ngân sách;

3.1. Mục tiêu nghiên cứu:
Đề xuất những định hướng, quan điểm phát triển và hoàn thiện công tác quản
lý chi ngân sách quận Ba Đình
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Đề tài cần hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về ngân sách nhà nước cấp quận.
- Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước cấp quận tại
quận Ba Đình, giai đoạn 2012 - 2015.


9

- Đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý
chi thường xuyên ngân sách cho quận Ba Đình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Là lý thuyết và thực tiễn của quản lý chi ngân sách
nhà nước
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Thực trạng công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa
bàn quận trực thuộc thành phố Trung ương và quận Ba Đình trực thuộc thành phố
Hà Nội.
+ Về không gian: Đề tài chỉ nghiên cứu công tác quản lý chi ngân sách nhà
nước thuộc quận Ba Đình, TP. Hà Nội.
+ Về thời gian: Số liệu điều tra thực trạng về chi ngân sách quân Ba Đình
chủ yếu trong 4 năm 2012 đến năm 2015 đề xuất tới năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài là phương pháp tổng hợp,
hệ thống hóa lý thuyết để xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu. Bên cạnh đó,
sử dụng thêm các phương pháp nghiên cứu như: khảo sát thực tế, thu thập xử lý các
dữ liệu sơ cấp, thứ cấp kết hợp điều tra xã hội học phỏng vấn các chuyên gia, những

chi của Nhà nước có trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết
định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ của Nhà nước.
Bên cạnh đó theo Luật NSNN đã được Quốc hội thông qua và ban hành ngày
25/6/2015 cho rằng “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà
nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhát định do cơ quan


11

nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
của Nhà nước”.
Bản chất ngân sách nhà nước:
Từ khái niệm trên, ta có thể thấy ngân sách Nhà nước biểu hiện ra bên ngoài
là một quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước với các khoản thu và chi của nó.
Khi Nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình sẽ phát sinh các quan hệ
kinh tế trong quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội. Điều này cho ta
thấy được phần nào bản chất của ngân sách nhà nước. Để từ đó, ta có thể rút ra về
bản chất sâu xa của ngân sách nhà nước: Ngân sách Nhà nước phản ánh các mối
quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước phân
phối các nguồn tài chính nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng quản lý và điều
hành nền kinh tế xã hội của mình trên cơ sở luật định.
(Nguồn: Tham khảo từ giáo trình Tài chính công - PGS TS. Lê Thị Kim
Nhung, trường đại học Thương Mại)
1.1.1.2. Chức năng và vai trò NSNN
 Chức năng của ngân sách nhà nước:
Như ở bản chất ta đã đề cập đến thì ngân sách nhà nước là một quỹ tiền tệ tập
trung lơn nhất của Nhà nước, là công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền
kinh tế - xã hội. Cho nên có thể nói chức năng và nhiệm vụ cơ bản của ngân sách
nhà nước là động viên hợp lý các nguồn thu, đồng thời thực hiện tổ chức và quản lý

Các chức năng nói trên có mối quan hệ mật thiết, phản ảnh được bản chất hoạt
động của ngân sách nhà nước trong quá trình tạo lập, khai thác, động viên, phân bổ,
tổ chức huy động các nguồn vốn cũng như tham gia điều tiết kinh tế vĩ mô.
● Vai trò của ngân sách nhà nước:
Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội, an ninh - quốc phòng, đối ngoại của đất nước. Vai trò của NSNN luôn gắn
liền với vai trò của Nhà nước theo từng giai đoạn nhất định. Do đó ta có thể thấy
được ngân sách nhà nước có các vai trò như sau:
- Vai trò huy động các nguồn tài chính của ngân sách nhà nước để đảm bảo
nhu cầu chi tiêu của nhà nước: Vai trò này xuất phát từ bản chất kinh tế của NSNN
là việc đảm bảo nguồn tài chính để Nhà nước thực hiện chức năng và nhiệm vụ của
mình trong linh vực kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, đối ngoại. Mà nguồn tài


13

chính này được hình thành từ các khản thu thuế và thu khác. Đây là vai trò mà bất
kỳ chế độ xã hội, cơ chế kinh tế nào NSNN đều phải thực hiện.
- Vai trò quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế: Ngân sách nhà nước là công cụ
định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới,kích thích phát triển sản xuất kinh và
chống độc quyền. Thông qua hoạt động chi ngân sách thì Nhà nước sẽ cung cấp
kinh phí đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, điều này tạo ra một điều kiện thuận lợi
cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Bên
cạnh đó, với việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp nhà nước là một trong số
các biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thi trường không bị rơi vào
tình trạng cạnh trạnh không hoàn hảo. Và với hoạt động thu, bằng việc huy động
nguồn tài chính thông qua thuế, ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định
hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh.
- Vai trò là công cụ định hướng phát triển kinh tế - xã hội: Thông qua công cụ
thuế và thuế suất của Nhà nước sẽ kích thích sản xuất phát triển và thu hút sự đầu tư
của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Nhà nước còn sử dụng ngân sách nhà nước đầu

chưa được bố trí trong dự toán ngân sách của năm thời kỳ ổn định ngân sách; các
địa phương thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình, dự
án khác của cấp trên, phần giao cho cấp dưới thực hiện; các địa phương được hỗ trợ
chi khắc phục thiên tai, thảm họa, dịch bệnh trên diện rộng vượt quá khả năng cân
đối của ngân sách cấp dưới; các địa phương được hỗ trợ thực hiện một số chương
trình, dự án lớn, đặc biệt quan trọng có tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội
của địa phương. Mức hỗ trợ được xác định cụ thể cho từng chương trình,dự án.
- Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa
phương. Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động thực
hiện những nhiệm vụ chi được giao. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc
phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách ở địa phương phù hợp với
phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và trình độ quản lý của mỗi
cấp trên địa bàn.


15

1.1.3. Khái niệm & đặc điểm thu và chi NSNN
1.1.3.1. Khái niệm & đặc điểm thu NSNN
 Khái niệm thu ngân sách nhà nước: Thu ngân sách nhà nước bao gồm
các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước;
các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu
khác theo quy định của pháp luật. (Theo khoản 1 điều 2 Luật ngân sách nhà nước
năm 2002)
 Đặc điểm thu ngân sách nhà nước:
- Đặc điểm nối bật của thu NSNN là phần lớn các khoản thu được xây dựng
dựa trên nền tảng nghĩa vụ công dân. Các khoản thu NSNN không mang tính bồi
hoàn trực tiếp. Thu NSNN gắn liền với thực hiện nhiệm vụ của nhà nước. Khó kiểm
soát và đánh giá hiệu quả: Phần lớn chi tiêu của nhà nước tạo ra hàng hóa, dịch vụ
công là những sản phẩm được tiêu dùng công cộng nên không có người thụ hưởng

(các phạm trù thuộc lĩnh vực tiền tệ).
c. Phân loại chi ngân sách nhà nước:
Chi ngân sách là một công cụ của chính sách tài chính quốc gia có tác động rất
lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế. Tùy vào là ngân sách trung ương và ngân
sách địa phương sẽ có các nhiệm vụ chi khác nhau. Sau đây tôi sẽ giới thiệu sơ qua
về chi ngân sách trung ương, tiếp đó là đi cụ thể hơn về chi ngân sách địa phương.
Cụ thể là:
● Chi ngân sách trung ương gồm có: Chi đầu tư phát triển; chi dự trữ quốc gia;
chi thường xuyên các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan
khác ở trung ương được phân cấp trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh, sự nghiệp
giáo dục, sự nghiệp y tế, sự nghiệp thể dục thể thao, sự nghiệp bảo vệ môi trường,
các hoạt động kinh tế, …; chi trả nợ lãi các khoản tiền do Chính phủ vay; chi viện
trợ; chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính trung ương; chi chuyển nguồn ngân sách sang
năm sau; chi bổ sung cân đối ngân sách.
● Chi ngân sách địa phương gồm có: chi đầu tư phát triển; chi thường xuyên
của các cơ quan, đơn vị ở địa phương được phân cấp trong các lĩnh vực sự nghiệp
giáo dục, sự nghiệp khoa học công nghệ, sự nghiệp quốc phòng - an ninh phần được
giao quận quản lý, sự nghiệp y tế, sự nghiệp văn hóa thông tin, sự nghiệp thể dục
thể thao, sự nghiệp bảo vệ môi trường, chi trả nợ lãi các khoản do địa phương vay,
chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính địa phương, chi chuyển nguồn sang năm sau, chi


17

bổ sung cân đối ngân sách; chi khắc phục hậu quả do thiên tai, thảm họa nghiêm
trọng. Trong đó:
- Chi đầu tư phát triển: Chi đầu tư phát triển là những khoản chi mang tính
chất tích lũy phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng gắn với việc xây dựng cơ
sở hạ tầng nhằm tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho việc bỏ vốn đầu tư của
các doanh nghiệp vào các lĩnh vực cần thiết, phù hợp với mục tiêu của nền kinh tế.

khoản dự trữ giúp nhà nước điều tiết thị trường, khắc phục hậu quả. Khoản dự trữ
này được hình thành bằng nguồn tài chính được cấp phát từ ngân sách nhà nước
hàng năm. Dự trữ quốc được sử dụng cho mục đích là giải quyết hậu quả các trường
hợp rủi ro bất ngờ xảy ra làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống .
- Chi tiêu dùng thường xuyên:Việc chi tiêu thường xuyên tại địa phương gồm
có:
+ Các khoản chi cho tiêu dùng xã hội gắn liền với chức năng quản lý xã hội
của nhà nước, khoản chi này được phân thành hai bộ phận: một bộ phận vốn được
sử dụng để đáp ứng nhu cầu của dân cư về phát triển văn hóa xã hội, nó có mối
quan hệ trực tiếp đến thu nhập và nâng cao mức sống của dân cư và một bộ phận
phục vụ cho nhu cầu quản lý kinh tế xã hội chung của nhà nước.
+ Chi quản lý nhà nước (quản lý hành chính): Chi quản lý nhà nước bắt
nguồn từ sự tồn tại và việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nưóc. Đây là
khoản chi nhằm đảm bảo sự hoạt động của hệ thống các cơ quan quản lý nhà nưóc
từ trung ương đến địa phương, hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam và hoạt
động của các tổ chức chính trị xã hội. Về nội dung khoản chi này bao gồm: Chi
lương và phụ cấp lương, chi về nghiệp vụ,chi về văn phòng phí, các khoản chi khác
về quản trị nội bộ.
+ Chi sự nghiệp quốc phòng - an ninh quốc phòng: Công tác quốc phòng - an
ninh luôn được quận Ba Đình xác đình là nhiệm vụ trong tâm và cần thiết phải cấp
phát tài chính cho các hoạt động này từ ngân sách nhà nước. Khoản chi này được
phân làm hai bộ phận là khoản chi cho an ninh nhằm bảo vệ chế độ xã hội, an ninh
của dân cư trong nước; khoản chi cho quốc phòng để phòng thủ và bảo vệ nhà nước
chống sự xâm lược, tấn công và đe dọa từ nước ngoài. Xét về nội dung, chi an ninh
quốc phòng bao gồm:chi về tiền lương và phụ cấp lương cho toàn quân và lực
lượng công an nhân dân; chi về đào tạo huấn luyện cho bộ máy quốc phòng, an ninh


19



20

chương trình tự động hóa); chi đầu tư xây dựng cơ bản cho những công trình nghiên
cứu, thực nghiệm về khoa học, công nghệ; các khoản chi khác về khoa học, công
nghệ.
+ Chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo: Đây là khoản chi mà tầm quan trọng của
nó là nhằm nâng cao dân trí, trình độ chuyên môn kỷ thuật của mọi người dân trong
xã hội góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Về nội dung khoản chi này bao gồm:
chi về giáo dục phổ thông; chi về đào tạo sau đại học, đại học, cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp, đào tạo nghề và các hình thức đào tạo bồi dưỡng khác; chi cho các
chương trình quốc gia về giáo dục và đào tạo; các khoản chi sự nghiệp giáo dục và
đào tạo khác.
+ Chi sự nghiệp y tế: chi sự nghiệp y tế là khoản chi phục vụ công tác phòng
bệnh và chữa bệnh nhằm nâng cao mức sống cho mọi người dân trong xã hội. Về
nội dung khoản chi này bao gồm: chi cho công tác phòng bệnh; chi cho công tác
chữa bệnh: là khoản chi quan trọng nhất nhằm duy trì sự hoạt động của hệ thống các
bệnh viện, bệnh xá, nhà điều dưỡng. chi cho các chương trình quốc gia về y tế:
chương trình phòng chống bướu cổ, phòng chóng sốt rét, dân số và kế hoạch hóa
gia đình; các khoản chi sự nghiệp y tế khác.
+ Chi sự nghiệp văn hóa, nghệ thuật, thể thao: Mục tiêu của các hoạt động
văn hóa, nghệ thuật, thể thao là nhằm nâng cao tri thức và thẩm mỹ cho mọi tầng
lớp dân cư nhằm xây dựng một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, có nội dung
nhân đạo, dân chủ và tiến bộ, phát triển đạo đức xã hội và truyền thống dân tộc. Các
mục tiêu của các hoạt động này cho phép mỗi công dân phát triển toàn diện về
chính trị, tư tưởng và đạo đức. Vì tính chất quan trọng của các hoạt động văn hóa,
nghệ thuật, thể thao nên việc thực hiện các mục tiêu của chúng gắn liền một khoản
cấp phát từ ngân sách nhà nước. Về nội dung khoản chi này bao gồm: chi cho hệ
thống thư viện, bao tàng, nhà văn hóa; chi cho hệ thống phát thanh, truyền hình và
các hoạt động thông tin khác; chi cho các hoạt động biểu diễn nghệ thuật và các

đúng quy định pháp luật và phân cấp NSNN, nhằm sử dụng ngân sách đúng mục
đích, hiệu quả, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển KT-XH trên địa bàn quận.
Như vậy, chủ thể quản lý chi ngân sách cấp quận: Chính quyền quận
Đối tượng: NSNN cấp quận
Phương thức: Quản lý chi ngân sách nhà nước cấp quận theo luật định, theo
chiến lược, Kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế- xã hội của cả nước, Thành phố


22

Hà Nội và của Quận.
Các nguyên tắc quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn quận trực
thuộc thành phố trung ương:
- Công tác chi NSNN cấp quận phải được quản lý hiệu quả, tiết kiệm. Nguyên
tắc này là một tất yếu của hoạt động ngân sách. Tính tất yếu đó được bắt nguồn từ
thực tế nhu cầu chi ngân sách của nhà nước ngày càng tăng, khả năng sinh lợi các
khoản chi thường ở thời gian dài và khó xác định bằng tiêu thức cụ thể. Các khoản
chi NSNN nói chung có đặc điểm là bao cấp với khối lượng chi tiêu lớn. Trong thực
tế, trải qua một thời gian dài với quan điểm chi với bất cứ giá nào đã gây ra tình
trạng lãng phí, kém hiệu quả trong việc sử dụng các khoản chi NSNN, đặc biệt là
các khoản chi xây dựng cơ bản. Mặt khác, trong xu hướng hiện nay tỷ trọng các
khoản chi của ngân sách nhà nước cho tiêu dùng ngày càng lớn, cho nên xét ở góc
độ thuần tuý về mặt kinh tế thì đó là các khoản chi không sinh lợi chính vì vậy
nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả trong chi ngân sách càng phải được quan tâm. Do
vậy cần phải quán triệt nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả trong các khoản chi NSNN.
- Các khoản chi ngân sách phải được dự toán, tổng hợp đầy đủ vào ngân sách
nhà nước.Tuân thủ nguyên tắc này nhằm tạo tiền đề cần thiết cho việc bảo đảm tính
cân đối trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội và là cơ sở để thực hiện nguyên tắc
tiết kiệm trong chi ngân sách nhà nước. Nguyên tắc này đòi hỏi mọi khoản chi tiêu
của ngân sách nhà nước phải được thực hiện trên cơ sở những dự toán có cơ sở và

chi. Việc sử dụng nguyên tắc này là kết hợp giữa việc quản lý tập trung và phát huy
tính độc lập, vận dụng linh hoạt đạt hiệu quả cao trong việc sử dụng nguồn vốn ngân
sách đối với từng đơn vị dự toán.
- Nguyên tắc ngân sách nhà nước cần đảm bảo cân đối kinh phí hoạt động của
tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương
- Kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã
hội - nghề nghiệp được thực hiện theo nguyên tắc tự bảo đảm; ngân sách nhà nước
chỉ hỗ trợ các nhiệm vụ Nhà nước giao theo quy định của Chính phủ.
- Nguyên tắc bảo đảm chi trả các khoản nợ lãi đến hạn thuộc nhiệm vụ chi của
ngân sách nhà nước địa phương.
- Việc quyết định đầu tư và chi đầu tư chương trình, dự án có sử dụng vốn ngân


24

sách nhà nước phải phù hợp với Luật đầu tư công và quy định pháp luật có liên quan
- Ngân sách nhà nước không hỗ trợ kinh phí hoạt động cho các quỹ tài chính
nhà nước ngoài ngân sách.
- Các khoản chi ngân sách quận phải cân đối với các khoản thu NSNN của
quận: Chi NSNN quận dựa trên cơ sở có nguồn thu thực tế từ nền kinh tế. Nó đòi
hỏi mức độ chi và cơ cấu các khoản chi phải dựa vào khả năng tăng trưởng GDP
của quận. Nếu vi phạm nguyên tắc này sẽ dẫn dến tình trạng bội chi ngân sách, một
nguyên nhân gây mất ổn định cho sự phát triển KT-XH, ổn định chính trị của quận.
- Đảm bảo yêu cầu cân đối giữa khả năng và nhu cầu trong quản lý và điều
hành ngân sách: việc đảm bảo nguyên tắc cấp phát ngân sách và sử dụng nguồn vốn
ngân sách nhà nước phù hợp với khả năng là một đòi hỏi khách quan không chỉ xuất
phát từ tình hình thu ngân sách mà đó là đòi hỏi của việc sử dụng ngân sách nhà
nước làm công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước. Muốn thực hiện được nguyên tắc
này tất yếu phải khai thác đầy đủ kịp thời, đúng chế độ, chính sách các nguồn thu
của ngân sách đồng thời định ra chế độ chi của ngân sách nhà nước hợp lý.

động phân bổ và sử dụng kinh phí theo nhu cầu thực tế của đơn vị mình.
- Nguyên tắc chi trả trực tiếp qua KBNN. KBNN là cơ quan tài chính được
Nhà nước giao nhiệm vụ quản lý quỹ NSNN, do vậy có nhiệm vụ trực tiếp thanh
toán mọi khoản chi ngân sách. KBNN có nhiệm vụ kiểm soát mọi khoản chi ngân
sách và có quyền từ chối đối với các khoản chi sai chế độ và chịu trách nhiệm về
quyết định của mình. Các khoản chi ngân sách phải được thanh toán trực tiếp đến
các đối tượng thụ hưởng, hạn chế tối đa thanh toán qua trung gian. Để thực hiện tốt
nguyên tắc này yêu cầu các đơn vị dự toán phải mở tài khoản tại KBNN để thực
hiện các giao dịch của mình, chịu sự kiểm tra của KBNN trong quá trình sử dụng
kinh phí do ngân sách cấp phát, sử dụng nguồn thu sự nghiệp của đơn vị, kể cả quá
trình lập dự toán và quyết toán của đơn vị.
- Phân biệt rõ nhiệm vụ kinh tế - xã hội của các cấp chính quyền theo luật định
để bố trí các khoản chi chồng chéo, khó kiểm tra, giám sát, nâng cao trách nhiệm và
tính chủ động của các cấp.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status