Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế thu nhập doanh nghiệp - Pdf 41

TÔNG CỤC THUẾ
CỤC THUẾ TỈNH TT HUẾ
__________

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
____________________
Huế, ngày 15 tháng 10 năm 2013

BÁO CÁO SÁNG KIẾN ĐỀ NGHỊ CẤP CỤC CÔNG NHẬN
TÊN ĐỀ TÀI: “Giải

pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác
kiểm tra thuế TNDN”

Tác giả: Lê Văn Hà
I. Phần mở đầu:
1, Đặt vấn đề
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) được Quốc hội nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi
hành từ ngày 01/01/1999 thay cho Luật thuế lợi tức. Ngoài chức năng đảm
bảo nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước (NSNN), thuế TNDN
còn là công cụ thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công
bằng xã hội; khuyến khích, thúc đẩy sản xuất (SX), kinh doanh (KD) phát
triển theo chiều hướng kế hoạch, chiến lược và toàn diện của Nhà nước.
Thực trạng công tác kiểm tra thuế TNDN tại Cục thuế tỉnh Thừa
Thiên Huế trong những năm qua vẫn còn bộc lộ những hạn chế, Luật thuế
TNDN còn có nhiều bất cập, nhiều vướng mắc trong việc quy định về xác
định doanh thu tính thuế TNDN; các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ được tính
giảm trừ khi xác định TNCT; về đối tượng nộp thuế TNDN; về chế độ miễn
giảm thuế; về quyết toán thuế TNDN … do đó dễ tạo những kẽ hở trong

II. Phần nội dung
1, Hướng giải quyết thực trạng cải tiến nhằm nâng cao hiệu quả
công tác kiểm tra thuế TNDN trên địa bàn Cục thuế tỉnh Thừa Thiên
Huế
1.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế TNDN trên địa bàn
Cục thuế Thừa Thiên Huế.

Xuất phát từ thực trạng công tác kiểm tra thuế TNDN trên địa bàn
Cục thuế tỉnh Thừa Thiên Huế, từ xu thế phát triển và hội nhập, từ yêu cầu
cải cách và hiện đại hóa công tác quản lý thu thuế đòi hỏi sự cần thiết phải
hoàn thiện về cơ chế, quy trình quản lý thuế nhằm nâng cao chất lượng hoạt
động kiểm tra thuế TNDN. Với kinh nghiệm thực tế, với trình độ nhận thức
và nghiên cứu tuy còn hạn chế, tác giả đưa ra một số ý kiến nhằm tăng
cường kiểm tra thuế TNDN trên địa bàn Cục thuế tỉnh Thừa Thiên Huế .
2, Giải pháp các bước triển khai tổ chức thực hiện:
3.2.1. Sử dụng kỹ thuật phân tích rủi ro trong việc lập kế hoạch
kiểm tra thuế TNDN tại CSKD
Rủi ro về thuế được hiểu một cách chung nhất là những sự kiện
không tuân thủ cơ chế, chính sách và pháp luật thuế xảy ra như không kê


khai thuế, không nộp thuế, mua bán khống hóa đơn hoặc cán bộ thuế không
làm đúng quy trình quản lý thuế, quy trình thanh tra thuế, ...Từ đó rủi ro về
thuế được tiếp cận trên diện rộng: rủi ro từ môi trường kiểm tra thuế TNDN;
từ hệ thống pháp luật chưa đồng bộ; rủi ro từ thủ tục hành chính thuế rườm
rà, sơ hở; rủi ro từ phương thức, biện pháp quản lý thuế TNDN chưa phù
hợp; rủi ro từ trình độ và nhận thức trách nhiệm của cán bộ thuế...
Thanh tra, kiểm tra là một trong những công cụ quan trọng nhất để
quản lý rủi ro về thuế. Mặt khác, yêu cầu của cải cách và hiện đại hóa công
tác kiểm tra thuế của Luật quản lý thuế sửa đổi bổ sung là phải đổi mới cách

định được các rủi ro và định lượng được mức độ rủi ro ở mức độ cao hoặc
trung bình đều phải đưa vào kế hoạch kiểm tra của cơ quan Thuế. Cụ thể:
Kiểm tra thuế TNDN đối với các DN đã xác định được các rủi ro và
định lượng được mức độ rủi ro trung bình đối với các DN loại trung bình,
quy mô nhỏ nhằm phát hiện kịp thời những sai sót, vi phạm về thuế. Thông
qua đó nhắc nhở, hướng dẫn để ĐTNT khắc phục các sai sót, nâng cao tính tự
giác tuân thủ pháp luật thuế trên địa bàn Cục thuế tỉnh Thừa Thiên Huế .
3.2.3.2. Xác định các hành vi trốn thuế TNDN phổ biến
Để có biện pháp phù hợp trong việc thanh tra thuế TNDN tại DN,
trước tiên phải xác định một số hành vi gian lận, mánh khóe trốn lậu thuế
TNDN có tính phổ biến hiện nay trên địa bàn Cục thuế tỉnh Thừa Thiên Huế
như sau:
* Về doanh thu tính thuế TNDN: các DN thường có hành vi gian lận,
trốn thuế TNDN qua doanh thu bằng các hình thức sau:
- Không xuất hóa đơn và kê khai doanh thu phát sinh theo quy định,
thường gặp ở các DN KD nhà hàng khách sạn, vận tải, xăng dầu, xây dựng
(nhà dân và đơn vị xây dựng vãng lai), KD vật liệu xây dựng, kim khí điện
máy, hàng trang trí nội thất...hoặc cung cấp hàng hóa dịch vụ nhưng mua, sử
dụng hóa đơn của đơn vị khác giao cho khách hàng và không kê khai nộp
thuế TNDN.
- Một số trường hợp có phát sinh hoạt động KD đột xuất, nhưng DN
không kê khai hoặc kê khai không trung thực với cơ quan thuế nhằm trốn
thuế TNDN như bán lại thầu công trình để hưởng chênh lệch, bán tài sản cố
định.
- Kê khai doanh thu thấp hơn thực tế thanh toán, nhất là các trường
hợp cung cấp hàng hóa dịch vụ cho các cá nhân, thường tập trung ở các DN
KD nhà hàng khách sạn, xe gắn máy, xăng dầu, vật liệu xây dựng, kim khí
điện máy...
- Nhượng bán, trao đổi vật tư không ghi nhận doanh thu mà chỉ hạch
toán thay đổi cơ cấu tài sản lưu động bằng các bút toán nhập, xuất, thu, chi

giá trị nguyên vật liệu, sản phẩm, hàng hóa tồn kho; không đánh giá sản
phẩm dở dang cuối kỳ, kể cả giá trị xây lắp dở dang mà tính hết vào chi phí
trong kỳ.
- Một số DN thương mại thường không phân bổ chi phí thu mua cho
hàng tồn kho mà tính hết vào chi phí KD trong kỳ.
- Các đơn vị SX thường xây dựng định mức vật tư cho một đơn vị sản
phẩm cao hơn thực tế làm tăng chi phí nguyên vật liệu, hoặc không xây
dựng định mức vật tư làm khó khăn cho công tác kiểm tra xác định của cơ
quan thuế.
- Về chi phí khấu hao tài sản: Một số DN đưa vào chi phí khoản trích
khấu hao các tài sản không dùng cho SXKD, hoặc tài sản dùng cho mục đích
phúc lợi; hoặc trích khấu hao theo mức cao hơn quy định; Một số DN tư
nhân, hợp tác xã kê khai chi phí khấu hao không phải là tài sản của DN.


- Chi phí tiền lương theo hợp đồng lao động và thực tế chi trả cho
người lao động khó kiểm tra xác định, không loại trừ trường hợp DN chi trả
thấp hơn hợp đồng lao động nhưng hạch toán chi phí tiền lương theo hợp
đồng lao động.
- Một số DN kê khai khoản chi phí khuyến mại, quảng cáo vượt tỷ lệ
quy định, hoặc đưa vào loại tài khoản loại 6 để giấu khoản chi vượt này.
- Một số DN tư nhân, công ty TNHH mà các thành viên có quan hệ
gia đình với nhau thường đưa các khoản chi phí tiếp khách riêng, chi phí
phục vụ cho nhu cầu cá nhân (có hóa đơn) vào chi phí của công ty.
- Đưa một số khoản chi mà thực tế DN không chi trả vào chi phí của
DN như chi phí vận tải quốc tế trong trường hợp xuất khẩu theo giá FOB,
chi phí mua hộ nguyên phụ liệu trong trường hợp nhận gia công...
- Chia nhỏ các khoản chi phí không có chứng từ thành nhiều khoản
chi trong cùng một ngày.
- Một số trường hợp DN kê khai cao khoản chi mua đất của người dân

sử dụng hóa đơn bất hợp pháp.
+ Tổ chức kiểm kê vật tư, sản phẩm, hàng hóa tồn kho, sản phẩm dở
dang, tính lại giá thành và chi phí SXKD của DN; xác định lượng tiêu thụ
trong kỳ để xác định doanh thu tính thuế TNDN thực tế phát sinh (tùy
trường hợp).
+ Đi sâu kiểm tra các khoản doanh thu tăng, giảm đột biến; các khoản
chi phí có diễn biến bất thường, tỷ trọng tăng đột biến; đối chiếu với sổ phụ
ngân hàng.
+ Kiểm tra, đối chiếu xác định các định mức vật tư có phù hợp với các
DN SX cùng mặt hàng; Kiểm tra chi phí tiền lương theo hợp đồng và thực tế
chi trả cho người lao động, gắn với việc theo dõi chấm công thực tế và việc
nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của DN tại thời điểm kiểm tra.
+ Kiểm tra chi tiết từng công trình xây dựng, xác định khối lượng
hoàn thành, tình hình công nợ để phát hiện kịp thời trường hợp không khai
báo doanh thu, che dấu doanh thu tính thuế TNDN (tùy theo loại hình hoạt
động của DN).
+ Kiểm tra phân bổ lại các khoản chi phí theo đúng quy định, xác định
lại các khoản chi quảng cáo, khuyến mại...vượt tỷ lệ hoặc không đúng quy
chế.
+ Kiểm tra các khoản chi phí có tính chất phục vụ cho tiêu dùng cá
nhân hoặc phúc lợi tập thể như tiếp khách, mua sắm phương tiện đi lại,
phương tiện nghe nhìn... nhất là đối với các DN tư nhân, các công ty mà các
thành viên có quan hệ gia đình.
+ Kiểm tra các trường hợp hủy hóa đơn, các trường hợp giảm giá, các
khoản chiết khấu có đúng quy định không để xác định đúng doanh thu thực
tế.
+ Kiểm tra, đối chiếu danh mục tài sản cố định trên sổ kế toán và thực
tế sử dụng, hồ sơ tài sản, mục đích sử dụng của tài sản, xác định nguyên giá,
phương pháp trích khấu hao để xác định đúng khoản chi phí khấu hao.
+ Tổ chức xác minh hóa đơn đầu vào, đầu ra của DN, tập trung những

hồ sơ ...)
Tóm lại, để nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế TNDN tại DN thì
ngoài việc chuyển đổi mục tiêu trong công tác chuẩn bị kiểm tra thuế TNDN
để chọn lựa đối tượng có hành vi gian lận về thuế TNDN, mức độ rủi ro lớn;
thì còn phải phổ biến sâu rộng đến toàn bộ cán bộ làm công tác thanh tra về
cách nhận dạng các hành vi gian lận, trốn thuế TNDN phổ biến; các biện pháp
kiểm tra để xác định từng hành vi, số thuế TNDN gian lận; kỹ năng và nghiệp
vụ về kiểm tra, về khả năng sử dụng các thiết bị tin học nhằm kiểm soát chặt
chẽ thuế TNDN trên địa bàn Cục thuế tỉnh Thừa Thiên Huế .


2, Giải pháp các bước triển khai tổ chức thực hiện:
3, Hiệu quả của cải tiến:
*Về công tác kiểm tra, giám sát hồ sơ kê khai thuế tại cơ quan
thuế.
- Tiến độ thực hiện số lượng DN kiểm tra tại Văn phòng Cục thuế
Thừa Thiên Huế : 130 DN/ KH 130DN đạt 100%
- Số cuộc kiểm tra có truy thu : 115 DN.
- Kết quả xử lý truy thu : 9,7 tỷ; giảm lỗ: 4,5 tỷ
III. Phần kết luận
1. Đề xuất:
Từ thực tế đã triển khai để nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra. Kiến
nghị đối với công tác kiểm tra thuế tập trung thu thập thông tin, xác minh
hoá đơn cơ quan Quản lý dự án, Hải quan, Kho bạc, các Ngân hàng thương
mại, một số doanh nghiệp lớn và các cơ quan liên quan khác trước khi kiểm
tra theo chuyên đề .
Trên đây là những những biện pháp hữu ích bản thân đã làm được trong
năm 2013 xin báo cáo Hội đồng Thi đua Khen thưởng xem xét ./.
Xác nhận thủ trưởng đơn vị


cụ thể đối với cơ quan Thuế và công chức thuế như sau:
Một là, tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý thuế, sắp xếp tổ chức bộ máy quản
lý thuế, phân rõ chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận tại Cục Thuế, Chi cục
Thuế.
Hai là, tăng cường công tác phân tích thông tin, phát hiện các dấu hiệu
nghi ngờ vi phạm về thuế để kịp thời thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành
vi vi phạm pháp luật về thuế.
Ba là, phải phân định rõ ràng giữa nghĩa vụ kê khai thuế, nộp thuế của DN
với trách nhiệm phát hiện hành vi vi phạm về thuế để thực hiện kiểm tra, thanh tra
thuế của cơ quan Thuế.


Bốn là, cán bộ thuế phải nắm vững chính sách, chế độ thuế; có ý thức trách
nhiệm cao, tuân thủ đúng quy định nghiệp vụ và các bước công việc trong quy
trình.
Năm là, tăng cường trang bị cơ sở vật chất, thiết bị làm việc để đảm bảo
khai thác thông tin phục vụ kịp thời cho công tác quản lý và chỉ đạo thu thuế
TNDN.
1.3.2. Các nhân tố từ phía cơ quan Thuế
- Việc bố trí bộ máy quản lý thuế tại cơ quan Thuế chưa hợp lý, việc phân
công nhiệm vụ của các bộ phận theo quy trình chưa đồng bộ dẫn đến nhiều chức
năng còn chồng chéo (như: chức năng thanh tra, kiểm tra ĐTNT; giải quyết đơn
khiếu nại; hướng dẫn, chỉ đạo công tác quản lý thuế, ...); một số chức năng lại
chưa có bộ phận chuyên trách đảm nhiệm (như: chức năng cưỡng chế thuế, chức
năng pháp chế, ...) cũng gây ảnh hưởng đến việc thanh tra, kiểm tra thuế TNDN.
- Về tổ chức mạng nội bộ: thực hiện tốt việc nối mạng nội bộ ngành Thuế
trong cả nước tạo điều kiện cho cơ quan Thuế thực hiện các chương trình quản lý
thuế đạt hiệu quả cũng như việc thu thập mọi thông tin về ĐTNT được đầy đủ và
kịp thời, giúp cho công tác chống gian lận về thuế TNDN đạt được hiệu quả.
- Về nhân tố con người: công chức thuế hạn chế về trình độ chuyên môn,

- Tình trạng trốn thuế, lậu thuế, gian lận về thuế TNDN, nợ đọng thuế xảy
ra ở tất cả DN thuộc mọi ngành nghề KD ngày càng tăng, vừa làm thất thu cho
NSNN, vừa không bảo đảm công bằng xã hội;
- Các hành vi trốn thuế, lách thuế TNDN thông qua việc hạch toán kế toán
xảy ra ở tất cả mọi ngành nghề KD mà thường ở loại hình DN ngoài quốc doanh
đang trở nên phổ biến. Các hành vi cụ thể:
• Về hạch toán doanh thu: bỏ ngoài sổ sách, không hạch toán hoặc hạch
toán thiếu các khoản doanh thu và thu nhập khác phát sinh trong kỳ để xác định
TNCT,...
• Về chi phí: hạch toán trực tiếp hoặc gián tiếp để kết chuyển các khoản chi
phí không được tính vào chi phí hợp lý, hợp lệ để xác định TNCT trong kỳ như:
+ Tiền lương, tiền công do CSKD không thực hiện đúng chế độ hợp đồng lao
động theo quy định của pháp luật về lao động; tiền lương, tiền công của chủ DN tư
nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, chủ hộ cá thể, cá nhân KD. Thù
lao trả cho các sáng lập viên, thành viên của hội đồng quản trị của các công ty
TNHH, công ty cổ phần không trực tiếp tham gia điều hành SXKD hàng hóa, dịch
vụ.
+ Các khoản tiền phạt vi phạm luật giao thông, phạt vi phạm chế độ đăng
ký kinh doanh, phạt vay nợ quá hạn, phạt vi phạm chế độ kế toán thống kê, phạt vi
phạm hành chính về thuế và các khoản phạt khác.
+ Các khoản chi không liên quan đến doanh thu và TNCT như: chi về đầu
tư xây dựng cơ bản; chi ủng hộ các đoàn thể, tổ chức xã hội và ủng hộ địa
phương; chi từ thiện và các khoản chi khác không liên quan đến doanh thu, TNCT;
các khoản chi do nguồn kinh phí khác đài thọ và các khoản chi phí không hợp lý
khác.


+ Các khoản trích trước vào chi phí mà thực tế không chi hết như: chi phí
sửa chữa tài sản cố định; phí bảo hành sản phẩm hàng hóa, công trình xây dựng và
các khoản trích trước khác. Các khoản chi không có hóa đơn, chứng từ theo chế độ

TNDN trên địa bàn TP Đà Nẵng
Xuất phát từ thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế TNDN trên địa
bàn TP Đà Nẵng, từ xu thế phát triển và hội nhập, từ yêu cầu cải cách và hiện đại
hóa công tác quản lý thu thuế đòi hỏi sự cần thiết phải hoàn thiện về cơ chế, quy
trình quản lý thuế nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế
TNDN. Với kinh nghiệm thực tế, với trình độ nhận thức và nghiên cứu tuy còn


hạn chế, tác giả đưa ra một số ý kiến nhằm tăng cường thanh tra, kiểm tra thuế
TNDN trên địa bàn TP Đà Nẵng.
3.2.1. Sử dụng kỹ thuật phân tích rủi ro trong việc lập kế hoạch thanh
tra thuế TNDN tại CSKD
Rủi ro về thuế được hiểu một cách chung nhất là những sự kiện không tuân
thủ cơ chế, chính sách và pháp luật thuế xảy ra như không kê khai thuế, không nộp
thuế, mua bán khống hóa đơn hoặc cán bộ thuế không làm đúng quy trình quản lý
thuế, quy trình thanh tra thuế, ...Từ đó rủi ro về thuế được tiếp cận trên diện rộng:
rủi ro từ môi trường thanh tra, kiểm tra thuế TNDN; từ hệ thống pháp luật chưa
đồng bộ; rủi ro từ thủ tục hành chính thuế rườm rà, sơ hở; rủi ro từ phương thức,
biện pháp quản lý thuế TNDN chưa phù hợp; rủi ro từ trình độ và nhận thức trách
nhiệm của cán bộ thuế...
Thanh tra, kiểm tra là một trong những công cụ quan trọng nhất để quản lý
rủi ro về thuế. Mặt khác, yêu cầu của cải cách và hiện đại hóa công tác thanh tra
thuế là phải đổi mới cách thức, phương pháp thanh tra bằng kỹ thuật quản lý rủi ro
về thuế dưới sự hỗ trợ của công nghệ tin học.
- Về phương pháp:
Bao gồm 5 bước, bước một: phân loại DN từ hồ số lưu trữ; bước hai: phân
tích theo chiều ngang, chiều dọc và theo tỷ suất các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính;
bước ba: phân loại rủi ro; bước bốn: kiểm tra rủi ro; bước năm: lập kế hoạch thanh
tra tại CSKD. Nội dung cụ thể các bước tiến hành như sau:
• Bước một: Phân loại DN từ các hồ sơ lưu trữ tại cơ quan Thuế như: tờ

biến hiện nay tại TP Đà Nẵng như sau:
* Về doanh thu tính thuế TNDN: các DN thường có hành vi gian lận, trốn
thuế TNDN qua doanh thu bằng các hình thức sau:
- Không xuất hóa đơn và kê khai doanh thu phát sinh theo quy định, thường
gặp ở các DN KD nhà hàng khách sạn, vận tải, xăng dầu, xây dựng (nhà dân và
đơn vị xây dựng vãng lai), KD vật liệu xây dựng, kim khí điện máy, hàng trang trí
nội thất...hoặc cung cấp hàng hóa dịch vụ nhưng mua, sử dụng hóa đơn của đơn vị
khác giao cho khách hàng và không kê khai nộp thuế TNDN.
- Một số trường hợp có phát sinh hoạt động KD đột xuất, nhưng DN không
kê khai hoặc kê khai không trung thực với cơ quan thuế nhằm trốn thuế TNDN
như bán lại thầu công trình để hưởng chênh lệch, bán tài sản cố định.
- Kê khai doanh thu thấp hơn thực tế thanh toán, nhất là các trường hợp
cung cấp hàng hóa dịch vụ cho các cá nhân, thường tập trung ở các DN KD nhà
hàng khách sạn, xe gắn máy, xăng dầu, vật liệu xây dựng, kim khí điện máy...
- Nhượng bán, trao đổi vật tư không ghi nhận doanh thu mà chỉ hạch toán
thay đổi cơ cấu tài sản lưu động bằng các bút toán nhập, xuất, thu, chi hoặc công
nợ phải thu, phải trả; bán phế liệu không xuất hóa đơn, không ghi nhận doanh thu
hoặc hạch toán giảm chi phí SX;
- Giảm trừ doanh thu tính thuế TNDN thông qua các hình thức giảm giá,
chiết khấu không đúng quy định.
- Giá xuất khẩu, giá gia công đầu ra thấp hơn giá vốn hàng bán, chi phí gia
công thực tế nhưng phù hợp với hợp đồng (tức là hợp đồng khác với thực tế).


- Kê khai doanh thu không kịp thời nhằm kéo dãn thời gian phải nộp thuế,
thường xảy ra ở các DN xây dựng, bằng cách chuyển doanh thu đã phát sinh treo
trên tài khoản doanh thu chưa thực hiện, hạch toán vào tài khoản phải trả khác ...
- Một số DN có vốn đầu tư nước ngoài thông qua giao dịch với công ty mẹ,
các công ty thành viên trong cùng hệ thống để thực hiện định giá chuyển giao
nhằm làm giảm số thuế TNDN phải nộp ở Việt Nam.

cầu cá nhân (có hóa đơn) vào chi phí của công ty.


- Đưa một số khoản chi mà thực tế DN không chi trả vào chi phí của DN
như chi phí vận tải quốc tế trong trường hợp xuất khẩu theo giá FOB, chi phí mua
hộ nguyên phụ liệu trong trường hợp nhận gia công...
- Chia nhỏ các khoản chi phí không có chứng từ thành nhiều khoản chi
trong cùng một ngày.
- Một số trường hợp DN kê khai cao khoản chi mua đất của người dân
(trước khi làm thủ tục thuê đất) trên hợp đồng để được lợi khi phân bổ khoản chi
này theo thời hạn thuê đất.
3.2.3.3. Nội dung thực hiện thanh tra thuế TNDN tại CSKD
Trên cơ sở nhận dạng các hành vi, mánh khoé, thủ đoạn trốn thuế, gian lận
thuế TNDN, nhằm hạn chế tình trạng thất thu ngân sách thì tác giả đề xuất một số
biện pháp thanh tra, kiểm tra quyết toán thuế TNDN tại DN như sau:
- Trước khi tiến hành thanh tra, kiểm tra tại DN cán bộ kiểm tra phải nghiên
cứu kỹ cơ sở dữ liệu của DN, các báo cáo tài chính, quyết toán thuế TNDN của
DN; quá trình chấp hành pháp luật về thuế của DN; mặt hàng DN SXKD, quy
trình SX, thị trường tiêu thụ, các khách hàng chính của DN; nguồn nhập nguyên
liệu, tỷ suất lợi nhuận của DN...trên cơ sở đó rút ra những nhận định, đánh giá ban
đầu: khả năng thất thu, mức độ thất thu, khoản doanh thu nào hoặc khoản mục chi
phí nào DN có thể lợi dụng để gian lận thuế, trốn thuế TNDN...từ đó có định
hướng và xây dựng đề cương kiểm tra cụ thể tại DN. Tùy theo đặc điểm của từng
DN mà có đề cương kiểm tra quyết toán và thanh tra chống thất thu khác nhau.
- Khi tiến hành kiểm tra tại DN, tùy theo nội dung đề cương kiểm tra, thanh
tra, cán bộ kiểm tra lựa chọn thực hiện các công việc sau:
+ Đọc, phân tích đánh giá các Báo cáo tài chính, nhất là bảng cân đối kế
toán, bảng cân đối tài khoản. Đối chiếu số liệu kê khai các khoản thuế hàng tháng,
tỷ trọng từng khoản mục chi phí với số liệu DN kê khai ít nhất một năm trước đó.
+ Xem xét quá trình luân chuyển chứng từ tại DN.

pháp trích khấu hao để xác định đúng khoản chi phí khấu hao.
+ Tổ chức xác minh hóa đơn đầu vào, đầu ra của DN, tập trung những hóa
đơn có giá trị từ 50.000.000 đồng trở lên, và hóa đơn mua, bán với những khách
hàng không thường xuyên...
Để thực hiện được giải pháp này cần phải thay đổi từ nhận thức đến cách
làm như hiện nay, cụ thể:
Thứ nhất, Đổi mới công tác xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra.
Đổi mới công tác xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra phải chuyển sang
từ việc lựa chọn đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế hàng quý, hàng năm có kế
hoạch tổng thể và kế hoạch chi tiết cho từng bộ phận, đồng thời xác định rõ trách
nhiệm và quyền hạn của từng bộ phận trong việc xây dựng kế hoạch (ví dụ như
thanh tra, kiểm tra những đối tượng nào: DN lớn, vừa, nhỏ; đối tượng nào thì cần
phải thanh tra ? thanh tra theo những nội dung gì ? toàn diện hay không toàn
diện ? ,....)
Thứ hai, cách thức tiến hành thanh tra, kiểm tra tại CSKD cũng cần phải
thay đổi cho phù hợp, cần loại bỏ cách làm tùy tiện, ngẫu hứng, không có đề
cương, kế hoạch cụ thể dẫn đến tình trạng bỏ sót việc, bỏ sót nội dung, gây khó
khăn và phiền hà cho CSKD. Do vậy cần phải xây dựng đề cương thanh tra, kiểm


tra một cách chi tiết trước khi tiến hành thanh tra, kiểm tra tại CSKD (ví dụ: xây
dựng đề cương thanh tra gồm những nội dung gì? Thời gian nào thì làm những
công việc cụ thể? Ai chịu trách nhiệm về nội dung đó? Tài liệu yêu cầu bao gồm
những gì? ...)
Thứ ba, việc kết luận thanh tra kiểm tra cũng cần phải thay đổi. Hiện nay
các biên bản kết luận thanh tra, kiểm tra còn ghi rất chung chung, sơ sài, không cụ
thể và theo cảm tính của người làm công tác thanh tra.
Thứ tư, cần thực hiện đúng mốc thời gian quy định trong từng công đoạn
thanh tra, kiểm tra (ví dụ: thời gian cần thiết để gửi quyết định thanh tra đến
ĐTNT trước khi tiến hành là 7 ngày, kiểm tra là 3 ngày; thời gian tối đa để tiến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status