ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM ĐÌNH VINH
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP NGÔ LAI
MỚI CHỌN TẠO TẠI TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Thái Nguyên – 2016
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM ĐÌNH VINH
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP NGÔ LAI
MỚI CHỌN TẠO TẠI TỈNH YÊN BÁI
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: 1. TS. KIỀU XUÂN ĐÀM
2. TS. TRẦN TRUNG KIÊN
Thái Nguyên – 2016
Và cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới gia đình, bạn bè
những người luôn quan tâm cổ vũ, động viên cho tôi trong suốt thời gian học
tập và nghiên cứu vừa qua.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 03 tháng 12 năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Đình Vinh
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................ii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ................................................................ v
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ..........................................................................vii
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Đặt vấn đề.................................................................................................. 1
2. Mục đích của đề tài ................................................................................... 2
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài ..................................... 2
3.1. Ý nghĩa khoa học ................................................................................... 2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn .................................................................................... 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................. 3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ...................................................................... 3
1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới .................................... 4
1.2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới ................................................ 4
1.2.2. Tình hình tiêu thụ ngô trên thế giới.................................................. 7
Xuân Hè 2015 và vụ Hè Thu 2015 tại Văn Yên - Yên Bái ..................... 47
3.1.4. Trạng thái cây, trạng thái bắp và độ che kín bắp của các tổ hợp ngô
lai vụ Xuân Hè 2015 và vụ Hè Thu 2015 tại Văn Yên - Yên Bái ........... 52
3.2. Kết quả xây dựng mô hình trình diễn tổ hợp ngô lai triển vọng tại tỉnh
Yên Bái........................................................................................................ 62
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................................ 65
1. Kết luận ................................................................................................... 65
2. Đề nghị .................................................................................................... 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 67
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CCC
: Chiều cao cây
CCĐB
: Chiều cao đóng bắp
CIMMYT : International Maize and Wheat Improvement Center (Trung tâm
cải tạo giống ngô và lúa mỳ Quốc tế)
CS
: Cộng sự
CSDTL
: Năng suất lý thuyết
NSTT
: Năng suất thực thu
P
: Probability (Xác suất)
P1000 hạt
: Khối lượng 1000 hạt
PTNT
: Phát triển nông thôn
QPM
: Quality Protein Maize (Ngô chất lượng Protein cao)
USDA
: United State Department of Agriculture
(Bộ Nông nghiệp Mỹ)
vi
vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Hình 1.1: Diễn biến giá ngô giao tháng 9/2016 trên Sàn giao dịch hàng
hóa Chicago (CBOT)........................................................................... 8
Hình 1.2: Lượng ngô nhập khẩu của Việt Nam 2011-2016 (nghìn tấn) ......... 12
Hình 3.1: Chiều cao cây, chiều cao đóng bắp của các tổ hợp ngô lai thí
nghiệm vụ Xuân Hè 2015 tại Văn Yên - Yên Bái............................. 42
Hình 3.2: Chiều cao cây, chiều cao đóng bắp của các tổ hợp ngô lai thí
nghiệm vụ Hè Thu 2015 tại Văn Yên - Yên Bái ............................... 43
Hình 3.3: Năng suất lý thuyết, năng suất thực thu của các tổ hợp ngô
lai thí nghiệm vụ Xuân Hè 2015 tại Văn Yên - Yên Bái .................. 60
Hình 3.4: Năng suất lý thuyết, năng suất thực thu của các tổ hợp ngô
lai thí nghiệm vụ Hè Thu 2015 tại Văn Yên - Yên Bái..................... 60
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Cây ngô là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầ u, góp
phần nuôi sống 1/3 dân số thế giới, đảm bảo an ninh lương thực cho nhiều
quốc gia trên thế giới (Ngô Hữu Tình, 2003) [22]. Không chỉ cung cấp lương
thực cho con người, ngô còn là nguồn thức ăn quan trọng cho chăn nuôi, 66%
sản lượng ngô của thế giới được dùng làm thức ăn cho chăn nuôi. Ngoài ra ngô
còn được sử dụng làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp thực phẩm (sản
xuất rượu, cồn, tinh bột, bánh kẹo…) (Ngô Hữu Tình, 1997) [21].
Ở nước ta, diện tích trồng ngô tập trung chủ yếu ở vùng Trung du và miền
núi phía Bắc, được trồng ở nơi có độ dốc cao, không chủ động nước tưới, trình
hiệu quả cao nhất.
Xuất phát từ lợi ích và nhu cầu thực tế hiện nay, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số
tổ hợp ngô lai mới chọn tạo tại tỉnh Yên Bái”.
2. Mục đích của đề tài
Chọn được 1-2 tổ hợp ngô lai tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái làm cơ
sở cho công tác chọn tạo giống, đáp ứng các quy định công nhận giống để lựa
chọn bổ sung vào cơ cấu giống góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất ngô của
tỉnh Yên Bái.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở bước đầu cho việc tuyển chọn
giống ngô phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng.
- Bổ sung thêm dữ liệu khoa học về các giống ngô lai phù hợp với điều
kiện sinh thái vùng Tây Bắc.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đề tài góp phần làm đa dạng tập đoàn giống ngô phù hợp với điều kiện
sinh thái tại Yên Bái.
- Đề tài góp phần bổ sung vào cơ cấu giống cây trồng, tăng năng suất và
hiệu quả sản xuất ngô, khai thác tiềm năng đất đai, góp phần xoá đói giảm
nghèo, tăng thu nhập cho các hộ nông dân vùng miền núi.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Trong sản xuất nông nghiệp giống là một nhân tố quyết định năng suất,
chất lượng của sản phẩm, các biện pháp kỹ thuật canh tác chỉ có thể đạt được
cả nước (chỉ bằng 73,4%). Hiện nay, cơ cấu giống ngô của tỉnh sử dụng là các
giống địa phương và giống thụ phấn tự do còn cao. Các giống ngô lai được
trồng nhiều ở vùng này lại chủ yếu là các giống ngô lai của các công ty giống
nước ngoài như Monsanto, Syngenta, Bioseed... được nhập nội hoặc sản xuất tại
Việt Nam và không phải tất cả các giống nhập nội đều có khả năng thích ứng tốt
với điều kiện sinh thái của Việt Nam. Tuy nhiên, các giống ngô lai được tạo ra
trong nước chiếm diện tích không đáng kể (< 30%). Vì vậy, việc lai tạo và khảo
sát tổ hợp lai nhằm chọn ra những giống ngô lai có năng suất cao và thích ứng
với điều kiện sinh thái của vùng là yêu cầu thiết thực và cấp bách.
1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới
1.2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
Ngô là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu, mặc dù chỉ
đứng thứ ba về diện tích sau lúa nước và lúa mì, nhưng ngô lại dẫn đầu về năng
suất và sản lượng, là cây trồng có tốc độ tăng trưởng về năng suất cao nhất trong
các cây lương thực chủ yếu. Ngô còn là cây điển hình được ứng dụng nhiều
thành tựu khoa học về các lĩnh vực di truyền học, chọn giống, công nghệ sinh
học, cơ giới hoá, điện khí hoá và tin học... vào công tác nghiên cứu và sản xuất.
Do vậy diện tích, năng suất ngô liên tục tăng trong những năm gần đây.
5
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2004- 2014
2004
Diện tích
(triệu ha)
147,47
Năng suất
2008
161,01
51,09
822,71
2009
156,93
50,04
790,18
2010
162,32
51,55
820,62
2011
170,39
51,84
Diện tích ngô trên toàn thế giới 147,47 triệu ha (năm 2004), sau 4 năm con
số này đã tăng hơn 13 triệu ha, lên 161,01 triệu ha. Năm 2009, diện tích giảm
xuống trên 4 triệu ha, còn 156,93 triệu ha. Đến năm 2013 so với năm 2004 thì diện
tích trồng ngô trên thế giới tăng hơn 36 triệu ha lên 184,24 triệu ha, năm 2014 diện
trồng ngô giảm còn 183,32 triệu ha (FAOSTAT, 2016) [36].
Năng suất nhìn chung là tăng năm 2003 là 44,60 tạ/ha đến năm 2014 là
56,64 tạ/ha tăng lên hơn 12 tạ/ha. So sánh giữa sản lượng và diện tích thì ta
thấy, từ năm 2003 tới năm 2014 thì diện tích tăng hơn 68,65 triệu ha, thì sản
lượng tăng hơn 393 triệu tấn. Năm 2012 năng suất và sản lượng ngô trên thế
giới đều giảm nhẹ so với năm 2011 khi đạt 49,16 tạ/ha và 872,06 triệu tấn.
Năm 2014 diện tích trồng ngô trên thế giới giảm so với năm 2013 nhưng năng
suất và sản lượng đều tăng (FAOSTAT, 2016) [36]. Chính điều này càng
khẳng định thêm vai trò và vị trí của cây ngô. Trên thế giới vẫn còn có nhiều
quốc gia, châu lục quan tâm đến cây ngô.
6
Qua bảng 1.2 cho thấy, Châu Mỹ là khu vực có diện tích trồng ngô lớn
nhất thế giới với 70,84 triệu ha, đồng thời đây cũng là châu lục có năng suất và
sản lượng ngô cao nhất. Năm 2014 năng suất ngô đạt 77 tạ/ha, năng suất bình
quân của thế giới chỉ bằng 73,5% năng suất của châu lục này, sản lượng đạt
526,4 triệu tấn - chiếm hơn 50,7% sản lượng ngô trên toàn thế giới.
Bảng 1.2. Tình hình sản xuất ngô ở một số châu lục trên thế giới năm 2014
Diện tích
Năng suất
Sản lượng
(triệu ha)
37,0
21,0
78,0
Khu vực
(Nguồn: FAOSTAT, 2016)[36]
Sau Châu Mỹ là Châu Á có diện tích trồng ngô lớn thứ 2 với 59,1 triệu
ha, nhưng năng suất của khu vực này chỉ đạt 51,5 tạ/ha, thấp hơn so với năng
suất trung bình của thế giới, sản lượng của Châu Á cũng đứng thứ 2 sau Châu
Mỹ. Châu Âu đứng thứ 2 trên thế giới về năng suất đạt 69 tạ/ha nhưng lại là
khu vực có diện tích trồng ngô thấp nhất (chỉ 18,8 triệu ha), Châu Phi có diện
tích đứng thứ 3 trên thế giới nhưng có năng suất ngô rất thấp, chỉ đạt 21 tạ/ha
thấp hơn gần 3 lần so với năng suất bình quân của thế giới, do đó sản lượng
ngô của khu vực này cũng thấp nhất.
Nguyên nhân của sự phát triển không đồng đều giữa các châu lục trên
thế giới là do sự khác nhau rất lớn về trình độ khoa học kỹ thuật, điều kiện tự
nhiên, điều kiện kinh tế chính trị… Ở châu Mỹ có trình độ khoa học phát triển
cao trong khi Châu Phi nền kinh tế kém phát triển cộng thêm tinh hình chính
trị an ninh không đảm bảo đã làm cho sản xuất nông nghiệp ở khu vực này tụt
hậu so với nhiều khu vực trên thế giới.
7
1.2.2. Tình hình tiêu thụ ngô trên thế giới
Thị trường ngô của thế giới trong vài năm trở lại đây có nhiều biến động
cả về lượng, địa bàn tiêu thụ, nước xuất khẩu và đặc biệt là giá cả. Yêu cầu
Lượng cung
Dự
trữ
đầu vụ
Sản
lượng
210,05
44.14
1,11
5,34
1,45
2,04
6,84
1.25
5.82
4.23
1.89
1,49
110.71
0,68
1.025,69
382,48
36,50
83,50
13,00
6,00
5,60
11,30
1,50
8,75
12,65
15,05
0,01
13,50 55,80
73,80
1,70
15,00 11,50
15,10
0,00
13,80 20,60
37,50
0,80
13,80 33,65
41,55
0,93
10,00
7,80
10,10
0,00
1,50
7,80
13,30
0,70
3,00 159,00 226,00
0,02
0,05
cầu. Nhu cầu ngô cho ngành chăn nuôi và sản xuất nhiên liệu sinh học của
Trung Quốc vẫn tăng mạnh, dự báo niên vụ 2016-2017 nước này sẽ tiêu thụ
226 triệu tấn ngô, chiếm 22,2% toàn cầu. Tiêu thụ ngô của EU đạt 73,8 triệu
tấn, vượt quá khả năng sản xuất của khu vực này, trong khi Brazil chỉ tiêu thụ
58 triệu tấn và vẫn là một trong những nước xuất khẩu ngô hàng đầu thế giới
(USDA, 2016)[40].
Giá ngô trên Sàn giao dịch hàng hóa Chicago (CBOT) đã liên tục giảm
trong mấy tháng quý 3/2016. Nguyên nhân do các lo lắng trên thị trường về sự
ảnh hưởng của diễn biến thời tiết đến hoạt động canh tác cây trồng giảm
xuống. Giá ngô giao tháng 9/2016 trên sàn CBOT cũng giảm còn 3,52
USD/giạ (1 giạ = 25,4 kg), giảm 0,5 cent tương ứng 1,5% so với phiên giao
dịch trước.
Nguyên nhân giá giảm là do các mô hình dự báo thời tiết cho thấy mưa sẽ
diễn ra tại các vùng trồng ngô chính tại Hoa Kỳ trong tháng 10/2016. Đồng thời dự
báo thời tiết cho thấy nhiệt độ trong thời gian tới sẽ không tăng cao như các dự báo
trước đây, điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc canh tác cây trồng.
Hình 1.1: Diễn biến giá ngô giao tháng 9/2016 trên Sàn giao dịch hàng hóa
Chicago (CBOT)
(Nguồn: Cục xúc tiến thương mại, 2016)[4]
9
Giá ngô (Mỹ) giao tháng 7/2016 là 344,26 US cent/bushel, tăng 3,64 US
cent/bushel (1,1%), so với cùng kỳ năm 2015 tăng 3,4%. Nguyên nhân tăng giá
do sau khi chính phủ Mỹ báo cáo dự trữ thấp một cách bất ngờ. Dự trữ ngô của
Mỹ giảm xuống mức thấp nhất 15 năm trước vụ thu hoạch mới sẽ bắt đầu vào
mùa thu này, thấp hơn mức dự kiến, do sản lượng ethanol tăng và nhu cầu từ
Trung Quốc cũng tăng (Cục xúc tiến thương mại, 2016)[4].
Các nước có lượng ngô xuất khẩu lớn nhất trên thế giới là Mỹ, Brazil,
2004
Diện tích
(nghìn ha)
991,1
Năng suất
(tạ/ha)
34,6
Sản lượng
(nghìn tấn)
3.430,9
2005
1.052,6
36,2
3.787,1
2006
1.033,1
37,3
3.854,5
4.606,3
2011
1.081,0
43,3
4.684,3
2012
1.118,2
42,9
4.803,2
2013
1.172,6
44,3
5.193,5
2014
1.179,0
ngày càng lớn.
Đặc biệt một thách thức lớn đang được đặt ra cho ngành sản xuất ngô
thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đó là tình trạng thay đổi khí hậu
toàn cầu: thiên tai, lũ lụt, hạn hán… xảy ra với mức độ ngày càng nghiêm
trọng hơn. Trong khi thế giới lại đang đứng trước nguy cơ bùng nổ dân số,
nhu cầu lương thực ngày càng tăng cao. Riêng với Việt Nam, một vấn đề
đáng được quan tâm và chú trọng trong thời gian tới đó là công tác giống và
cải thiện các biện pháp kỹ thuật sao cho phù hợp như: mật độ, khoảng cách,
phân bón, thời vụ, phòng trừ sâu bệnh hại và bảo quản sau thu hoạch. Theo
các chuyên gia thế giới và được các nhà hoạch định chính sách của Việt
Nam thừa nhận là năng suất ngô của chúng ta chưa cao chủ yếu là do khâu
tổ chức sản xuất. Ngô chỉ là cây trồng phụ khi không thể trồng cây khác,
nên các khâu thủy lợi, cơ giới hóa chưa được áp dụng đúng mức chính vì
vậy mà năng suất ngô của ta chỉ bằng 50% của Mỹ. Điều này đặt ra cho
ngành sản xuất ngô Việt Nam những thách thức và khó khăn to lớn, đặc biệt là
trong xu thế hội nhập và phát triển như hiện nay. Đòi hỏi đội ngũ chuyên môn
cũng như các nhà khoa học trong cả nước tiếp tục nỗ lực, nghiên cứu ra những
giống ngô va biện pháp kỹ thuất canh tác hiệu quả để nâng cao năng suất và chất
lượng của sản xuất ngô Việt Nam, góp phần vào sự phát triển của ngành nông
nghiệp Việt Nam.
1.3.2. Tình hình tiêu thụ ngô ở Việt Nam
Trong chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở Việt Nam là giảm
dần tỷ trọng ngành trồng trọt và tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi. Khi chăn nuôi
phát triển, nhu cầu thức ăn tăng nhanh, ngô là nguyên liệu chủ yếu trong chế
12
biến thức ăn chăn nuôi, nên nhu cầu ngày càng tăng. Sản xuất ngô trong nước
những năm gần đây không đủ cho nhu cầu trong nước. Hàng năm chúng ta
phải nhập một lượng ngô lớn để làm thức ăn chăn nuôi (Hình 1.2).
được những kết quả nhất định, nhờ có các chính sách hỗ trợ phát triển, áp dụng
các thành tựu khoa học kỹ thuật mới, được nông dân ứng dụng mạnh mẽ vào
sản xuất ngô cho nên diện tích, năng suất và sản lượng ngô trên địa bàn toàn
tỉnh tăng nhanh trong những năm gần đây.
Đặc biệt, tỉnh Yên Bái đã tập trung chỉ đạo tốt về việc mở rộng diện tích
và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong phát triển sản xuất cây ngô
nhất là diện tích sản xuất ngô đông trên đất 2 vụ lúa. Các tiến bộ kỹ thuật về
giống, kỹ thuật thâm canh ngô đông đã được hướng dẫn và áp dụng tại nhiều
địa phương. Mặc dù mức đầu tư thâm canh còn thấp song phù hợp với năng
lực đầu tư của người dân. Hiệu quả kinh tế từ sản xuất cây ngô đã đóng góp
một phần không nhỏ trong phát triển kinh tế xã hội của các địa phương và thu
nhập của người sản xuất. Sản lượng ngô hàng năm có ý nghĩa quyết định đến
tốc độ phát triển chăn nuôi tại các hộ gia đình các địa phương. Đã hình thành
được một số vùng sản xuất chuyên canh theo hướng sản xuất hàng hoá. Điển
hình sản xuất ngô đông trên đất 2 vụ lúa như: vùng cánh đồng Mường Lò (Văn
Chấn và Thị xã Nghĩa Lộ), vùng cánh đồng Đại Phú An (Văn Yên), Vĩnh Kiên
14
(Yên Bình) và các vùng phát triển mạnh canh tác ngô trên đất đồi tại các huyện
Trạm Tấu, Mù Cang Chải, Văn Chấn, Văn Yên, Lục Yên... Tuy nhiên do diện
tích sản xuất còn nhỏ lẻ, phân tán, địa hình canh tác chủ yếu trên đất dốc, mức
độ đầu tư phân bón cho thâm canh và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật còn hạn chế
là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến năng suất và sản lượng ngô của tỉnh Yên
Bái thấp hơn các tỉnh trong khu vực. Diện tích sản xuất ngô trên đất dốc do
chưa được áp dụng các biện pháp canh tác bền vững đang gây nên tình trạng
xói mòn thoái hoá đất.
Bảng 1.5. Sản xuất ngô tại tỉnh Yên Bái giai đoạn 2000 - 2015
Diện tích
28,59
64.737
2011
24.933
28,19
72.780
2012
24.660
30,60
75.455
2013
26.713
31,62
84.452
2014
Năm
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Yên Bái, 2016[3]
Qua bảng 1.4 cho thấy: Từ năm 2000 đến năm 2015 diện tích ngô của
tỉnh Yên Bái tăng từ 9.890 ha lên đến 28.234 ha, tăng 18.344 ha. Năng suất ngô
của tỉnh tăng từ 19,7 tạ/ha năm 2000 lên 32,93 tạ/ha vào năm 2015, tăng 12,23
15
tạ/ha. Sản lượng ngô tăng từ 19.485 tấn năm 2000 lên 92.970 tấn vào năm 2015,
tăng 73.485 tấn. Tuy nhiên năng suất ngô của tỉnh Yên Bái vẫn thấp hơn nhiều
so với năng suất ngô của cả nước, năng suất ngô hiện tại của tỉnh chỉ bằng
73.5% so với năng suất ngô của cả nước (năm 2015).
Trong những năm gần đây cây ngô đã được tỉnh Yên Bái đặc biệt chú
trọng quan tâm và đầu tư phát triển. Để đạt được những thành tựu như vậy đó
chính là nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất ngô như:
Sử dụng các giống mới, kỹ thuật canh tác, phòng trừ sâu bệnh hại... Tuy nhiên
sản xuất ngô cũng cần được quan tâm và đầu tư phát triển nhiều hơn, mạnh
hơn nữa như: Tăng diện tích gieo trồng ngô xuống ruộng 1 vụ, gieo trồng ngô
trên đất đồi, đất soi bãi, đất 2 vụ lúa (vụ Đông). Sử dụng giống mới, thâm canh
tăng năng suất nhằm khai thác tối đa tiềm năng của giống và tiềm năng đất sẵn
có của tỉnh, đặc biệt đối với một số diện tích cây trồng trên địa bàn sản xuất
kém hiệu quả, đất xấu khó canh tác chuyển đổi sang trồng một số loại cây
khác. Năm 2015 diện tích lúa nương kém hiệu quả đã chuyển đổi sang trồng
ngô là 477,9 ha (Mù Cang Chải 346,5 ha, Trạm Tấu 131,4 ha).
Cây ngô đóng vai trò hết sức quan trọng trong cơ cấu cây trồng, ngoài
các vùng sản xuất ngô hàng hóa còn góp phần đáng kể nâng cao kinh tế của
một bộ phận lớn đồng bào dân tộc sinh sống tại các vùng sâu, vùng xa. Ngoài
việc thâm canh ngô lai ở những vùng thuận lợi, cần tăng cường sử dụng các
giống ngô thụ phấn tự do cải tiến ở những vùng khó khăn, nhằm tăng năng suất,
Tác giả Charles Darwin (1877), sau khi làm thí nghiệm so sánh hai dạng
ngô tự phối và giao phối và đi tới kết luận: “Chiều cao cây ở dạng ngô giao
phối cao hơn 19% và chín sớm hơn 9% so với dạng ngô tự phối” (Hallauer,
Miranda, 1986) [37].
Shull (năm 1904) đã áp dụng tự phối cưỡng bức ở ngô để tạo các dòng
thuần. Các thí nghiệm được tiến hành tiếp tục đến năm 1912, ông nhận thấy tự
phối dẫn đến sự suy giảm kích thước của cây, giảm sức sống và năng suất. Ông
bắt đầu tiến hành lai đơn giữa một số dòng và thấy rằng năng suất và sức sống
của giống lai tăng lên đáng kể. G.H.Shull (1909), đã công bố các giống lai đơn