Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới trong vụ Đông năm 2013 tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. - Pdf 29

1
I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM TRN VN TH
Tờn ti:
Nghiên cứu khả năng sinh trởng và phát triển của một số
tổ hợp ngô lai mới trong vụ Đông năm 2013 tại
Trờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên KhóA LUậN TốT NGHIệP ĐạI HọC

H o to : Chớnh quy
Chuyờn ngnh : Khoa hc cõy trng
Lp : K42 - Trng trt
Khoa : Nụng hc
Khoỏ hc : 2010 - 2014
Ging viờn hng dn : TS. Phan Th Võn
3
DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất ngô của các châu lục và thế giới giai đoạn 2010-2012 5
Bảng 1.2. Tình hình sản xuất ngô của một số nước tiêu biểu trên thế giới năm 2012 6
Bảng 1.3. Tình hình sản xuất ngô của Việt Nam giai đoạn 1961 – 2012 10
Bảng 1.4.Tình hình xuất ngô của các vùng miền và cả nước năm 2012 10
Bảng 1.5. Tình hình sản xuất ngô của một số địa phương năm 2012 11
Bảng 1.6. Tình hình sản xuất ngô tại Thái Nguyên giai đoạn 2002 - 2012 14
Bảng 2.1. Các giống ngô tham gia thí nghiệm và đối chứng 17
Bảng 3.1. Diễn biến thời tiết khí hậu vụ Đông năm 2013 tại Thái Nguyên 24
Bảng 3.2. Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các THL 26
tham gia thí nghiệm vụ Đông 2013 tại Thái Nguyên 26
Bảng 3.3. Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của các THL vụ Đông 2013 tại
Thái Nguyên 27
Bảng 3.4. Số lá trên cây và chỉ số diện tích lá của các THL vụ Đông 2013 tại
Thái Nguyên 29
Bảng 3.5. Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các THL vụ Đông 2013 tại
Thái Nguyên 30
Bảng 3.6. Tốc độ ra lá của các THL vụ Đông 2013 tại Thái Nguyên 32
Bảng 3.7. Tỉ lệ nhiễm sâu bệnh của các THL 33
Bảng 3.8. Các yếu tố cấu thành năng suất của các THL vụ Đông 2013 tại Thái Nguyên 37
Bảng 3.9. Năng suất lí thuyết và năng suất thực thu của các THL vụ Đông 2013 tại
Thái Nguyên 38

4

5
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài 3
2.1. Mục đích 3
2.2. Yêu cầu 3
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3.1. Ý nghĩa khoa học 3
3.2. Ý nghĩa trong học tập 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2. Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu ngô trên thế giới 4
1.2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 4
1.2.2. Tình hình tiêu thụ ngô trên thế giới 7
1.2.3. Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới 7
1.3. Tình hình sản xuất, nghiên cứu và tiêu thụ ngô tại Việt Nam 9
1.3.1. Tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam 9
1.3.2. Tình hình tiêu thụ ngô trong nước 12
1.3.3. Tình hình nghiên cứu ngô tại Việt Nam 12
1.4. Tình hình sản xuất ngô tại Thái Nguyên 14
1.5. Các loại giống ngô 15
1.5.1. Giống ngô thụ phấn tự do (TPTD - open pollinated variety) 15
1.5.2. Giống ngô lai (Maize Hybrid) 16
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1. Vật liệu nghiên cứu 17
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 17
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu 17
2.2.2. Thời gian nghiên cứu 18

3.7.6. Khối lượng 1000 hạt 36
3.7.7. Năng suất lý thuyết (Tạ/ha) 37
3.7.8. Năng suất thực thu (tạ/ha) 38
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40
1. Kết luận 40
2. Đề nghị 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
I. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 41
II. TÀI LIỆU TIẾNG ANH 41

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây ngô (Zea mays L.) là một trong 3 cây lương thực quan trọng nhất
của con người. Với nhiều ưu điểm nổi trội như khả năng thích ứng rộng, có
thể canh tác ở những vùng có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt vì ngô có khả
năng chống chịu rất tốt nên ngô đã được con người trồng trọt từ lâu đời để
làm lương thực. Ở một số nước như: Mexico, Ấn Độ, Philippin và một số
nước châu Phi khác người ta dùng ngô làm lương thực chính. Có tới 90 %
sản lượng ngô ở Ấn Độ và 66% sản lượng ngô ở Philippin được dùng làm
lương thực cho con người [7]. Không những vậy ngô còn là cây trồng có vai
trò quan trọng trong việc cung cấp nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc, gia
cầm, công nghiệp dược phẩm của nhiều quốc gia trên thế giới. Với vai trò
quan trọng như vậy trong những năm qua sản xuất ngô trên thế giới không
ngừng phát triển để đáp ứng cho nhu cầu ngày một tăng của con người. Diện
tích, năng suất và sản lượng ngô liên tục tăng, năm 1980 diện tích trồng ngô
chỉ khoảng 125,8 triệu ha với năng suất 31,5 tạ/ha đạt tổng sản lượng là

miền Bắc, trong những năm qua thầy trò nhà trường đã tham gia tích cực vào
việc nghiên cứu, khảo nghiệm cũng như hợp tác sản xuất giống ngô lai và có
những đóng góp tích cực cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung và
phát triển sản xuất ngô nói riêng.
Con đường từ khi chọn lọc, lai tạo ra một tổ hợp lai cho đến khi tổ hợp
lai đó được công nhận giống chính thức là một con đường dài, nó đòi hỏi việc
nghiên cứu bài bản và công phu, sự lao động gian khổ và nghiêm túc của các
nhà khoa học. Trong đó việc nghiên cứu, khảo nghiệm phản ứng của các
giống với các điều kiện sinh thái, mùa vụ khác nhau là việc mà bất cứ giống
cây trồng nào cũng phải trải qua trước khi được công nhận giống, áp dụng vào
sản xuất đại trà.
Thái Nguyên là một tỉnh nằm ở khu vực trung du và miền núi phía Bắc
Việt Nam, có điều kiện đất đai, khí hậu tiêu biểu đại diện cho vùng. Thái
Nguyên cũng là nơi có hoạt động sản xuất nông nghiệp phát triển trong đó
ngô được xem là một trong những cây trồng chính góp phần thúc đẩy sản xuất
phát triển, ổn định và nâng cao đời sống cho người dân.
Xuất phát từ những yêu cầu và cơ sớ thực tiễn nêu trên tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một
số tổ hợp ngô lai mới trong vụ Đông năm 2013 tại Trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên”.
3
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích
Đánh giá được khả năng sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu của
các tổ hợp tham gia thí nghiệm làm cơ sở để chọn được giống thích hợp cho vụ
Đông tại Thái Nguyên cũng như các tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc.
2.2. Yêu cầu

Ông cha ta có câu: “tốt giống tốt má, tốt mạ tốt lúa” hay “nhất nước
nhì phân tam cần tứ giống”. Trong sản xuất nông nghiệp, giống là tư liệu để
duy trì và phát triển sản xuất. Giống có vai trò hết sức quan trọng trong việc
nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng. Muốn có những giống ngô mới
năng suất, chất lượng cao, khả năng chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh
cần nghiên cứu lai tạo và chọn lọc một cách kỹ lưỡng, xác định vùng thích
nghi của các giống mới trước khi đưa vào sản xuất trên diện rộng. Vì thế các
giống mới cần được khảo nghiệm trước khi đưa ra sản xuất, để đánh giá đầy
đủ, khách quan khả năng thích nghi của giống với vùng sinh thái cũng như
khả năng sinh trưởng phát triển, khả năng chống chịu với những điều kiện bất
lợi khác. Dựa vào kết quả của quá trình khảo nghiệm giống sẽ là cơ sở khoa
học để lựa chọn những giống tốt thích nghi với điều kiện của từng vùng, từng
miền, phù hợp với từng mùa vụ và các chế độ canh tác khác nhau.
Ngày nay sản xuất ngô muốn phát triển theo hướng hàng hoá với sản
lượng cao, quy mô lớn nhằm phục vụ nhu cầu thị trường, cần phải có các biện
pháp hữu hiệu như thay thế các giống ngô cũ năng suất thấp bằng các giống
ngô mới năng suất cao, chống chịu tốt.
Trong quá trình so sánh giống sẽ loại được các giống có những yếu điểm
về các đặc tính nông sinh học như: thời gian sinh trưởng quá dài, cây quá cao,
chống đổ kém và dễ nhiễm sâu bệnh,… chọn lọc được những giống khắc phục
được những yếu điểm trên để giới thiệu vào sản xuất đại trà góp phần phát triển
kinh tế, ổn định và nâng cao đời sống cho người dân đặc biệt là người dân ở khu
vực miền núi – nơi điều kiện kinh tế xã hội còn có nhiều khó khăn.
1.2. Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu ngô trên thế giới
1.2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
Ngô là cây trồng có lịch sử gieo trồng từ lâu đời, các nghiên cứu của
Vavilov (1926) đã cho rằng Mexico và Peru là những trung tâm phát sinh và
đa dạng di truyền của cây ngô. Năm 1492, Columbus tìm ra châu Mĩ và từ đó
Châu Mĩ 62,9 64,1 67,7 70,8 68,4 61,8 445,2

438,5

418,2
Châu Phi 32,2 34,7 33,7 20,6 19,2 20,7 66,2 66,7 51,7
Châu Đại
Dương
0,81 0,86 0,94 65,4 68,1 71,9 0,53 0,58 0,68
Thế giới 164,3 172 177,4 51,8 57,6 49,2 851,2

888 872,1
(Nguồn: FAOSTAT, 2014) [15].
Diện tích, năng suất và sản lượng ngô có sự chênh lệch tương đối lớn
giữa các châu lục trên thế giới do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, tập
quán canh tác, cũng như trình độ kĩ thuật. Châu Mĩ –quê hương của cây ngô
là châu lục có diện tích trồng ngô lớn nhất với diện tích 67,7 triệu ha chiếm
38,2% tổng diện tích trồng ngô của thế giới (năm 2012). Đây cũng là châu lục
có năng suất ngô tương đối lớn đạt 71,8 tạ /ha (năm 2009) và 61,8 tạ /ha (năm
2012). Trong khi đó châu Phi là châu lục có năng suất ngô rất thấp và có tốc
6
độ tăng năng suất chậm, năng suất chỉ đạt 20,7 tạ/ha (năm 2012) nên mặc dù
châu Phi có diện tích trồng ngô lớn thứ 3 sau châu Mĩ và châu Á nhưng sản
lượng thu được còn ít chỉ đạt 51,7 triệu tấn vào năm 2012. Sở dĩ châu Phi có
năng suất ngô thấp nhất thế giới là do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, trình độ
thâm canh thấp, chưa có điều kiện để áp dụng các tiến bộ kĩ thuật vào sản
xuất. Châu Á có diện tích và sản lượng tương đối lớn, đứng thứ 2 sau châu Mĩ

7
năng suất ngô cao nhất thế giới đạt 256 tạ /ha cao hơn gấp 5,2 lần so với bình
quân năng suất ngô thế giới (năm 2012).
1.2.2. Tình hình tiêu thụ ngô trên thế giới
Với sự phát triển của các ngành công nghiệp chế biến hiện nay từ ngô
con người đã tạo ra hơn 670 loại mặt hàng khác nhau. Nhu cầu về nhiên liệu
sinh học như ethanol ngày càng tăng tại các nền kinh tế phát triển, đặc biệt
là ở Bắc Mỹ. Theo số liệu mới nhất của Liên minh nhiên liệu tái tạo toàn cầu
(GRFA), sản lượng ethanol thế giới năm 2010 tăng 17%, dự kiến sẽ tăng
thêm 15% trong năm 2011. Theo ước tính của USDA, 36% lượng ngô của
Mỹ trong niên vụ 2010/11 sẽ được dùng để sản xuất ethanol. Cục Bảo vệ
môi trường Mỹ (EPA) cho biết doanh số bán hàng của ethanol tại Mỹ năm
2011 dự kiến sẽ tăng đến 14 tỷ gallon (tương đương 54,3 tỷ lít) so với mức
13 tỷ gallon năm 2010 [4]. Sản lượng ngô xuất khẩu đang có xu hướng giảm
tại Mỹ, Brazin, Achentina,… một số nước như Trung Quốc không xuất khẩu
ngô vì trong những năm gần đây khi thế giới cảnh báo nguồn dầu mỏ đang
cạn kiệt, thì ngô đã và đang được chế biến ethanol thay thế một phần nhiên
liệu xăng, dầu chạy ô tô tại Mỹ, Braxin, Trung Quốc,… Năm 2002 – 2003
Mỹ đã dùng 25,2 triệu tấn ngô để chế biến ethanol, năm 2005 – 2006 dùng
40,6 triệu tấn và dự kiến năm 2012 dùng 190,5 triệu tấn ngô (Viện Nghiên
cứu ngô, 2008) [14]. Ngoài ra trước sức ép của sự gia tăng dân số để đảm
bảo cung cấp đủ thực phẩm cho con người nhiều nước đã tích cực phát triển
ngành chăn nuôi kéo theo đó là nhu cầu sử dụng ngô để chế biến thức ăn gia
súc - gia cầm ngày một tăng. Tất cả những dẫn chứng trên cho ta thấy triển
vọng của thị trường tiêu thụ ngô trên thế giới ở hiện tại cũng như trong
tương lai đồng thời cũng cho ta thấy được nhu cầu cần thiết phải phát triển
sản xuất ngô một cách bền vững, trong đó cần đến vai trò quan trọng của các

trồng ngô tiên tiến.
Năm 1966, Trung tâm cải tạo giống ngô và lúa mì Quốc tế (CIMMYT)
được thành lập tại Mexico, nhiệm vụ của trung tâm này là nghiên cứu đưa ra
giải pháp, tạo giống ngô thụ phấn tự do làm bước chuyển tiếp giữa ngô địa
phương và ngô lai. Trong 30 năm hoạt động Trung tâm đã đóng góp đáng kể
vào việc xây dựng, phát triển và cải thiện hoạt động vốn gen, quần thể và
giống ngô cho 80 quốc gia trên thế giới.
Hiện nay diện tích trồng ngô lai trên thế giới ngày một tăng, việc
nghiên cứu lai tạo chọn lọc các giống ngô có ưu thế lai cao được rất nhiều các
tổ chức quốc tế và các quốc gia quan tâm đầu tư, nhờ vậy mà đã có rất nhiều
9
giống ngô mới cho năng suất cao, chất lượng tốt ra đời góp phần quan trọng
làm tăng sản lượng ngô, tăng lượng lương thực đáp ứng nhu cầu ngày càng
cao của con người. Sản xuất, nghiên cứu ngô trên thế giới có nhiều cơ hội để
phát triển, ngô sẽ đóng vai trò quan trọng trong sản xuất và là cây trồng “báo
hiệu của ấm no” trong thế kỉ 21 này.
1.3. Tình hình sản xuất, nghiên cứu và tiêu thụ ngô tại Việt Nam
1.3.1. Tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam
Cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm về sự du nhập của cây
ngô vào nước ta, có quan điểm cho rằng ngô được du nhập vào nước ta từ
Trung Quốc nhưng cũng có quan điểm cho rằng ngô được du nhập vào nước
ta từ các nước ngoài khơi phía nam. Có thể khẳng định ở nước ta ngô là cây
trồng nhập nội với lịch sử phát triển khoảng 300 năm. Ngô là cây lương thực
quan trọng thứ 2 sau lúa nước bởi vậy ông cha ta mới có câu “được mùa chớ
phụ ngô khoai’’. Sau khi du nhập vào nước ta cây ngô có tốc độ phát triển
chậm. Chỉ đến đầu thế kỉ 20 khi thực dân Pháp đẩy mạnh việc khai thác
thuộc địa thì ngô mới được xuất khẩu sang Pháp làm thức ăn cho gia súc. Số

11,2

292,2

1980

389,6

11,0

428,8

1990

432,0

15,5

671,0

1995

556,8

21,1

1177,2

2000


sản xuất ngô cũng có sự chênh lệch đáng kể giữa các vùng miền (Bảng 1.4).
Bảng 1.4.Tình hình xuất ngô của các vùng miền và cả nước năm 2012
Vùng
Diện tích
(nghìn ha)

Năng suất

(tạ/ha)
Sản lượng
(nghìn tấn)

Cả nước 1118,3 43,0 4803,6
Đồng bằng sông Hồng 86,6 46,7 404,3
Trung du và miền núi phía Bắc 466,8 36,3 1696,2
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 202,3 40,8 826,0
Tây Nguyên 243,9 49,8 1214,3
Đông Nam Bộ 79,3 56,2 445,3
Đồng bằng sông Cửu Long 39,4 55,2 217,5
(Nguồn: Tổng cục thống kê, năm 2014) [9]
11
Vùng Trung du và miền núi phía Bắc có diện tích trồng ngô lớn nhất cả
nước với 466,8 nghìn ha chiếm 41,7% diện tích trồng ngô của cả nước nhưng
đây cũng là vùng có năng suất ngô thấp nhất, năng suất ngô năm 2012 đạt 36,3
tạ/ha bằng 84,4 % năng suất ngô trung bình của cả nước do ngô chủ yếu được
trồng trên các nương rẫy có độ dốc lớn, khó thâm canh và ít được thâm canh.
Các vùng khác ở khu vực phía Nam có điều kiện đất đai bằng phẳng và màu

năng áp dụng tiến bộ kĩ thuật vào đồng ruộng.
12
1.3.2. Tình hình tiêu thụ ngô trong nước
Sản lượng thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam đã và đang không ngừng gia
tăng trong khoảng mười năm trở lại đây. Với mức độ khoảng 14 triệu tấn/năm
(số liệu ước tính) và sẽ còn tiếp tục tăng lên nữa, thì các nguyên liệu cung
năng lượng như thóc, các loại cám, tấm, ngô, sắn, lúa mì và dầu mỡ phải đảm
bảo được ít ra là 9 triệu tấn mỗi năm (tính trung bình các nguyên liệu cung
năng lượng chiếm 60 – 70% trong công thức thức ăn) [1].
Như vậy để đảm bảo cung cấp đủ nguyên liệu cho việc chế biến thức ăn
chăn nuôi đòi hỏi chúng ta phải chủ động nguồn nguyên liệu, trong đó có ngô,
trung bình mỗi năm nước ta phải nhập khẩu gần 9000 tấn ngô mới đủ cung
cấp cho tiêu dùng trong nước. Là một nước nông nghiệp, có nhiều tiềm năng
để phát triển sản xuất thì đây là điều khó chấp nhận được. Giải pháp là cần
thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước, trong bối cảnh diện tích đất thu hẹp
thì cần tính đến việc tăng năng suất cây trồng mà sử dụng các giống mới, các
giống ngô lai cho năng suất cao là điều tất yếu hiện nay.
1.3.3. Tình hình nghiên cứu ngô tại Việt Nam
Ở Việt Nam, công tác nghiên cứu về ngô chậm hơn nhiều nước trên thế
giới vài thập kỷ. Tuy nhiên giai đoạn 1955-1970 các nhà khoa học cũng đã
bước đầu điều tra về thành phần loài và giống địa phương. Trên cơ sở đánh
giá các giống địa phương, đã chọn ra những giống tốt và tiến hành chọn lọc
phục vụ cho sản xuất (Cao Đắc Điểm, 1988) [5].
Từ 1971 - 1986 các nhà khoa học Việt Nam đã bắt đầu chương trình
chọn tạo giống ngô lai và được tập trung cao độ từ năm 1990 đến nay. Bước
đầu thành công trong việc chọn tạo các giống lai không quy ước như: LS-3,
LS-5, LS-6, LS-7, LS-8…, các giống này có năng suất 3-7 tấn/ha đã được mở

bản đồ gen chịu hạn. Bước đầu chương trình này hoạt động có kết quả khả
quan và được AMBIONET đánh giá cao, đã tiến hành phân tích đa dạng tập
đoàn dòng của Viện ngô bằng kỹ thuật SSR.
Để sản xuất ngô Việt Nam theo kịp các nước tiên tiến và đạt năng suất
trung bình của thế giới, việc quan trọng nhất là tăng cường thu thập các nguồn
nguyên vật liệu phù hợp, kết hợp chọn tạo giống bằng các phương pháp hiện
đại với truyền thống, đẩy mạnh nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác để
phát huy tối đa tiềm năng của giống, chọn tạo giống chống chịu phục vụ cho
các vùng khó khăn.
Hiện nay, nhờ việc tạo ra nhiều giống ngô lai mới nên đã có sự thay đổi
rất lớn trong cơ cấu giống trong sản xuất hiện nay ở nước ta. Năm 1991, diện
14
tích trồng giống lai chưa đến 1% trên 430 nghìn ha trồng ngô; năm 2006, giống
lai đã chiếm khoảng 90% diện tích trong hơn 1 triệu ha ngô cả nước, trong đó
giống do các cơ quan nghiên cứu trong nước chọn tạo và sản xuất chiếm từ 58-
60% thị phần trong nước, số còn lại là của các công ty liên doanh với nước
ngoài. Trong đó, giống ngô lai do Viện nghiên cứu ngô (Viện Khoa học Nông
nghiệp Việt Nam) tạo ra chiếm tới 90% lượng giống lai của Việt Nam [13].
1.4. Tình hình sản xuất ngô tại Thái Nguyên
Thái Nguyên là tỉnh Trung du miền núi Bắc Bộ, có diện tích tự nhiên
3.562.82km
2
, dân số hiện nay khoảng 1.046.000 người chiếm 1,13% diện tích
và 1,41% dân số so với cả nước.
Từ 1995 trở về trước, sản xuất ngô ở Thái Nguyên chủ yếu dùng các
giống cũ, giống địa phương có thời gian sinh trưởng dài, năng suất thấp. Với
sự nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền nhân dân, các nhà khoa học, diện tích

đạt 18,6 nghìn ha, đến năm 2012 diện tích giảm xuống còn 17,9 nghìn ha.
Về năng suất cũng tăng từ 32,8 tạ/ha năm 2002 lên 42,0 tạ/ha năm 2007
(tăng trung bình 1,9 tạ/ha/năm). Tuy nhiên năm 2008, 2009 năng suất ngô bị
giảm đáng kể, năm 2009 năng suất ngô chỉ đạt 38,6 tạ/ha, giảm 2,5 tạ/ha so
với năm 2007. Nhưng chỉ một năm sau năng suất ngô lại tăng lên tương
đương năng suất ngô năm 2007.
Do diện tích và năng suất đều tăng nên sản lượng ngô đạt cao nhất vào
năm 2008 là 84,6 nghìn tấn, tăng 46,6 nghìn tấn so với năm 2002. Đến năm
2009 do cả diện tích và năng suất ngô đều giảm nên sản lượng chỉ còn 67,2
nghìn tấn, năm 2011 là 80,6 nghìn tấn, giảm 4 nghìn tấn so với năm 2008.
Năm 2012 năng suất ngô của tỉnh đạt 42,2 tạ/ha, sản lượng là 75,5 nghìn tấn.
1.5. Các loại giống ngô
Theo phương pháp chọn tạo giống, ngô được phân chia thành 2 loại chính:
- Ngô thụ phấn tự do (TPTD - open pollinated variety),
- Ngô lai (Maize Hybrid),
1.5.1. Giống ngô thụ phấn tự do (TPTD - open pollinated variety)
Giống ngô TPTD là một danh từ chung để chỉ các loại giống mà trong
quá trình sản xuất hạt giống con người không cần can thiệp vào quá trình thụ
phấn, chúng được tự do thụ phấn (thụ phấn mở) [7].
Giống ngô thụ phấn tự do có những đặc điểm:
- Sử dụng hiệu ứng gen cộng
- Có nền di truyền rộng (rất rộng)
- Thích ứng rộng
- Năng suất cao
- Độ đồng đều chấp nhận
- Giống sử dụng được nhiều thế hệ
- Dễ sản xuất hạt giống, hạt giống rẻ
Ngô thụ phấn tự do có 4 loại:
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
Vật liệu nghiên cứu gồm 08 tổ hợp ngô tham gia thí nghiệm và 01
giống làm giống đối chứng (Bảng 2.1).
Bảng 2.1. Các giống ngô tham gia thí nghiệm và đối chứng
Số thứ tự Tên tổ hợp lai Nguồn gốc giống
1 KK3913A Viện nghiên cứu ngô
2 KK3923A Viện nghiên cứu ngô
3 KK3936B Viện nghiên cứu ngô
4 KK3953A Viện nghiên cứu ngô
5 KK3966 Viện nghiên cứu ngô
6 KK3973A Viện nghiên cứu ngô
7 KK3976A Viện nghiên cứu ngô
8 KK3976 Viện nghiên cứu ngô
9 NK4300 (đối chứng) Công ty syngenta Việt Nam
Giống ngô NK4300 (giống đối chứng) có nguồn gốc từ Thái Lan được
công ty Syngenta Việt Nam nhập nội và cung ứng ra thị trường. Giống có thời
gian sinh trưởng 90-110 ngày, chiều cao cây từ 185-210 cm, chiều cao đóng
bắp 80-100 cm, cứng cây, chiều dài bắp 14,5-16,5 cm, có 14-16 hàng hạt, tỷ
lệ hạt/bắp 76-80%, khối lượng 1000 hạt 280-300 gam, kín đầu bắp, dạng hạt
bán răng ngựa. Giống NK4300 có khả năng chịu hạn và chống đổ khá, năng
suất trung bình 50-60 tạ/ha (Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam) [13].
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu được tiến hành tại Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên.
- Đặc điểm đất trồng: Đất cát pha
- Loại cây trồng trước: Cây ngô
O, khi cây có 3 - 5 lá, kết hợp xới
xáo lần 1 cho ngô.
Lần 2: Bón với lượng là 1/3 N+1/2 K
2
O và bón khi cây có 7 - 9 lá, kết
hợp vun cao thành luống.
Lần 3: Bón trước trỗ 10 - 15 ngày (lúc ngô xoáy nõn), bón lượng phân còn lại.
* Chăm sóc:
+ Theo dõi, phòng trừ sâu bệnh, tiến hành diệt trừ khi sâu bệnh phát
triển rộ trên đồng ruộng.
+ Mọc- 3 lá: Dặm cây, thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, gặp mưa xới nhẹ.
+ Khi ngô có 3-5 lá: Tiến hành tỉa định cây kết hợp với xới phá váng,
nhổ cỏ đồng thời bón thúc lần 1.
19
+ Khi ngô 7- 9 lá: Bón thúc lần 2 kết hợp vun cao gốc chống đổ.
+ Trước trỗ 10 - 15 ngày : Bón thúc lần cuối.
+ Tưới nước: Đảm bảo đủ độ ẩm cho ngô, đặc biệt vào các thời kỳ
trước và sau trỗ cờ 10-15 ngày.
- Thu hoạch: Khi thân lá và lá bi chuyển sang màu vàng, chân hạt hình
thành sẹo đen.
2.4. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, đặc tính chống chịu
của các giống ngô lai thí nghiệm.
- Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống
ngô tham gia thí nghiệm.
2.5. Phương pháp nghiên cứu
2.5.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status