nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống khoai lang chất lượng cao vụ đông năm 2013 - Pdf 22

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Tình hình sản xuất khoai lang trên thế giới giai đoạn 2007-2011 13
Bảng 2.2: Tình hình sản xuất khoai lang ở Việt Nam giai đoạn 2007 - 2011 18
Bảng 2.3: Diện tích, năng suất, sản lượng khoai lang ở các vùng của Việt Nam năm
2010 18
Bảng 2.4: Tình hình sản xuất khoai lang tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2007-2011. .25
Bảng 4.1: Một số giai đoạn sinh trưởng của các giống khoai lang thí nghiệm 32
Bảng 4.2: Khả năng sinh trưởng của các giống khoai lang thí nghiệm 34
Bảng 4.3: Động thái tăng trưởng chiều dài thân chính của các giống khoai lang thí
nghiệm 35
Bảng 4.4: Độ che phủ luống của các giống khoai lang thí nghiệm ở giai đoạn 30,60
và 90 ngày sau trồng 36
Bảng 4.5: Đặc điểm hình thái các giống tham gia thí nghiệm 37
Bảng 4.6: Năng suất cá thể của các giống khoai lang tham gia thí nghiệm 38
Bảng 4.7: Tỉ lệ củ thương phẩm và củ nhỏ của các giống thí nghiệm 38
Bảng 4.8: Năng suất củ, năng suất thân lá, năng suất sinh khối của các giống khoai
lang thí nghiệm 39
Bảng 4.9: Mức độ nhiễm sâu hại của giống khoai lang tham gia thí nghiệm 40
DANH MỤC CÁC HÌNH
Biểu đồ 4.1: Năng suất củ, năng suất lý thuyết, năng suất sinh khối của
các giống khoai lang thí nghiệm 39
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ
Đ/C: Đối chứng
ĐH: Đại học
NST: Ngày sau trồng
TB: Trung bình
P: Khối lượng
IPGRI: Viện tài nguyên di truyền thực vật Quốc tế
FAO: Tổ chức lương thực và nông nghiệp liên hiệp quốc

2.4. Tình hình sản xuất và nghiên cứu khoai lang trên thế giới 12
2.4.1. Tình hình sản xuất 12
2.4.2. Tình hình nghiên cứu 13
2.5. Tình hình sản xuất và nghiên cứu khoai lang ở Việt Nam 17
2.5.1. Tình hình sản xuất 17
2.5.2. Tình hình nghiên cứu 20
2.6. Tình hình sản xuất khoai lang tại Thái Nguyên 25
PHẦN 3 27
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
3.2. Nội dung nghiên cứu 27
3.3. Phương pháp bố trí thí nghiệm và kỹ thuật trồng 27
3.4. Các chỉ tiêu theo dõi và xử lý số liệu 29
3.5. Phương pháp tính toán và xử lý số liệu 31
PHẦN 4 32
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
4.1. Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh trưởng của các giống khoai lang thí nghiệm vụ
Đông năm 2013 tại trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên 32
4.2. Đặc điểm hình thái của các giống khoai lang tham gia thí nghiệm 36
4.3. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống khoai lang thí nghiệm 37
4.4. Khả năng chống chịu của các giống tham gia thí nghiệm 40
PHẦN 5 42
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42
5.1. Kết luận 42
5.2. Đề nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
I. Tài liệu tiếng Việt 44
II. Tài liệu tiếng Anh 45
III. Tài liệu từ Internet 46
PHẦN 1

1
việc mở rộng diện tích các cây trồng khác có hiệu quả kinh tế hơn Trong khi
năng suất, phẩm chất khoai lang vẫn còn chưa cao chưa đáp ứng được nhu
cầu của người tiêu dùng.
Từ thực tế đó, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu khả năng
sinh trưởng và phát triển của một số giống khoai lang chất lượng cao vụ
Đông năm 2013 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.
1.2. Mục tiêu của đề tài
Nhằm chọn ra một số giống khoai lang có chất lượng tốt năng suất cao
phù hợp với điều kiện thực tế sản xuất và thị hiếu của người tiêu dùng, góp
phần phát triển sản xuất khoai lang ở Thái Nguyên.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ xung cơ sở lý luận cho
việc phát triển khoai lang vụ Đông ở tỉnh Thái Nguyên cũng như các tỉnh
miền núi phía bắc Việt Nam.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đánh giá lựa chọn được giống khoai lang có khả năng sinh trưởng và
phát triển tốt cho năng suất phù hợp với điều kiện sản xuất tại Thái Nguyên.
Mở rộng diện tích khoai lang góp phần tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo.
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Cây khoai lang (Ipomoea batatas. L).
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển của
một số giống khoai lang chất lượng cao vụ Đông trong điều kiện sinh thái tại
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên.
2
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Phân loại, nguồn gốc và phân bố cây khoai lang
Khoai lang [Ipomoea batatas (L.) Lam] là cây hai lá mầm thuộc chi

Phi (Có thể bắt đầu từ Mô Dăm Bic hoặc Ăngôla) theo hai con đường từ Châu
Âu và trực tiếp từ vùng bờ biển Trung Mỹ, sau lan rộng sang Ấn Độ.
Người Anh đã đưa khoai lang vào Nhật Bản năm 1615 nhưng đã không
phát triển được. Đến năm 1674 cây khoai lang đã được tái nhập vào Nhật Bản
từ Trung Quốc.
Cây khoai lang tuy có nguồn gốc ở Châu Mỹ, nhưng chúng chỉ thực sự
lan rộng ở châu lục này khi người Châu Âu đầu tiên đặt chân tới.
Các thương gia Tây Ban Nha đã du nhập khoai lang vào Philippin
(Yen, 1982) [32] và từ Philippin vào Phúc Kiến (Trung Quốc) năm 1594. Tuy
nhiên, cũng có ý kiến cho rằng khoai lang vào Trung Quốc có thể sớm hơn từ
Ấn Độ hoặc Myanma.
Do khả năng thích ứng rộng và dễ nhân giống, khoai lang đã được mở
rộng ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ la tinh vào thế kỷ 17 và 18. Hiện nay
khoai lang được phân bố rộng rãi ở các vùng Nhiệt đới, Á nhiệt đới và vùng
ôn đới ẩm thuộc Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Á, Châu Âu từ 40° vĩ Bắc
xuống 32
0
Nam. Ở vùng xích đạo khoai lang còn được trồng ở độ cao 3000 m
so với mặt biển (Woolfe J.A., 1992 [29]). Tuy nhiên cây khoai lang vẫn được
trồng nhiều ở các nước nhiệt đới, á nhiệt đới Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ
La Tinh.
Ở Việt Nam, theo các tài liệu cổ như sách “Thực vật bản thảo”, “Lĩnh
nam tạp kỷ” và “Quảng Đông tân ngữ” của Lê Quý Đôn (Viện Hán Nôm,
1995) [18], (Bùi Huy Đáp 1984 [1], cây khoai lang có nhiều khả năng là cây
trồng nhập nội và có thể được đưa vào nước ta từ nước Lã Tông (đảo Luzon
ngày nay) vào cuối đời Minh cai trị nước ta.
Trong “Thảo mộc trang” có đoạn viết: “Cam thự (khoai lang) là củ
thuộc loài Thử Dự, rễ và lá như rễ khoai, củ to bằng nắm tay, to nữa bằng cái
bình, da tía, thịt trắng, người ta luộc ăn” (Bùi Huy Đáp 1984) [1], (Viện Hán
nôm, 1995) [18].

cả cây khoai lang cũng đạt cao nhất ở thời kỳ này.
Độ dài của mỗi thời kỳ sinh trưởng dài ngắn khác nhau tùy thuộc vào giống
khoai lang và mùa vụ trồng, kể cả chịu tác động của biện pháp kỹ thuật canh tác.
Biểu hiện sinh trưởng của thân lá có quan hệ với sự hình thành và phát
triển củ khoai lang. Trong điều kiện thuận lợi và không gặp mưa, nếu quan sát
thấy khi cây khoai lang có các lá gốc chín vàng và một số lá sát gốc đã rụng,
thì khoai lang đã bắt đầu hình thành củ. Củ càng lớn thì các lá ở gốc càng
rụng nhiều.
5
2.2.2. Yêu cầu ngoại cảnh và đất trồng đối với cây khoai lang
2.2.2.1. Nhiệt độ và độ ẩm
Khoai lang là cây trồng nhiệt đới và á nhiệt đới. Ở những nơi thời tiết
ẩm khoai lang có thể được trồng quanh năm. Ảnh hưởng của nhiệt độ đối với
khoai lang còn tùy thuộc vào điều kiện, từng thời kỳ sinh trưởng phát triển
khác nhau và có liên quan chặt chẽ đối với thời vụ trồng.
Trong điều kiện thuận lợi, từ 5 - 7 ngày sau khi trồng khoai lang bắt
đầu ra rễ từ các mắt đốt trên thân, nhưng mầm thì sẽ phát triển chậm hơn.
Nhiệt độ không khí càng cao càng có lợi cho thời kỳ sinh trưởng này. Nhiệt
độ thích hợp 20-25
0
C. Thời kỳ này nêu nhiệt độ xuống dưới 15
0
C thì khoai
lang sẽ chậm ra rễ và mọc mầm, nếu nhiệt độ xuống thấp hơn nữa và kéo dài
trong 5 - 7 ngày có thể dẫn đến cây khoai lang bị chết; độ ẩm đất 70 -80% độ
ẩm tối đa đồng ruộng, đất thoáng. Ngoài ra chất lượng dây giống cũng là yếu
tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng mọc mầm của khoai lang (dẫn theo
Nguyễn Viết Hưng và cs, 2010 [13]).
Nhiệt độ thích hợp ở thời kỳ phân cành kết củ là 25 - 28
0

2.2.2.2. Đất
Khoai lang là cây dễ tính không kén đất tuy nhiên thích hợp nhất cho
cây khoai lang phát triển là đất thịt nhẹ, tơi xốp, lớp đất mặt sâu. Theo Bourke
(1985) [22] ở Papua Niu Ghine, khoai lang trồng trên đất thịt nặng, đất than
bùn cũng như đất cát pha, nền đất bằng phẳng cũng như đất sườn dốc nghiêng
tới 40
0
. Đất có kết cấu chặt và nghèo dinh dưỡng sẽ hạn chế quá trình hình
thành củ khoai lang, dẫn đến năng suất thấp.
Bourke (1985) [22] cho rằng pH tối thích cho khoai lang sinh trưởng phát
triển tốt 5,6 - 6.6. Tuy nhiên cây khoai lang có thể sinh trưởng phát triển tốt ở
loại đất có pH = 4,5 - 7,5 trừ đất sét nặng có hàm lượng nhôm trong đất cao.
Khoai lang được xem là có khả năng chịu được đất nghèo dinh dưỡng.
Trên nền đất được coi là nghèo với một số cây trồng khác thì khoai lang vẫn
cho năng suất. Tuy nhiên năng suất đạt được trên loại đất này chỉ khai thác
được một phần khả năng sản suất của cây. Muốn khoai đạt năng suất cao cần
tăng dinh dưỡng cho cây. Khoai lang là cây trồng cạn, được trồng chủ yếu
trên đất cát ven biển, cát pha, đất thịt nhẹ, đất một lúa một màu và đất hai vụ
lúa một vụ màu. Đối với chân đất hai vụ lúa một vụ màu với điều kiện thành
phần cơ giới tương đối nhẹ, chủ động trong việc tưới tiêu, rất thích hợp đối
với cây khoai lang.
Đối với điều kiện đất đai ở Việt Nam, nhất là khi cây vụ Đông trở
thành vụ sản xuất chính trong sản xuất, tiềm năng đất đai có thể trồng được
khoai lang là rất lớn. Vì vậy việc phát triển sản xuất cây khoai lang vụ Đông
lên chân đất hai vụ lúa đã đem lại những giá trị không nhỏ.
2.2.2.3. Nhu cầu dinh dưỡng
Cùng với đó, một số kết quả nghiên cứu về phân bón cho cây khoai
lang của nhiều tác giả thấy rằng:
Trong ba nguyên tố dinh dưỡng chính (đạm, lân, kali) thì kali là yếu tố
quan trọng nhất đối với khoai lang. Rất nhiều nghiên cứu cho thấy khoai lang

2
O) cho thấy:
Khi bón lót phân chuồng (phân hữu cơ) từ 5 tấn/ha đến 20 tấn/ha đã làm tăng
năng suất củ khoai lang từ 151 tạ/ha lên 246,7 ta/ha.
2.2.2.4. Nước
Khoai lang không chịu được hạn ở giai đoạn ngay sau khi trồng. Lượng
nước cần cho mỗi vụ phụ thuộc vào điều kiện cụ thể ở từng nơi, lượng mưa,
đặc tính giống, điều kiện đất đai và độ dài thời gian sinh trưởng.
Nhìn chung, khi cây được cung cấp đủ nước mưa hay nước tưới, quá
trình sinh trưởng và hình thành củ được thuận lợi, tuy nhiên nếu quá thừa
nước sẽ làm đất bí và yếm khí. Do khi phình to, củ khoai lang sẽ ép đất lại để
8
chiếm khoảng trống, nên sức cản vật lý của đất cũng là một yếu tố cần được
cân nhắc nhằm tạo điều kiện cho củ phát triển bình thường. Nhiều nghiên cứu
cho rằng tưới cho khoai lang sẽ đạt hiệu quả cao nhất khi sức giữ ẩm đồng
ruộng (the total available water) còn khoảng 60%. Sau lần tưới đầu (vào lúc
30 ngày sau trồng NST) khoảng 1 tháng mới nên tưới lần 2, để thúc đẩy việc
vận chuyển sản phẩm quang hợp về củ và thúc đẩy củ phát triển.
2.3. Giá trị dinh dưỡng và tầm quan trọng của cây khoai lang trong đời
sống con người và chăn nuôi
2.3.1. Các thành phần dinh dưỡng
Về thành phần dinh dưỡng có nhiều kết quả phân tích đã công bố và
cùng kết luận là khoai lang chứa nhiều chất dinh dưỡng, dễ tiêu hoá, nhiều
nhiệt lượng. Theo Nguyễn Đạt, Ngô Văn Tân, 1974 cho thấy: Trong củ khoai
lang tươi có 68% nước, 28% gluxit; 0,8% protein; 0,2% lipit; 1,3% xenlulo;
1,2% tro. Trong củ khoai lang khô hàm lượng này thay đổi, nó chứa 11%
nước; có tới 80% gluxit; 2,2% protein; 0,5% lipit; 3,6% xenlulo và 2,7% tro.
Về dinh dưỡng thân lá khoai lang, các tác giả Phùng Huy, 1980 và Bùi
Huy Đáp, 1984 đưa ra kết quả phân tích như sau: Thân lá khoai lang tươi có
chứa 1,21% protein; 3,4% lipit; 16,5% gluxit Trong thân lá khoai lang khô

hơn vụ Đông từ 1,1 đến 1,3 lần.
Tinh bột là thành phần quan trọng của gluxit. Trung bình tinh bột
chiếm 60 - 70% chất khô (Woolfe, 1992; Palmer J. K., 1982). Hàm lượng
tinh bột biến động mạnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố giống là
quan trọng nhất. Ở 5 giống trồng vụ Đông hàm lượng tinh bột biến động từ
16,8% đến 25,4% chất tươi (Vũ Tuyên Hoàng và CS, 1994). Theo kết quả
nghiên cứu của các tác giả Australia (Bradbury J. H. và Hollway M.D., 1988)
hàm lượng trung bình của 8 giống biến động từ 13,1% đến 15,9% khi trồng ở
4 địa điểm khác nhau và của 15 giống từ 17,1% đến 18,5% giữa 2 năm trồng
khác nhau. Vì vậy, việc phải trồng thử nghiệm các giống ở các địa điểm khác
nhau và qua các năm là quan trọng, để xác định giống thích hợp cho từng
vùng, từng vụ cụ thể.
2.3.3. Xơ tiêu hoá
Xơ bao gồm các hợp chất pectin (propectin, các axit pectic, axit
pectinic và pectin hoà tan), hemixenluloza và xenluloza (Woolfe J. A., 1992).
Các hợp chất pectin có vai trò lớn trong việc tạo các tính chất lưu hoá
10
(herological) ở khoai lang nấu. Hàm lượng pectin tổng số chiếm 5,1% chất
tươi, bằng 20% chất khô.
2.3.4. Protein
Nói chung củ khoai lang có hàm lượng protein thấp, nhưng do năng
suất thu hoạch cao nên sản lượng protein trên đơn vị diện tích không thua
kém các loại hạt ngũ cốc khác (Woolfe J. A., 1992). Theo tính toán khoai
lang cho năng suất protein trung bình 184 kg/ha so với lúa mỳ (200kg/ha) và
lúa nước (168 kg/ha) (Walter W. M. et al., 1984). Do vậy, khoai lang là một
trong những cây trồng chính của Thế giới có khả năng cho 2 triệu tấn protein
hàng năm. Trung bình protein thô là 5% chất khô hay 1,5% chất tươi
(Woolfe J.A., 1992). Hàm lượng protein thô của khoai lang biến động phụ
thuộc vào điều kiện canh tác, điều kiện môi trường và các yếu tố di truyền.
Yếu tố di truyền là yếu tố chủ yếu quyết định sự biến động hàm lượng

Zn, S và Cl đều có mặt thậm chí các nguyên tố như Cd, Ni, Pb, Hg, Se và Si
cũng có thể có. Trong củ khoai lang hàm lượng một số nguyên tố như Ca, Fe,
Mg, Zn và Mn ở vỏ củ cao hơn ở thịt củ. Hàm lượng chất khoáng còn phụ
thuộc vào giống, nơi trồng, phân bón và cách sử dụng, chế biến
β
Caroten (carôtenôít)
Sắc tố caroten quyết định màu sắc thịt củ khoai lang: Màu kem, màu
vàng, da cam hay da cam đậm tuỳ theo hàm lượng β caroten. Tỷ lệ này cao
trong các giống ruột củ vàng đến vàng cam đậm. Các giống ruột củ trắng
thường không có caroten. Ý nghĩa quan trọng của β caroten trong khẩu phần
ăn là hoạt tính tiền vitamin A. Theo nhiều nghiên cứu cho rằng các giống có
ruột màu vàng da cam đậm là nguồn rất giàu β- Caroten, biến động từ 3,36
mg đến 19,60 mg/100g chất tươi (Woolfe J. A., 1992). Ở Việt Nam theo kết
quả của phân tích của Viện Dinh dưỡng - Bộ Y tế - NXB Y học Hà Nội năm
2000 cho thấy hàm lượng caroten trong củ khoai lang ruột vàng rất cao đạt
1470 mcg/100g tươi.
Song song với việc đánh giá đặc tính sinh học của cây khoai lang, việc
đánh giá phẩm chất các phần được sử dụng làm thức ăn cho người và thức ăn
cho gia súc đã được nhiều nước chú ý. Trong 2 bộ phận của khoai lang được
sử dụng là thân lá và củ thì củ có vai trò quan trọng hơn cả. Bởi vì trong thành
phần của củ khoai lang tươi chứa 71,1% nước; 20,1% tinh bột; 2,38% đường;
1,43% protein; 1,16% xơ khẩu phần, các chất khoáng và một số vitamin quan
trọng đối với con người (Woolfe, 1992).
2.4. Tình hình sản xuất và nghiên cứu khoai lang trên thế giới
2.4.1. Tình hình sản xuất
Khoai lang là một trong 5 cây lấy củ chính (bao gồm: Sắn, khoai tây,
khoai lang, khoai mỡ, khoai sọ), nếu không tính đến cây khoai tây (cây có củ
vùng ôn đới) thì khoai lang là cây có củ đứng sau sắn ở các vùng nhiệt đới và
á nhiệt đới. Tình hình sản xuất khoai lang trên thế giới trong những năm gần
đây được thể hiện ở bảng 2.1.

2011 7.953.196 13,11 104,260
Nguồn: Faostat 1/2013 [34]
Nhìn chung, trong những năm gần đây diện tích trồng khoai lang trên
thế giới có xu hướng giảm nhẹ từ 8.153.509 ha (năm 2007) xuống chỉ còn
7.953.196 ha (năm 2011) giảm 200.313 ha. Năng suất có sự tăng trưởng nhẹ
do vậy sản lượng khoai lang trên thế giới trong 5 năm 2007 - 2011 khá ổn
định. Nguyên nhân khiến cho tình hình sản xuất khoai lang trên thế giới
không có sự tăng trưởng mạnh là do năng suất chất lượng khoai lang chưa
được cải thiện nhiều, bên cạnh đó với việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, người
nông dân đã lựa chọn những cây trồng có hiệu quả kinh tế cao để đầu tư thâm
canh.nên việc phát triển mở rộng diện tích trồng khoai lang chưa được quan
tâm đầu tư nhiều.
Hiện nay Trung Quốc là nước sản xuất nhiều khoai lang nhất trên thế
giới, năm 2012 đạt 3.490.425 ha, với năng suất là 21,6 tấn/ha và sản lượng đạt
cao nhất thế giới (58.754.533 tấn)
Một số tài liệu nước ngoài đề cập tới vai trò của cây có củ như một
trong những chỗ dựa quan trọng của nhân loại trong thế kỷ 21. Bởi hiện tại
tiềm năng cải tiến năng suất của cây có củ là rất lớn, trong khi đó mặc dù năng
suất của các cây ngũ cốc đã khá cao nhưng trong một phạm vi nào đó đã đạt đến
mức giới hạn của năng suất trần. Ngoài ra cây có củ có thể trồng được ở những
vùng đất xấu, khô hạn,…
2.4.2. Tình hình nghiên cứu
Trong công tác lai tạo giống việc duy trì và bảo quản tập đoàn giống tại
địa phương phải luôn được tiến hành thường xuyên. Theo số liệu thống kê
13
trong bản danh mục về tập đoàn khoai lang năm 1980, do viện tài nguyên di
truyền thực vật quốc tế (IPGRI) tập đoàn này bao gồm 6.900 mẫu. Mỗi một
nước trên thế giới đều duy trì tập đoàn khoai lang nhất định.
Tại viện nghiên cứu Trung Quốc, số lượng giống trong tập đoàn lưu giữ
lên tới 3000 mẫu và luôn được duy trì trên đồng ruộng; duy trì bằng in vitro và

Các kiểu gen ưu tú thường có tiềm năng quang hợp cao và tiềm năng
cho năng suất củ cao với chất lượng tốt trong khoảng thời gian sinh trưởng
tương đối ngắn. Các nhân tố xác định khả năng quang hợp là độ dài của dây
khoai lang và số lá trên một đơn vị độ dài thân. Tuy vậy, một số giống khoai
lang thân bụi mặc dù có thân dây rất ngắn nhưng vẫn có tiềm năng quang hợp
cao. Các nghiên cứu về chọn tạo giống cũng đã cải tiến khả năng bảo quản củ
khoai lang tươi, và một kỹ thuật đơn giản để xác định tỷ lệ củ hư hại sau bảo
quản là việc cân đo mức hao hụt trọng lượng củ ngay sau tuần đầu đưa vào
bảo quản. Số liệu này sẽ là một chỉ dẫn tốt về khả năng bảo quản ở các giai
đoạn bảo quản sau đó (Rees và cs, 1998 [27]).
Khoai lang được coi là cây trồng thân thiện với môi trường, ít sâu bệnh,
đầu tư thấp, có khả năng sinh trưởng phát triển nhanh, che phủ đất chống xói
mòn Các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã tìm ra khả năng chống bệnh đường
ruột (do vi khuẩn Escherichia coli, Staphylococcus và Bacillus cereus gây ra) của
khoai lang. Các giống khoai lang có hàm lượng flavonoid cao, nhất là các
giống khoai lang ruột tím có đặc điểm chống oxy hoá tốt, có hàm lượng
phenol cao gấp 3 lần các loại quả mọng nước, các thành phần khác như các
sắc tố anthocyanins, canxi Có tác dụng làm giảm chứng bệnh tim mạch ở
người (Helder da Costa và cs., 2003 [26]).
Mùi vị củ khoai lang là chỉ tiêu quan trọng nhất đối với người tiêu dùng,
tuy vậy tính trạng này khó có thể đo đếm được một cách chính xác, đây là một
trở ngại lớn để tăng hiệu quả chọn lọc. Nếu mùi vị có thể phân tích được, thì số
lượng kiểu gen mong muốn được chọn lọc chính xác có thể sẽ tăng lên. Một
nghiên cứu gần đây ở Georgia, Mỹ chỉ rõ rằng có thể phát hiện sự khác biệt về
mùi thơm giữa các giống khoai lang nhờ phương pháp sắc ký khí. Cũng có thể
phân tích được tỷ lệ đường và các axit hữu cơ trong củ khoai lang.
Nước Mỹ đã chọn tạo ra nhiều giống khoai lang chất lượng cao, phổ
biến các giống khoai lang có ruột củ màu cam đậm, dẻo và có hương vị thơm
để tiêu thụ tươi như một loại rau xanh cao cấp và dùng trong công nghiệp
thực phẩm. Mỹ hiện đang tiếp tục thực hiện các nghiên cứu chọn giống khoai

cầu tiêu chuẩn cho chế biến công nghiệp (Gin Mok và cs., 1996 [25]).
16
2.5. Tình hình sản xuất và nghiên cứu khoai lang ở Việt Nam
2.5.1. Tình hình sản xuất
Sản xuất khoai lang ở Việt Nam chủ yếu được tiến hành ở hộ nông dân,
nói chung tự sản xuất tự tiêu là chính, ít có tính chất hàng hóa. Hàng chục
năm trước đây, các nhà chọn giống và các nhà nông học đã giới thiệu và phát
triển các giống mới và các biện pháp kỹ thuật, nhưng năng suất không tăng
như mong muốn. Cây khoai lang đang có một triển vọng lớn về nguồn lực
lương thực bổ sung, về chế biến công nghiệp và cả tiềm năng lớn về thức ăn
cho gia súc nên nó đòi hỏi đầu tư nghiên cứu hơn nữa nhằm tìm ra giải pháp
cho các vẫn đề chọn giống, sản xuất và nâng cao giá trị sử dụng.
Ở Việt Nam hiện nay khoai lang làm lương thực cho người giảm dần,
chủ yếu làm thức ăn cho chăn nuôi và nguyên liệu chế biến.
Tuy nhiên có đến 90% sản phẩm khoai lang được sử dụng chủ yếu ở
vùng nông thôn; ở các thành phố được sử dụng với một lượng rất ít. Ở Hà Nội
và thành phố Hồ Chí Minh xấp xỉ 1%, củ Khoai lang thu hoạch được sử dụng
dưới dạng quà sáng và làm bánh.
Ở vùng nông thôn có tới 60% sản lượng Khoai lang được dùng làm
thức ăn gia súc dưới dạng củ tươi. Ở vùng đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung
bộ, Duyên hải miền Trung, một lượng lớn Khoai lang được phơi khô (củ thái
lát, thân lá phơi khô dã thành bột). Tình hình sản xuất khoai lang trong những
năm gần đây được trình bày ở bảng 2.2.
Năng suất bình quân của các nước trên thế giới đạt 12 - 13 tấn/ha trong
đó Việt Nam mới chỉ đạt 8 - 9 tấn/ha.Số liệu bảng 2.2 cho thấy diện tích trồng
khoai lang ở Việt Nam giảm dần trong những năm gần đây, từ 175.500 ha
(năm 2007) xuống còn 148.500 ha (năm 2011), tuy năng suất tương đối ổn
định và tăng dần trong 2 năm 2010 và 2011, nhưng sản lượng năm 2011 vẫn
đạt 1.390.000 tấn chỉ kém năm 2007 có 47.000 tấn.
Đây là vấn đề mà các nhà hoạch định quản lý và khoa học phải xác

tỉnh ven biển Miền Trung nước ta (Anon, 1998)
Theo số liệu thống kê về diện tích sản lượng cụ thể tại các vùng miền
trên cả nước trong năm 2010 được thể hiện trong bảng 2.3.
Bảng 2.3: Diện tích, năng suất, sản lượng khoai lang ở các vùng của
Việt Nam năm 2010
Vùng sản
xu
ất
Năm 2
010
Diện tích
(ha)
Năng suất
(
t

n
/
h
a
)
Sản lượng
(1.000 tấn
)
Đồng bằng sông Hồng 27,0 9,14 247,0
Trung du và miền núi phía Bắc 39,9 6,42 256,3
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 53,9 6,31 340,6
Tây Nguyên 14,1 10,74 151,5
Đông Nam Bộ 2,00 8,0 16,0
Đồng bằng sông Cửu Long 14,9 20,61 307,1

đó công nghệ sau thu hoạch đối với khoai lang phát triển còn rất chậm, chưa
đáp ứng được yêu cầu của sản xuất, sản phẩm khoai lang chưa trở thành sản
19
phẩm hàng hoá.
2.5.2. Tình hình nghiên cứu
Cây khoai lang được đưa vào trồng ở Việt Nam cách đây khoảng hơn
400 năm, là cây trồng có nhiều điểm ưu việt so với các cây trồng khác như:
thời gian sinh trưởng ngắn trồng được nhiều vụ trong năm, có tiềm năng năng
suất rất cao, có thể lên đến 50- 60 tấn/ha. Một số nước có năng suất cao như
Sê-nê-gan đạt 33,3 tấn/ha; Ai Cập đạt 30,6 tấn/ha, Trung Quốc đạt 22,3
tấn/ha, Nhật Bản đạt 21,7 tấn/ha, trong khi năng suất khoai lang của Việt Nam
chỉ đạt 9,29 tấn/ha (FAO, 2011 [ 24]).
Khoai lang chiếm một vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp,
đứng thứ 3 sau lúa và ngô. Khoai lang là cây lương thực dễ trồng, đầu tư thấp
nhưng có tiềm năng năng suất cao. Từ xưa nông dân ta đã có truyền thống sử
dụng củ khoai lang làm lương thực thực phẩm và thức ăn gia súc. Hiện nay
lượng khoai lang vẫn được dùng làm lương thực cho con người giảm dần, chủ
yếu dùng làm thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu cho chế biến vì vậy ngoài
những giống khoai lang có năng suất củ cao, các giống thuộc nhóm có năng
suất thân lá cao, giống có hàm lượng đường, hàm lượng protein cao làm
nguyên liệu cho chế biến (bánh kẹo, chips khoai lang, ) cũng đang người sản
xuất quan tâm. Những năm gần đây do việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng nên
diện tích khoai lang ở nhiều vùng bị thu hẹp lại. Tuy nhiên ở những vùng đất
nghèo dinh dưỡng, không chủ động tưới, cây khoai lang vẫn chiếm một diện
tích khá lớn (Mai Thạch Hoành, 2005 [9]).
Sản xuất khoai lang nước ta không đồng đều cả về diện tích và trình độ
thâm canh, năng suất thấp và có sự chênh lệch khá lớn giữa các vùng sản xuất.
* Nghiên cứu về giống khoai lang
Công tác chọn giống khoai lang ở Việt Nam trước năm 1978 dựa chủ
yếu vào nguồn giống nhập nội (chủ yếu từ Trung Quốc) để bình tuyển và giới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status