BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
LÊ QUANG VINH
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỦI RO TRONG QUÁ
TRÌNH THI CÔNG DỰ ÁN: XỬ LÝ SẠT LỞ ĐOẠN ĐÊ
SÔNG NHUỆ ĐOẠN QUA ĐỊA BÀN XÃ TÂN MINH, HUYỆN
THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
LÊ QUANG VINH
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỦI RO TRONG QUÁ
TRÌNH THI CÔNG DỰ ÁN: XỬ LÝ SẠT LỞ ĐOẠN ĐÊ
SÔNG NHUỆ ĐOẠN QUA ĐỊA BÀN XÃ TÂN MINH, HUYỆN
THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Tác giả luận văn
Lê Quang Vinh
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài Luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của riêng cá
nhân tôi. Các số liệu và kết quả trong luận văn là hoàn toàn đúng với thực tế và
chưa được ai công bố trong tất cả các công trình trước nào trước đây. Tất cả các
trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày
tháng
Tác giả luận văn
Lê Quang Vinh
năm 2016
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài : .................................................................................... 1
2. Mục đích của đề tài: ............................................................................................ 2
3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu: .......................................................................... 2
4. Cách tiếp cận và phạm vi nghiên cứu: ................................................................ 2
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG THI CÔNG
XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH .................................................................................... 3
2.3.2. Đánh giá và đo lường khả năng thiệt hại ................................................ 24
2.3.3. Phân tích, đánh giá mức độ rủi ro tới quá trình thi công ........................ 24
2.3.4. Các phương pháp quản lý rủi ro .............................................................. 27
2.4. Các giải pháp quản lý rủi ro trong quá trình thi công Dự án “ Xử lý sạt
lở đoạn đê sông Nhuệ đoạn qua địa bàn xã Tân Minh, huyện Thường Tín,
TP Hà Nội”........................................................................................................... 29
2.4.1. Quy trình quản lý rủi ro đưa vào giai đoạn thực hiện thi công Dự án “
Xử lý sạt lở đoạn đê sông Nhuệ đoạn qua địa bàn xã Tân Minh, huyện Thường
Tín, TP Hà Nội”. ............................................................................................... 29
2.4.2 Xây dựng kế hoạch phòng tránh rủi ro trong quá trình thi công Dự án:
“Xử lý sạt lở đoạn đê sông Nhuệ, đoạn qua địa bàn xã Tân Minh, huyện
Thường Tín, TP Hà Nội.” ................................................................................. 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................................ 38
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỦI RO TRONG QUÁ
TRÌNH THI CÔNG DỰ ÁN: XỬ LÝ SẠT LỞ ĐOẠN ĐÊ SÔNG NHUỆ,
ĐOẠN QUA ĐỊA BÀN XÃ TÂN MINH, HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH
PHỐ HÀ NỘI........................................................................................................... 39
3.1 Giới thiệu về Dự án ....................................................................................... 39
3.1.1. Sự cần thiết ưu tiên của Dự án ............................................................... 39
3.1.2. Cơ sở thiết kế của dự án .......................................................................... 40
3.2. Các bước quản lý rủi ro và đảm bảo an toàn trong thi công xây dựng
công trình thủy lợi ............................................................................................... 47
3.2.1. Xác định rủi ro ........................................................................................ 47
3.2.2. Lập kế hoạch quản lý rủi ro: ................................................................... 47
3.2.3. Tiến hành phân tích rủi ro định tính:....................................................... 48
3.2.4 Tiến hành phân tích rủi ro định lượng: .................................................... 48
3.2.5. Lập kế hoạch ứng phó với rủi ro ............................................................. 48
3.2.6. Quá trình quản lý rủi ro trong thi công xây dựng công trình .................. 49
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐTXD:
Đầu tư xây dựng
CTXD:
Công trình xây dựng
CLCTXD:
Chất lượng công trình xây dựng
XDCT:
Xây dựng công trình
CQQLNN:
Cơ quan Quản lý Nhà nước
HMCT:
Hạng mục công trình
TVGS:
Tư vấn giám sát
Dự án xây dựng
TP
Thành phố
TT
Thứ tự
NVATLĐ
Nhân viên an toàn lao động
CQMT
Cơ quan môi trường
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Quá trình quản lý rủi ro trong xây dựng ..................................................... 8
Hình 1.2: Vòng tròn xác định, đánh giá và phản ứng với rủi ro ................................. 9
Hình 2.1: Bờ kè đã bị hư hỏng nghiêm trọng............................................................ 22
Hình 2.2: Cát được múc ra để xử lý bờ kè ................................................................ 23
Hình 2.1 : Sơ đồ khắc phục rủi ro cho Dự án............................................................ 35
Hình 2.2: Các biện pháp quản trị rủi ro trong dự án giai đoạn triển khai thi công ... 36
Hình 2.3: Sơ đồ chiến lược đối phó rủi ro................................................................. 37
Hình 3.1: Mặt cắt đại diện đoạn 1 ............................................................................. 41
Hình 3.2: Mặt cắt đại diện đoạn 2 (Từ C10 đến C12) .............................................. 43
hiện dự án. Nhìn nhận, đánh giá và chủ động quản lý ảnh hưởng của các tác động
này đảm bảo sự thành công của dự án. Vấn đề này đã được nhiều nước phát triển
nghiên cứu và giải quyết thành công trong thực tiễn.
Dự án đầu tư xây dựng công trình được triển khai nhằm mục đích thực hiện
mục tiêu đầu tư, phát triển, tạo cơ sở vật chất cho xã hội, do vậy thường có thời gian
hoạt động dài, chịu tác động trực tiếp từ nhiều môi trường xung quanh như chính
trị, kinh tế, xã hội, tự nhiên, luật pháp, công nghệ… Vì vậy những điều chỉnh trong
quá trình thực hiện, quản lý dự án là một thực tế. Những năm qua, đầu tư phát triển
ở nước ta không ngừng tăng nhanh cả về quy mô, lĩnh vực với sự tham gia rộng rãi
của toàn xã hội. Tuy nhiên, việc nhận dạng, đánh giá, kiểm soát nhằm hạn chế tác
động xấu từ các ảnh hưởng nêu trên tới dự án chưa được chúng ta chú trọng, còn
đối phó bị động. Thực tế đã phản ánh qua một số dự án đầu tư sản xuất mía đường,
xây dựng hệ thống cảng biển, các khu chợ đầu mối…Chính các tác động không ổn
từ môi trường xung quanh và điều chỉnh từ nội tại dự án dẫn tới phải thay đổi nhiều
tiêu chí cơ bản được dự tính ban đầu và làm thay đổi hiệu quả đầu tư của dự án. Đó
chính là sự tồn tại của rủi ro đối với dự án. Rủi ro xuất hiện khi tồn tại đồng thời hai
yếu tố cơ bản: yếu tố gây ra rủi ro và đối tượng chịu tác động, ảnh hưởng.
Đoạn đê trong khu vực của dự án nằm trên địa phận xã Tân Minh, huyện
Thường Tín, thành phố Hà Nội tương ứng từ K36+400 đến K36+846,3 dài 446,3m.
Hiện tại đoạn đê thuộc bờ hữu sông Nhuệ qua địa bàn 3 thôn, thôn Phúc Trại,
thôn La Uyên, thôn Thọ Giáo với hiện trạng công trình đã nêu ở trên, tuyến đê sông
Nhuệ đang bị sạt lở nghiêm trọng đe dọa tới an toàn tuyến đê sông Nhuệ từ đó ảnh
hưởng tới an toàn tính mạng và tài sản của người dân sống trong vùng.
Dự án đã được triển khai thi công nhưng gặp một số vấn đề:
2
- Về mặt bằng thi công tương đối chật hẹp nhà dân ở ngay sát chân đê nên thi
công dễ ảnh hưởng tới những công trình lân cận;
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG THI CÔNG
XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
1.1. Tổng quan về quản lý rủi ro
1.1.1. Khái niệm rủi ro
Theo nghiên cứu một số tài liệu rủi ro được định nghĩa: ta cần tìm hiểu kỹ về
rủi ro như sau:
Rủi ro đầu tư là tổng hợp những yến tố ngẫu nhiên (bất trắc) có thể đo lường
bằng xác suất, là những bất trắc gây nên các mất mát thiệt hại.
Rủi ro trong quản lý dự án là một đại lượng có thê đo lường. Trên cơ sở tần
suất xuất hiện lặp một hiện tượng trong quá khứ, có thể giả định nó lại xuất hiện
tương tự trong tương lai. Trong quản lý dự án, một hiện tượng được xem là rủi ro
nếu có thể xác định được xác suất xuất hiện của nó. Trong trường hợp đó, rủi ro có
xu hướng được bảo hiểm và có thể được lượng hóa như sau:
Rủi ro = Xác suất xuất hiện X Mức thua thiệt / kết quả
Cần phân biệt hai phạm trù: rủi ro và bất trắc. Bất trắc phản ánh tình huống,
trong đó không thể biết được xác suất xuất hiện của sự kiện. Như vậy, khái niệm bất
trắc chứa đựng yến tố chưa biết nhiều hơn khái niệm rủi ro. Rủi ro và bất trắc có thể
xem như hai đầu của đoạn thẳng. Rủi ro nằm ở phía đầu có khả năng đo lường được
nhiều hơn và nhiều số liệu thống kê hơn để đánh giá. Bất trắc nằm ở đầu còn lại: “sẽ
không có số liệu” để đo lường. Có thể mô tả sự phân biệt này qua hình sau:
Rủi ro
Bất trắc
-
Có thể định lượng
-
xảy ra gây những thiệt hại về lợi ích của con người như: sức khỏe, tinh thần, tài
sản… Như vậy rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả. Rủi ro hiện diện
trong hầu hết các hoạt động của con người. Khi có rủi ro người ta không thể dự
đoán được chính xác kết quả. Sự hiện diện của rủi ro gây ra sự bất định. Như vậy,
sự bất định là sự nghi ngờ về khả năng của chúng ta trong tiên đoán kết quả nó xuất
hiện khi có một cá nhân nhận thức được nguy cơ về rủi ro. Nguy cơ rủi ro có thể
phát sinh bất cứ khi nào và không thể dự đoán trước được. Và một khi xảy ra thì
hậu quả thường thấy mang lại nhiều tổn thất cho người gánh chịu rủi ro đó hầu hết
các rủi ro đều sẽ diễn ra nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người.
Trên cơ sở các khái niệm trên đây có thể khái niệm rủi ro như sau: Rủi ro là
sự tổng hợp của những sự kiện ngẫu nhiên tác động lên sự vật, hiện tượng làm thay
đổi kết quả của sự vật, hiện tượng (thường theo chiều hướng bất lợi) và những tác
động ngẫu nhiên đó có thể được đo bằng xác suất.
Rủi ro có hai mặt (hai khía cạnh) là tiêu cực và tích cực và có thể được xác
định bằng xác suất xuất hiện rủi ro nhân với mức độ, thiệt hại hoặc lợi ích đạt được
do rủi ro gây ra.
Nhận thức phổ biến hiện nay cho rằng rủi ro bao gồm cả hiểm họa và cơ hội:
Nếu rủi ro là một hiểm họa thì sẽ gây chở ngại cho việc thực hiện mục tiêu. Nếu rủi
ro xuất hiện như một cơ hội thì lại tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện mục
tiêu. Rủi ro dự án là tổng hợp những yếu tố ngẫu nhiên, những tình huống không
thuận lợi liên quan đến bất định, có thể đo lường bằng xác suất không đạt mục tiêu
đã định của dự án và gây lên mất mát thiệt hại.
Rủi ro là những điều kiện hoặc sự kiện không chắc chắn mà nếu nó xảy ra thì
nó sẽ tác động xấu đến mục tiêu của dự án. Rủi ro là các biến cố không chắc chắn
có xảy ra hay không, sự không chắc này phát sinh từ nhận thức của dự án về tương
lai, dựa trên ước lượng, giả định hoặc một ít sự kiện về nguồn lực, thời gian và yêu cầu.
5
Bất định
Rủi ro
Thiệt hại
Sự không đầy đủ và Khả năng, xác suất thiệt Thiệt hại, mất mát do xuất
không
chính
xác
của hại, mất mát liên quan đến hiện sự kiện rủi ro trong
thông tin về các điều kiện bất định
điều kiện bất định, ví dụ
thực hiện dự án
mất thời gian làm việc của
công nhân, thiếu hụt thu
nhập, gia tăng chi phí
Như vậy theo ý hiểu thông thường rủi ro luôn là yếu tố mang mầu sắc tiêu
cực, nhưng khác với bất định rủi ro có thể đo lường định hóa được. Rủi ro liên quan
đến những kết cục thiệt hại và mất mát. Về mặt toán học có thể xem rủi ro là một
hàm số của mức độ thiệt hại với biến số là sự không chắc chắn. Đây là một hàm số
thuận biến nghĩa là độ không chắc chắn càng cao thì rủi ro càng lớn, thể hiện ở mức
1.1.4. Ý nghĩa, vai trò của công tác quản lý rủi ro
Rủi ro được coi là mối nguy hiểm, có khả năng (nhưng không chắc chắn) gây
ra tác động tiêu cực tới kết quả dự định ban đầu như mất mát, thương tật, suy giảm
chất lượng hay tăng thêm chi phí không cần thiết. Từ đó, ta thấy cần coi trọng và
luôn xem xét đến các yếu tố có thể gây ra các rủi ro bất lợi và áp dụng biện pháp
quản lý rủi ro phù hợp để hạn chế và loại bỏ những tác động không tốt tới giai đoạn
thi công xây dựng sau này. Tác giả sẽ trình bày rõ hơn về rủi ro và quản lý rủi ro ở
các chương tiếp sau cho các quá trình quản lý rủi ro là xác định rủi ro, đánh giá rủi
ro và phản ứng với rủi ro.
1.1.5. Quy trình quản lý rủi ro
Quản lý rủi ro là một quá trình có hệ thống để xác định rủi ro, đánh giá mức
độ tác hại và khả năng xuất hiện, và ứng phó với rủi ro trong hoạt động thi công xây
dựng. Mục đích tổng thể của quá trình quản lý rủi ro là tối đa hóa các cơ hội và
thuận lợi khi có sự kiện rủi ro xuất kiện sau này đồng thời với việc hạn chế các tác
động tiêu cực và bất lợi đối với quá trình thi công xây dựng tại công trường. Một
mô hình bao gồm ba phần chính là xác định rủi ro, đánh giá rủi ro và ứng phó với
rủi ro. Trong thực tế xây dựng thì quá trình quản lý rủi ro có thể sẽ phức tạp hơn,
biến động hơn. Một mô hình quản lý rủi ro được thể hiện với các bước được thực
8
hiện theo cách thông thường và được lặp lại nhiều lần trong một sơ đồ khép kín từ
khi bắt đầu dự án xây dựng cho đến khi kết thúc hoàn toàn các công việc có liên
quan.
Các yếu tố
không chắc
chắn của Dự án
Kết hợp chiến lược phản ứng
rủi ro vào toàn bộ quá trình
Hình 1.2: Vòng tròn xác định, đánh giá và phản ứng với rủi ro
Trong xây dựng luôn phải đối mặt với các vấn đề khó khăn và phức tạp với
sự liên quan của nhiều thành phần và chịu tác động của nhiều yếu tố. Tuy nhiên,
trong mỗi dự án xây dựng thì luôn có hai khía cạnh chính cần chú ý tới, đó là: Quá
trình - các giai đoạn của dự án và hệ thống tổ chức - những người tham gia dự án.
Có thể hiểu rõ về hai khía cạnh này như sau:
- Khía cạnh quá trình: một dự án xây dựng nào cũng bao gồm một số các
giai đoạn kế tiếp nhau. Theo cách đơn giản nhất là phân chia thành hai giai đoạn phát triển dự án và thực hiện dự án. Tiếp theo thì hai giai đoạn này lại có thể phát
triển thêm và phân nhỏ thành các giai đoạn nhiều giai đoạn - nghiên cứu khả thi,
thiết kế, đấu thầu và mua sắm, xây dựng, vận hành thử nghiệm, và hoạt động. Ngoài
10
ra còn có thể có thêm giai đoạn bảo trì, nhưng do không có hoạt động quản lý rủi ro
nào được thực hiện trong giai đoạn này nên có thể không cần quan tâm tới giai đoạn
bảo trì này.
- Khía cạnh hệ thống tổ chức: trong bất kỳ công trình xây dựng nào đều có
nhiều các cá nhân và tổ chức tham gia vào với các vai trò khác nhau. Họ sẽ là chủ
đầu tư, nhà thầu, tư vấn, đơn vị thiết kế, chính quyền địa phương, nhà cung cấp vật
liệu, ngân hàng đầu tư và cho vay tiền, nơi cho thuê máy móc thiết bị…. Khi đó thì
nhiệm vụ quản lý dự án xây dựng bắt đầu trở nên phức tạp và khó khăn hơn do có
quá nhiều người tham gia vào dự án
1.2. Cơ sở pháp lý về quản lý rủi ro
1.2.1 Định nghĩa và phân loại sự cố công trình
Sự cố công trình được ghi nhận và đề cập đến rất nhiều trong các văn bản
pháp lý được ban hành của Chính Phủ và Bộ Xây dựng như Nghi định số
- Chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng trong quá trình thi công xây dựng
hoặc chủ sở hữu, người quản lý, sử dụng trong quá trình khai thác, sử dụng có trách
nhiệm khắc phục sự cố theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau khi
khắc phục sự cố, cơ quan có thẩm quyền quy định tại Khoản 2 Điều này quyết định
việc tiếp tục thi công hoặc đưa công trình vào sử dụng.
- Tổ chức, cá nhân gây ra sự cố có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và chi
phí cho việc khắc phục sự cố tùy theo tính chất, mức độ và phạm vi ảnh hưởng của
sự cố.
Theo quy định tại Điều 119 Luật xây dựng năm 2014 thì trong quá trình thi
công xây dựng, vận hành, khai thác sử dụng công trình nếu phát hiện nguy cơ mất
an toàn, nguy cơ xảy ra sự cố công trình ảnh hưởng đến an toàn tính mạng, công
trình lân cận và cộng đồng thì chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, chủ quản lý
sử dụng công trình, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm sau:
- Kịp thời yêu cầu dừng thi công, vận hành, khai thác sử dụng công trình và
thực hiện các biện pháp để bảo đảm an toàn cho người và tài sản;
- Thực hiện các biện pháp cần thiết để hạn chế và ngăn ngừa các nguy hiểm
có thể xảy ra đối với công trình; thông báo kịp thời cho tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền có liên quan;
12
- Bảo vệ hiện trường, trừ trường hợp phải khắc phục khẩn cấp để ngăn chặn
thiệt hại.
Khi phát hiện, được thông báo về sự cố công trình, cơ quan nhà nước có
thẩm quyền, tổ chức, cá nhân có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình có trách nhiệm sau:
- Thực hiện ngay các biện pháp khẩn cấp để khắc phục sự cố;
- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức giám định nguyên nhân sự cố,
làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân gây ra sự cố công trình.
dựa vào trực giác, kinh nghiệm thay vì các biện pháp ứng phó có hệ thống, sự đánh
giá toàn diện và sự xác định rủi ro hiệu quả trước các rủi ro tiềm tàng.
1.3.1. Thực trạng về quản lý rủi ro trong thi công các công trình xây dựng ở Việt
Nam
Hiện nay ở các nước trên thế giới đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu
về vấn để rủi ro (risk) và quản trị rủi ro (risk management). Ở Việt Nam, đề tài này
cũng đã và đang được giới nghiên cứu rất quan tâm. Tuy nhiên, sự thật là một tỷ lệ
lớn các tài liệu nghiên cứu ở Việt Nam đề cập đến những rủi ro nói chung hoặc liên
quan đến các ngành/lĩnh vực mang tính chất đặc biệt như kinh doanh tiền tệ, tín
dụng (các ngân hàng, quỹ đầu tư), kinh doanh kim loại quý, kinh doanh bảo hiểm.
Riêng lĩnh vực xây dựng công trình thì lại có rất ít các báo cáo/nghiên cứu về rủi ro
kỹ thuật một cách toàn diện và có hệ thống được ghi nhận và công bố ở Việt Nam.
Vì vậy công tác quan lý rủi ro kỹ thuật vẫn chưa được sự quan tâm đúng mức. Việc
nhìn nhận, đánh giá và quản lý các rủi ro ở các dự án vẫn chưa được tiến hành một
cách chủ động, nhiều sự cố tương tự vẫn thường xuyên tái diễn vì những suy nghĩ
chủ quan rằng ít có khả năng xảy ra các sự cố nghiêm trọng. Do đó, việc nhận dạng,
phân tích và đánh giá đúng mức những ảnh hưởng từ rủi ro kỹ thuật đến hiệu quả
kinh tế - xã hội của dự án, đặc biệt là những dự án cấp đặc biệt sẽ tạo ra cái nhìn
tổng quát hơn về tác động của rủi ro và có ý nghĩa rất quan trọng, là rất cần thiết và
cấp bách trong sự phát triển và xây dựng các phương pháp, biện pháp quản trị rủi ro
kỹ thuật phù hợp, đảm bảo an toàn cho công trình và đem lại sự thành công cho các
Dự án.
14
Tại Việt Nam thì nhiều rủi ro cũng được ghi nhận, đặc biệt là đối với ngành
xây dựng nơi có tần xuất rủi ro xuất hiện cao hơn mức thông thường. Tuy nhiên
khái niệm rủi ro và tác động của chúng chưa được giới xây dựng trong nước chú ý
và nghiên cứu nhiều. Chỉ có một số dự án xây dựng lớn có đề cập tới vấn đề rủi ro