Header Page 1 of 166.
Phần I
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trồng trọt và chăn nuôi luôn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt
Nam. Trong đó chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng luôn đóng góp
một phần lớn vào thu nhập của người dân.
Ngày nay, khi đời sống của người dân ngày một nâng cao thì nhu cầu tiêu
thụ các sản phẩm thịt, đặc biệt là thịt lợn chất lượng cao ngày một tăng. Bên
cạnh đó, cùng với các chính sách quan tâm của nhà nước đã tạo nhiều điều kiện
thuận lợi cho chăn nuôi trang trại phát triển.
Điều này đã thúc đẩy người chăn nuôi lợn trên cả nước nói chung và khu
vực ngoại thành Hà Nội nói riêng mạnh dạn đầu tư cải tiến kỹ thuật, áp dụng
những tiến bộ của Khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi nhằm nâng cao năng suất và
hiệu quả chăn nuôi. Nhờ đó mà các sản phẩm thịt lợn không ngừng được tăng
lên cả về số lượng và chất lượng.
Tuy nhiên, cũng như tại các địa phương khác trong cả nước, bên cạnh
những thành tựu đã đạt được thì chăn nuôi lợn trang trại ở khu vực ngoại thành
Hà Nội còn gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề dịch bệnh. Trong đó phải
kể đến hội chứng tiêu chảy ở lợn con gây ra những thiệt hại không nhỏ cho
người chăn nuôi.
Nhằm nắm được tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con giai đoạn theo
mẹ để làm cở sở cho việc phòng trị bệnh chúng tôi tiến hành đề tài: “ Tình hình
mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn con theo mẹ nuôi tại trại Thành Long Cư Yên - Lương Sơn - Hoà Bình. So sánh hiệu quả của một số phác đồ điều trị
hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ”.
Footer Page 1 of 166.
1
biệt là thời tiết lạnh. Do ảnh hưởng của thời tiết lạnh, nhiệt độ cơ thể giảm
xuống làm cho mạch máu ngoại vi co lại dồn máu vào cơ quan phủ tạng. Khi đó,
mạch máu thành ruột bị xung huyết làm trở ngại đến tiêu hóa, thức ăn bị đình trệ
tạo điều kiện cho các vi sinh vật sinh sôi phát triển, đặc biệt là quá trình lên men
tạo ra các sản phẩm độc, các chất độc này kích thích vào hệ thống thần kinh ruột
gây hưng phấn làm cho ruột co bóp mạnh và nhiều lần, đẩy thức ăn ra ngoài.
Đồng thời do hiện tượng xung huyết làm cho tính thấm thành mạch tăng lên, đẩy
thức ăn ra ngoài gây tiêu chảy.
Ngoài ra, nước ta là một nước nhiệt đới, khí hậu quá nóng, quá lạnh, mưa
gió, độ ẩm cao, kết hợp với điều kiện vệ sinh chuồng trại không hợp lý, không
Footer Page 3 of 166.
3
Header Page 4 of 166.
thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông,… đều là các tác nhân Stress bất lợi
dẫn tới viêm dạ dày - ruột, dẫn đến tiêu chảy.
Hồ Văn Nam, Trương Quang và cộng sự, 1997 cho biết: Khi gia súc tiếp
súc với điều kiện ẩm ướt, bị nhiễm lạnh kéo dài sẽ làm giảm khả năng phản
ứng miễn dịch, giảm tác dụng thực bào, do đó gia súc dễ bị các vi khuẩn cường
độc gây bệnh, đặc biệt với lợn sơ sinh và lợn sau cai sữa ít ngày vì các phản
ứng thích nghi bảo vệ của lợn con lúc này là chưa hoàn thiện. Vì vậy việc đảm
bảo nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho tiểu khí hậu chuồng nuôi là rất cần thiết.
2.1.2.2. Nguyên nhân về thức ăn - nước uống
Thức ăn là nguồn nguyên liệu cung cấp năng lượng cho cơ thể tồn tại và
phát triển. Nhưng trong nhiều ca ỉa chảy, nguyên nhân là do sự sai sót trong kỹ
thuật chăn nuôi… Theo nhận xét về nguyên nhân gây viêm ruột ỉa chảy ở vật
nuôi nước ta, Hồ Văn Nam và cộng sự, 1997, đều cho rằng: Thức ăn kém phẩm
Các tác giả còn cho biết: Khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút vi khuẩn
gây thối là nguyên nhân gây bệnh đường ruột. Vi khuẩn gây thối hoạt động,
phân giải các chất trong đường ruột, sinh CO2, H2S, NH3, CH4, Indol, Scatol,…
Làm biểu mô niêm mạc đường tiêu hóa tổn thương, tạo điều kiện cho vi khuẩn
xâm nhập và gây bệnh.
Trịnh Văn Thịnh, (1985), cũng thông báo tác nhân chủ yếu gây bệnh của
lợn con là E.coli, nhiều loại Salmonella (Salmonella cholerae suis, Salmonella
typhisuis) và đóng vai trò phụ là Proteus, trực trùng sinh mủ và song cầu khuẩn,
liên cầu khuẩn.
Để xác định vai trò của E.coli và Salmonella trong phân lợn mắc hội
chứng tiêu chảy, Tạ Thị Vịnh, Đặng Khánh Vân và cộng sự (1996), đã tiến hành
nghiên cứu ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam và kết luận như sau:
- Tiêu chảy ở lợn con 1 - 21 ngày tuổi, có vi khuẩn E.coli mang kháng
nguyên K88 cao hơn nhiều lần so với lợn mắc hội chứng tiêu chảy ở các lứa
tuổi khác.
- Tỷ lệ nhiễm Salmonella cao ở lợn tiêu chảy thuộc lứa tuổi 22 - 60 ngày tuổi.
Theo tác giả thì môi trường sữa trong ruột của lợn con 1 - 21 ngày tuổi ít
thích hợp với Salmonella hoặc do lợn con ít nhiều được truyền kháng thể qua
Footer Page 5 of 166.
5
Header Page 6 of 166.
nhau thai và sữa đầu, vì vậy chỉ những con quá yếu mới nhiễm mà vai trò gây
tiêu chảy ở lợn con chủ yếu là do E.coli.
Đào Trọng Đạt và cộng sự, (1996), khi nghiên cứu bệnh lợn con phân
trắng cho biết: Khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút, E.coli thường xuyên cư trú
trong đường ruột của lợn, thừa cơ sinh sản rất nhanh và gây lên sự mất cân bằng
Bacillus subtilis thì gảm đi.
2.1.2.4. Nguyên nhân do virus
Ngoài sự có mặt của các vi khuẩn người ta cũng chứng minh được virus
cũng là một tác nhân gây tiêu chảy.
Các nghiên cứa về nguyên nhân hội chứng tiêu chảy ở lợn con trên thế giới đã
chỉ ra 2 nhóm virus chủ yếu (thuộc họ Corona viridae và Rota viridae) gây bệnh tiêu
chảy ở lợn đặc biệt là lợn con. Trong nhóm Corona viridae có 2 đại diện chính gây
bệnh tiêu chảy ở lợn là Transmissble – Gastro – Enteritis virus (TGEV) và Poreine –
Epidemic – Diarrhea virus (PEDV) ngoài ra còn có Porcine – Hemagglutinatinl –
Encephalomyelitis virus và Porcine – Respiratory – Corona virus, những virus này ít
khi gây bệnh ở đường tiêu hóa của lợn. Còn trong nhóm Rotaviridae có Rotavirus
(RV) gây bệnh tiêu chảy ở lợn.
Khi bị nhiễm, virus sinh sản theo đường tuần hoàn, virus phá hủy thành
mạch máu, gây viêm tụ máu, xuất huyết làm cho niêm mạc bị tụ máu dầy lên,
thấm huyết tương và hình thành màng giả từ dịch rỉ, huyết tương hỗn hợp với
những mảng biểu mô, khi bong tróc ra để lại những vết lõm không đều. Viêm
loét rải rác trong đường tiêu hóa: Miệng, dạ dày, ruột, trực tràng. Vết loét sâu,
rộng nếu có các vi khuẩn kết hợp tác động. Đặc biệt virus làm trỗi dậy những vi
khuẩn kết hợp làm cho bệnh trở lên nặng và phức tạp hơn.
2.1.2.5. Nguyên nhân do ký sinh trùng
Ký sinh trùng nói chung và ký sinh trùng đường tiêu hóa nói riêng là một
trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn cũng như một số gia súc khác. Tác
hại do chúng gây ra không chỉ cướp chất dinh dưỡng của vật chủ mà còn tác
động lên vật chủ thông qua nội, ngoại độc tố do chúng tiết ra, làm giảm sức đề
kháng, gây trúng độc, tạo điều kiện cho những bệnh khác phát sinh. Ngoài ra ký
sinh trùng còn gây tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa, gây viêm ruột ỉa chảy.
Footer Page 7 of 166.
7
Footer Page 8 of 166.
8
Header Page 9 of 166.
* Triệu chứng:
- Lợn con bị tiêu chảy phân nhiều nước, có bọt, màu trắng hoặc vàng, mùi
hôi tanh khó chịu.
- Lợn có thể nôn, bụng thóp lại mắt lõm sâu, da tím tái.
- Lợn bị mất nước, lông xù, bỏ bú, suy kiệt trầm trọng, có thể chết.
- Nhóm E.coli phù đầu thường gặp trên heo con sau cai sữa 1 – 3 tuần
(thường gặp ở 42 – 45 ngày sau khi sinh) và những con lớn trội trong đàn là
những con nhiễm đầu tiên. Sưng phù ở mí mắt, hầu, họng.
* Bệnh tích:
- Xác chết gầy, bụng hóp. Chất chứa trong đường ruột lỏng, có màu vàng.
- Bệnh tích chủ yếu ở xoang bụng, ruột non bị viêm cata kèm theo xuất
huyết, mạch máu màng treo ruột sưng mềm, đỏ tấy do sung huyết. Niêm mạc
ruột non và dạ dày sưng, phủ một lớp nhày, có nhiều dạng xuất huyết khác
nhau. Gan bị thoái hóa, màu đất sét, sưng, túi mật căng. Lách không sưng, bóc
lớp vỏ thấy xuất huyết lách mềm, tim to, cơ tim mềm.
2.2.2. Bệnh phó thương hàn (Salmonellosis)
Salmonellosis là bệnh truyền nhiễm trên lợn gây ra bởi trực khuẩn gram
âm thuộc giống Salmonella dưới 2 dạng: Salmonella cholerae suis chủng
Kunzendoz gây bệnh ở thể cấp tính và Salmonella typhy suis chủng Vondagen
gây bệnh ở thể mạn tính. Bệnh thường xảy ra ở lợn sau cai sữa đến 4 tháng tuổi,
lợn lớn ít mắc bệnh.
* Triệu chứng:
- Thể cấp tính: Xảy ra ở đầu ổ dịch với triệu chứng nhiễm trùng huyết.
thống lông nhung ruột.
* Triệu chứng: Bệnh có thể xảy ra ở thể cấp tính, á cấp tính và thể mạn tính:
- Thể cấp tính: Thường gặp ở lợn 2 – 3 ngày tuổi.
- Thể á cấp tính: Gặp ở lợn 5 – 7 ngày tuổi.
- Thể mạn tính: Ở lợn lớn hơn, khoảng 2 – 4 tuần tuổi, ỉa chảy ra máu
thường kéo dài đến 1 tuần.
Lợn sinh ra bình thường nhưng sau 12 – 24h có thể nhiễm bệnh và xuất
hiện những triệu chứng lâm sàng: Ỉa chảy dữ dội, phân lẫn máu hay nước màu đỏ
Footer Page 10 of 166.
10
Header Page 11 of 166.
nâu như rượu vang. Nửa thân sau bết phân lẫn máu, lợn bệnh yếu đi nhanh chóng,
qụy và chết. Thân nhiệt dưới mức bình thường khoảng 350C.
* Bệnh tích:
Viêm hoại tử ruột nặng nề, kết tràng sưng to, viêm màu đỏ thẫm, nếu lợn
chết đột ngột thì nó chứa đầy những thứ nhão nhoét, màu đỏ máu.
2.2.4. Bệnh dịch tả lợn
Bệnh do virut gây ra với tốc độ lây lan nhanh do tiếp xúc, thức ăn, nước
uống. Bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể qua thức đường hô hấp và bề mặt da bị
tổn thương.
Bệnh xảy ra quanh năm, tất cả các giống lợn, lứa tuổi đều bị mắc bệnh.
Bệnh thường bị bội nhiễm với các bệnh phó thương hàn, tụ huyết trùng
hoặc PRRS (bệnh tai xanh) gây tỷ lệ chết cao có thể tới 100%.
* Triệu chứng: Thời gian ủ bệnh từ 4 – 8 ngày, xuất hiện ở các thể sau:
- Thể quá cấp tính: Bệnh phát ra nhanh chóng, lợn khỏe mạnh tự nhiên bỏ
ăn, ủ rũ, sốt cao 40 – 420C. Lợn giãy giụa một lát rồi lăn ra chết. Bệnh tiến triển
hình vòng tròn đồng tâm.
- Phổi: Tụ huyết, xuất huyết, nhiều vùng gan hóa hoại tử.
2.2.5. Bệnh viêm dạ dày - ruột truyền nhiễm (T.G.E)
T.G.E là bệnh truyền nhiễm mạnh do virut Corona ARN gây ra ở lợn con
với những triệu chứng lâm sàng chính: Ỉa chảy giữ dội, mất nước trầm trọng,
thường kèm theo nôn mửa và tỷ lệ chết cao ở lợn sơ sinh.
Virut xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp và tiêu hóa, nhân lên ở phổi,
các hạch lympho, chủ yếu là các tế bào đường tiêu hóa đặc biệt ở tá tràng, hồi
tràng. Ở đây virut gây tổn thương và huỷ hoại tế bào niêm mạc. Gây hạ đường
huyết, ỉa chảy dữ dội mất nước, chất điện giải. Làm cho con vật giảm sức đề
kháng mở đường cho một số vi khuẩn gây bội nhiễm.
* Triệu chứng:
Lợn con ở các lứa tuổi ỉa chảy nặng nề có khi kéo dài vài ngày. Phân toàn
nước và có màu vàng xanh nhạt, đôi khi có mùi hôi và lẫn những cục sữa chưa
tiêu. Lợn con dưới 3 tuần tuổi nôn mửa, lợn bệnh mất nước nghiêm trọng, chết
do trụy tim, mất nước, chất điện giải.
Footer Page 12 of 166.
12
Header Page 13 of 166.
Thời gian nung bệnh ngắn, chỉ 1 – 2 ngày, tỷ lệ chết phụ thuộc vào tuổi
lợn bệnh. Lợn con thường tỷ lệ chết cao hơn, lợn lớn thường hồi phục, khỏi
bệnh sau 7 – 10 ngày. Khả năng lây lan trong đàn rất nhanh.
* Bệnh tích:
Lợn gầy sút do mất nước, dạ dày chứa các cục sữa chưa tiêu, ruột non
chứa đầy dịch màu vàng lẫn bọt và thành ruột mỏng. Viêm dạ dày và ruột rất rõ,
nhất là ở ruột non 10cm đầu của tá tràng bị thoái hóa từng mảng. Hạch lympho
sinh phòng bệnh tạo ra môi trường tốt, làm tăng sức đề kháng không đặc hiệu nhằm
ngăn ngừa mầm bệnh lây lan. Thực hiện nghiêm ngặt các khâu như: Vệ sinh, sát
trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi cách ly động vật mới nhập, động vật ốm luôn là
những biện pháp cần thiết trong khâu vệ sinh phòng bệnh.
Nhiều tác giả nhấn mạnh về chế độ đảm bảo ăn uống tốt cho lợn con, tập lợn
con vận động, chống nóng, chống ẩm và chống lạnh cho lợn con (Đào Trọng Đạt,
1966). Phạm Gia Ninh từ năm 1980 đã dùng lò sưởi để chống lạnh cho lợn con giai
đoạn bú sữa, kết quả đã làm giảm tỷ lệ lợn con phân trắng.
Như vậy, việc đảm bảo tốt kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng như thức ăn đảm
bảo chất lượng, tập cho lợn con ăn sớm, việc đảm bảo tốt vệ sinh chuồng nuôi,
vệ sinh tiểu khí hậu chuồng nuôi là rất quan trọng nhằm hạn chế tỷ lệ lợn con
theo mẹ mắc hội chứng tiêu chảy.
2.3.2. phòng bệnh bằng vacxin
Việc tiêm phòng vacxin là biện pháp có hiệu quả cao trong phòng các bệnh
truyền nhiễm gây tiêu chảy cho lợn, tạo miễn dịch chủ động cho gia súc. Để
phòng hội chứng tiêu chảy cho lợn con đạt hiệu quả cao thì nên kết hợp dùng
vacxin cho cả lợn con và lợn mẹ.
Năm 1989 Nguyễn Thị Nội, Nguyễn Ngọc Nhiên, Cù Hữu Phú đã tiến
hành nghiên cứu vacxin hỗn hợp Salco, được chế tạo từ các chủng vi khuẩn
Salmonella, E.coli và Streptococcus để phòng tiêu chảy cho lợn.
2.4. ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY
Hội chứng tiêu chảy do nhiều nguyên nhân gây ra. Muốn điều trị có kết quả
tốt, trong từng trường hợp cụ thể, phải tìm được nguyên nhân chính và mỗi
nguyên nhân bệnh có một cách điều trị khác nhau.
Sau khi loại bỏ căn nguyên chính. Điều trị theo nguyên tắc chung: Thải trừ
chất chứa trong dạ dày và ruột, bảo vệ niêm mạc đường tiêu hoá, ức chế sự lên
Footer Page 14 of 166.
14
Footer Page 15 of 166.
15
Header Page 16 of 166.
Nguyễn Vĩnh Phước, (1978) đã phân lập được E.coli và nhận định vi khuẩn
có vai trò nhất định trong bệnh phân trắng lợn con.
Để xác định vai trò của vi khuẩn E.coli và Salmonella trong phân lợn mắc
hội chứng tiêu chảy, Tạ Thị Vịnh và Đặng Khánh Vân (1996) đã tiến hành
nghiên cứu ở các tỉnh phía bắc Việt Nam và kết luận sau:
- Vi khuẩn E.coli và Salmonella đều thấy trong phân lợn bệnh cao hơn
lợn bình thưòng.
- Tiêu chảy ở lợn 1- 21 ngày tuổi, có thấy vi khuẩn E.coli mang kháng nguyên K88
cao hơn nhiều lần so với lợn mắc hội chứng tiêu chảy ở lứa tuổi khác.
- Tống Vũ Thắng, Đậu Ngọc Hào, (2008), đã nghiên cứu mối quan hệ giữa ô nhiễm
Nấm mốc, E.coli, Salmonella, Clostridium perfringens trong thức ăn hỗn hợp và tỷ lệ
lợn bị tiêu chảy trong mùa khô, mùa mưa tại 6 cơ sở chăn nuôi lợn sinh sản ở Thành
Phố Hồ Chí Minh.
- Phạm Thế Sợn, Lê Văn Tạo, Cù Hữu Phú, Phạm Khắc Hiếu, (2008), đã nghiên
cứu đặc tính của vi khuẩn E.coli, Samonella ssp, Clostridium perfringens gây bệnh lợn
con tiêu chảy.
- Tỷ lệ nhiễm Salmonella cao ở lợn tiêu chảy thuộc lứa tuổi 22- 60 ngày.
- Tạ Thị Vịnh (1996), nghiên cứu những biến đổi bệnh lý ở đường ruột trong
bệnh phân trắng lợn con.
- Nguyễn Thị Khanh, (1994), nghiên cứu chế phẩm Biolactyl trong khống
chế hội chứng tiêu chảy lợn con.
- Phạm Thế Sơn, Phạm Khắc Hiếu, (2008), nghiên cứu chế phẩm EM –
TK21 để phòng và trị hội chứng tiêu chảy ở lợn từ 1 đén 90 ngày tuổi
Theo nghiên cứu của V.V. Niconxki (1986), có 10% lợn chết do vi khuẩn E.coli .
Theo Laval (1997), Salmonella cholerae suis và Salmonella typhimurium là hai
tác nhân gây tiêu chảy ở lợn sau cai sữa và đầu giai đoạn vỗ béo.
Glawis Chning E. Bacher.H (1992), lại xác định Clostridium perfringens Type
Footer Page 17 of 166.
17
Header Page 18 of 166.
A và Typ C là một trong những nguyên nhân gây ỉa chảy và đã gây thiệt hại kinh tế
lớn cho nguời chăn nuôi lợn.
Stevens, 1963 (trích theo Tạ Thị Vịnh, 1995) đã nghiên cứu phòng bệnh viêm ruột
ỉa chảy do E.coli và ông đưa ra 3 biện pháp chính:
+ Làm giảm số lượng E.coli.
+ Tăng sức đề kháng của lợn con bằng cách cho lợn con bú sữa đầu và bổ sung
sắt vào thức ăn cho lợn mẹ.
+ Thực hiện các phương pháp chăm sóc quản lý nuôi dưỡng lợn mẹ trong thời
kỳ có chửa và lợn con trong thời kỳ 3 tuần tuổi đầu.
Footer Page 18 of 166.
18
Header Page 19 of 166.
Phần III
ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - NGUYÊN LIỆU VÀ
1250mg
50ml
19
Header Page 20 of 166.
* AMINOVITAL – HIGH inj
Là sản phẩn của công ty thuốc thú y Komipharm International
Trong 100 ml dung dịch chứa:
Thành phần
Thành phần
Dextrose
50mg
L – Arginine HCL
0,525mg
Calcium chloride
2mg
L – Phenylalanine
0,35 mg
0,08 mg
DL - Methionine
0,525mg
Riboflavine
0,05 mg
L - Tryptophane
0,175mg
D – Pantothenol
0,1 mg
L – Cysteine HCL
0,02mg
Pyridoxine HCL
0,1 mg
L - Threonine
0,35 mg
Header Page 21 of 166.
3.4.5. Phương pháp xác định tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy lợn con theo lứa đẻ
của lợn mẹ
3.4.6. Phương pháp thử nghiệm thuốc điều trị
Để thử nghiệm một số thuốc điều trị chúng tôi tiến hành phân 3 lô để
điều trị, những lô này đồng đều nhau. Việc chọn thuốc để điều trị cho các lô
là ngẫu nhiên.
3.4.7. Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi
Tỷ lệ mắc bệnh (%) =
Tỷ lệ khỏi (%)
=
Tỷ lệ tử vong (%)
=
Tổng số con mắc bệnh
x 100
Tổng số con theo dõi
Tổng số con khỏi
x 100
Tổng số con điều trị
Tổng số con chết
P/ngày
Chi phí
(VNĐ)
Advocin
Aminovital
Mycocin
Aminovital
Oxytetracycline
Aminovital
0,2ml
0,5ml
0,5ml
0,5ml
0,4ml
0,5ml
676
325
605
325
700
325
Footer Page 21 of 166.
Tổng chi
phí/1kgP/liệu
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. VÀI NÉT VỀ CƠ SỞ THỰC TẬP
Trại lợn giống ngoại của công ty TNHH Thành Long, nằm trên địa bàn xã
Cư Yên-Lương Sơn- Hoà Bình. Trại xây dựng năm 2002 với tổng diện tích
22.000m2 . Trong đó diện tích sử dụng chăn nuôi khoảng 7000m2, diện tích
vườn cây và khu xử lý nước thải khoảng 6000m2, còn lại là khu hành chính và
khu nhà ở của công nhân.
Chủ trại là bà: Nguyễn thị kim Anh
Kỹ thuật chính là BSTY: Trần văn Tuấn
Trại gồm có 11 công nhân, 2 quản lý và 1 nhân viên bảo vệ. Trại được quản lý,
giám sát chặt chẽ của chủ trại và kỹ thuật.
Khu vực chăn nuôi được xây dựng bao gồm các khu chuồng: Khu chuồng
mang thai với 4 dãy chuồng, mỗi dãy 60 lồng, đầu mỗi dãy là các ô chuồng nuôi
lợn đực giống. Khu chuồng đẻ giáp ranh với khu chuồng mang thai, chung 1
tường vách, gồm 72 lồng đẻ, 20 lồng chờ đẻ. Tiếp đó đến khu chuồng cai sữa
cách chuồng đẻ 1 vườn cây rộng 20m, gồm 2 dãy với 18 ô chuồng, mỗi ô
chuồng rộng 30m2.
Các khu chuồng được xây dựng theo hướng Đông – Nam, chuồng được
xây dựng là chuồng kín, phía đầu chuồng là hệ thống dàn mát, cuối chuồng là hệ
thống quạt hút gió, mái được căng phủ 1 lớp bạt, cách nền chuồng 2,2m, hai bên
tường có hệ thống cửa sổ, chiều rộng 1,5m, chiều cao cách mặt nền chuồng 1,2m.
Ngoài các cửa chuồng có các hố vôi sát trùng ủng trước khi vào chuồng.
Chuồng nái chửa và chờ phối, nái đẻ, lợn cai sữa, các ô chuồng được làm
bằng khung thép, sàn chuồng được lắp ghép bằng các tấm sàn bê tông, tấm sàn
nhựa có lỗ, cách nền chuồng một khoảng nhất định (khoảng 35 cm). Chuồng
Footer Page 23 of 166.
23
Bảng 4.1. Cơ cấu đàn lợn của trại lợn giống ngoại Thành Long.
Tổng số lợn (con).
Loại lợn
Đực giống
Nái sinh sản
Nái hậu bị
Lợn con
theo mẹ
Lợn con
cai sữa
Lợn thịt
Giống lợn
Năm 2009
Năm 2010
Dự kiến cuối 2010
Duroc
2
2
2
200
Duroc
6
6
15
Landrace
20
20
35
Yorkshire
10
10
25
Con lai 2 máu
7200
Footer Page 25 of 166.
25