BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Header Page 1 of 166.
MỤC LỤC ...................................................................................................................... 1
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 3
PHẦN 1: NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ THUYẾT ............................................................ 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN........................................................................................... 6
1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................................ 6
1.2. Tình hình phát triển Elearning.............................................................................. 8
1.3. Ứng dụng Moodle trong hệ thống giáo dục trực tuyến ....................................... 11
1.4. Mục tiêu của bài báo cáo .................................................................................... 14
CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU VỀ ELEARNING ................................................................. 16
2.1. Định nghĩa Elearning ......................................................................................... 16
2.2. Đánh giá ưu nhược điểm của Elearning .............................................................. 17
2.3. So sánh phương pháp học truyền thống và phương pháp Elearning .................... 20
2.4. Elearning trong đào tạo Tiếng anh...................................................................... 25
CHƯƠNG 3: TÌM HIỂU VỀ GÓI PHẦN MỀM MỞ MOODLE .................................. 28
3.1. Giới thiệu về Moodle ......................................................................................... 28
3.2. Tính năng quản lý website ................................................................................. 29
3.3. Tính năng quản lý người dùng ........................................................................... 29
3.4. Tính năng quản lý khóa học ............................................................................... 31
3.5. Các đối tượng sử dụng Moodle .......................................................................... 33
PHẦN 2. THỰC NGHIỆM........................................................................................... 34
CHƯƠNG 1: XÂY DỰNG GIÁO TRÌNH ĐIỆN TỬ ................................................... 34
1.1. Giới thiệu chung về giáo trình điện tử ................................................................ 34
1.2. Xây dựng bài giảng điện tử sử dụng phần mềm Lecture Maker 2.0 .................... 36
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỌC KẾT HỢP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
DẬY TIẾNG ANH ....................................................................................................... 41
2.1. Đánh giá một số mô hình học trực tuyến hiện nay .............................................. 41
2.2. Nguyên tắc và tiêu chí xây dựng mô hình học kết hợp ....................................... 45
2.3. Xây dựng mô hình học kết hợp để dạy Tiếng anh............................................... 47
lượng giáo dục, đào tạo sẽ là nhân tố sống còn quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi
quốc gia, công ty, gia đình và mỗi cá nhân.
Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải tiền thân là Cao đẳng Giao thông vận
tải với hơn 7 năm phấn đấu đóng góp vào sự phát triển của ngành Giao thông vận tải nói
riêng và của toàn xã hội nói chung. Ngày 27/04/2011 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết
định chính thức thành lập Đại học Công nghệ GTVT, đánh dấu mốc phát triển rất quan
trọng của nhà trường. Bước sang một thời kỳ mới, để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực
cho xã hội đòi hỏi cán bộ, giáo viên trường phải không ngừng nỗ lực nghiên cứu nâng
cao chất lượng đào tạo trong môi trường mới [15].
Với mục tiêu hiện nay của giáo dục, theo khẩu hiệu của UNESCO đặt ra cho giáo dục
và đào tạo của thế kỷ XXI là “Học ở mọi nơi, học ở mọi lúc, học suốt đời, dạy cho mọi
người với mọi trình độ tiếp thu khác nhau”. Và nhiệm vụ của giáo dục phải “giúp cho
người học đạt được những kiến thức và kỹ năng, và giúp cho họ có thể tiếp tục việc học
tập suốt cuộc đời” [8]. Để làm được điều đó, việc học không chỉ còn giới hạn trong nhà
trường mà đã được mở rộng hơn về không gian, thời gian và đa dạng hơn về hình thức tổ
chức, hỗ trợ cho nhu cầu “tự học” và “học suốt đời” của mỗi người. Trong Đề án “Xây
dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010” của chính phủ cũng nêu rõ: “xây dựng cả
nước trở thành một xã hội học tập với tiêu chí cơ bản là tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi
để mọi người ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, học liên tục, học
suốt đời ở mọi nơi, mọi lúc, mọi cấp, mọi trình độ; huy động sức mạnh tổng hợp của toàn
xã hội tham gia xây dựng và phát triển giáo dục; mọi người, mọi tổ chức đều có trách
Footer Page 3 of 166.
3
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Header Page 4 of 166.
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Header Page 5 of 166.
• Chương 3: Tổng kết: Bao gồm các đánh giá về phần lý thuyết và thực
nghiệm và các đề xuất phát triển.
Footer Page 5 of 166.
5
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Header Page 6 of 166.
PHẦN 1: NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ THUYẾT
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1 Đặt vấn đề:
Ngày xưa, ông cha ta chủ yếu học tập theo lối văn chương thi cử. Nội dung học tập
và nghiên cứu thu hẹp trong phạm vi tư tưởng, triết lí, nhân sinh quan...chưa có dạy học
và nghiên cứu các môn khoa học tư nhiên. Phương pháp dạy học một chiều; Người học
hoàn toàn thụ động, lấy phương thức học thuộc lòng hoặc phải theo lời thầy là chính.
Thầy được coi là người có hiểu biết toàn diện còn trò được coi là người không biết gì, cần
tìm tới thầy để được rèn giũa dưới sự chỉ bảo của thầy. Do vậy trong quá trình dạy-học,
người thầy giảng giải nhiều, thời gian học tập dài, số lượng tri thức chiếm lĩnh trong qúa
trình học tập hạn chế. Tính độc lập sáng tạo của người học không được thể hiện trong quá
trình học [3].
Ngày nay, với sự bùng nổ thông tin, con người càng phải học tập nhiều môn khoa
học mới, với khối lượng thông tin khổng lồ. Vai trò của người thầy cần phải thay đổi;
Thầy làm nhiệm vụ hướng dẫn, người học tự đi tìm và lĩnh hội tri thức. Như vậy người
trợ quá trình dạy học. Với hệ thống bài giảng được thiết kế rõ ràng, có tính định hướng để
sinh viên dễ dàng xác định được các nội dung cần học, cộng với việc tăng cường tính
tương tác giữa giáo viên và sinh viên và giữa sinh viên với nhau. Với đặc điểm này tạo
cho phương pháp đào tạo hỗn hợp được sử dụng phổ biến trên thế giới, kể cả tại các nước
có nền giáo dục phát triển [4].
Phần lớn các hệ thống e-learning hiện nay đều xây dựng dưới dạng một ứng dụng
web hệ thống quản trị học tập (LMS – Learning Management System) bao gồm tập hợp
của rất nhiều các môđun chức năng khác nhau cho phép quản lý toàn bộ từ nội dung
giảng dạy đến quá trình đăng ký học, quá trình học tập hay quá trình đánh giá kết quả học
tập của từng sinh viên trong mỗi khóa học. Ngoài ra hệ thống còn tích hợp các dịch vụ
cộng tác hỗ trợ quá trình trao đổi thông tin giữa giáo viên với sinh viên và các sinh viên
với nhau bao gồm các dịch vụ: giao nhiệm vụ tới người học, thảo luận, trao đổi, gửi thư
điện tử, lịch học,…[4].
Một số LMS phổ biến hiện nay trên thế giới phải kể đến là: IBM, BlackBoard,
WebCT, Atutor, Itias, LRN, Moodle,…. Trong đó hệ thống quản lý học tập mã nguồn mở
Moodle đang được đánh giá rất cao và chiếm số lượng lớn người dùng trên thế giới.
Footer Page 7 of 166.
7
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Header Page 8 of 166.
1.2 Tình hình phát triển E-learning
1.2.1 Trên thế giới:
Nhận thấy được những hiệu quả to lớn từ e-learning, các nhà giáo dục trên thế giới đã
tích cực đầu tư, nghiên cứu cho các chương trình học tập, xây dựng các mã nguồn mở
như LMS, LCMS (Learning Content Managerment System), các công cụ đóng gói nội
tiềm năng to lớn mà công nghệ thông tin mang lại trong việc mở rộng phạm vi, làm
phong phú thêm nội dung và nâng cao chất lượng của nền giáo dục [7].
Công ty IDC ước đoán rằng thị trường E-learning của châu Âu sẽ tăng tới 10 tỷ USD
trong năm 2008 với tốc độ tăng 96% hàng năm. Ngoài việc tích cực triển khai E-learning
tại mỗi nước, giữa các nước châu Âu có nhiều sự hợp tác đa quốc gia trong lĩnh vực Elearning. Điển hình là dự án xây dựng mạng xuyên châu Âu EuroPACE. Đây là mạng Elearning của 36 trường đại học hàng đầu châu Âu thuộc các quốc gia như Đan Mạch, Hà
Lan, Bỉ, Anh, Pháp cùng hợp tác với công ty E-learning của Mỹ Docent nhằm cung cấp
các khoá học về các lĩnh vực như khoa học, nghệ thuật, con người phù hợp với nhu cầu
học của các sinh viên đại học, sau đại học, các nhà chuyên môn ở châu Âu.
Tại châu á, E-learning vẫn đang ở trong tình trạng sơ khai, chưa có nhiều thành công
vì một số lý do như: các quy tắc, luật lệ bảo thủ, tệ quan liêu, sự ưa chuộng đào tạo
truyền thống của văn hóa châu á, vấn đề ngôn ngữ không đồng nhất, cơ sở hạ tầng nghèo
nàn và nền kinh tế lạc hậu ở một số quốc gia châu á. Tuy vậy, đó chỉ là những rào cản
tạm thời do nhu cầu đào tạo ở châu lục này cũng đang trở nên ngày càng không thể đáp
ứng được bởi các cơ sở giáo dục truyền thống buộc các quốc gia châu á đang dần dần
phải thừa nhận tiềm năng không thể chối cãi mà E-learning mang lại. Một số quốc gia,
đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển hơn tại châu á cũng đang có những nỗ lực
phát triển E-learning tại đất nước mình như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài
Loan,Trung Quốc,...
Nhật Bản là nước có ứng dụng E-learning nhiều nhất so với các nước khác trong khu
vực. Môi trường ứng dụng E-learning chủ yếu là trong các công ty lớn, các hãng sản
xuất, các doanh nghiệp... và dùng để đào tạo nhân viên.
1.2.2 Ở Việt Nam:
Vào khoảng năm 2002 trở về trước, các tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu về E-learning ở
Việt Nam không nhiều. Trong hai năm 2003-2004, việc nghiên cứu E-learning ở Việt
Nam đã được nhiều đơn vị quan tâm hơn. Nhiều hội nghị, hội thảo về công nghệ thông
tin và giáo dục đều có đề cập nhiều đến vấn đề E-learning và khả năng áp dụng vào môi
Footer Page 9 of 166.
9
Việt hóa phần mềm mã nguồn mở Moodle (để xây dựng và quản lý hệ thống học tập trực
tuyến), đã sử dụng công nghệ SCORM (chuẩn được thế giới công nhận, để có thể hợp tác
Footer Page 10 of 166.
10
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Header Page 11 of 166.
và phát triển trong lĩnh vực công nghệ thông tin) và đang triển khai chuyển giao các phần
mềm công cụ tạo bài giảng đạt chuẩn quốc tế miễn phí giúp xuất bản các định dạng file
tuân chuẩn SCORM như Exe, Lectora, Violet...phù hợp với nhu cầu của nước ta.
Tuy nhiên E-learning ở nước ta hiện nay mới đang ở mức sơ khai, số lượng và chất
lượng chưa cao, phạm vi và đối tượng tham gia còn hạn chế, thiếu cơ sở vật chất cần
thiết. Tỷ lệ giờ online trực tiếp giữa giáo viên và học viên trên mạng còn thấp, việc trả lời
hướng dẫn phải được thực hiện nguội, thiếu phương pháp và đội ngũ cán bộ giảng dạy.
Hiện nay vẫn còn không ít sinh viên chưa có hoặc chưa biết sử dụng máy vi tính, mạng
Internet. Đây là một thực tế vô cùng khó khăn trong quá trình học tập. Cũng theo đánh
giá của Bộ GD&ĐT thì hiện nay đang có tình trạng một số trường chạy theo số lượng,
thành tích, phát triển quy mô quá nhanh so với khả năng đảm bảo chất lượng đào tạo, so
với điều kiện về đội ngũ giảng viên và trợ giảng. Việc tổ chức đánh giá chất lượng còn
nhiều hạn chế. Chính vì vậy nhiều người còn hoài nghi về chất lượng E-learning, tâm lý
học truyền thống vẫn còn ăn sâu trong người học. Trong tương lai những vấn đề này cần
được cải thiện và khắc phục.
1.3 Ứng dụng Moodle trong hệ thống giáo dục trực tuyến
Moodle là một hệ thống quản lý học tập (Learning Management System - LMS hoặc
người ta còn gọi là Course Management System hoặc VLE - Virtual Learning
Environment) mã nguồn mở (do đó miễn phí và có thể chỉnh sửa được mã nguồn), cho
Với các thiết kế dựa trên nền các module nên Moodle cho phép bạn chỉnh sửa giao
diện bằng cách dùng các theme có trước hoặc tạo thêm một theme mới cho riêng mình
một cách dễ dàng. Do là mã nguồn mở được đưa ra công khai do đó bạn có thể thiết lập
lại hệ thống để phù hợp với các yêu cầu của bạn.
Tài liệu hỗ trợ của Moodle rất đồ sộ và chi tiết
Moodle là phần mềm mã nguồn mở sẽ giúp bạn giảm bớt chi phí
Footer Page 12 of 166.
12
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Header Page 13 of 166.
Phần mềm LMS (Learning Management System mã nguồn đóng) có thể ảnh hưởng
rất sâu đến một trường đại học cho đến mức mà bạn không thể quay lại. Giáo viên quá
quen với nó. Sinh viên và các nhân viên khác cũng vậy. Đến lúc này công ty bán LMS
nhận ra sự phụ thuộc của bạn vào sản phẩm này và bắt đầu tăng giá, hỗ trợ ít hơn, bắt bạn
mua các sản phẩm bổ sung và bạn bắt buộc phải làm theo, không còn sự lựa chọn nào
khác.
Nếu bạn cần hỗ trợ, bạn phải dựa vào công ty bán sản phẩm cho bạn nâng cấp và
chỉnh sửa vì bạn không thể có mã nguồn trong tay. Với mã nguồn mở, bạn có thể tự sửa
hoặc trả cho các công ty khác hỗ trợ bạn, thường thì rẻ hơn vì bạn có thể chọn được nhiều
công ty. Hơn nữa, nếu bạn không hài lòng với một công ty, bạn có thể tìm các công ty
khác để hỗ trợ. Moodle có khoảng 20 công ty có thể hỗ trợ bạn. Hơn nữa, nếu bạn có
những chuyên gia tin học tốt thì bạn không cần thuê bên ngoài.
Khả năng hỗ trợ cho một phần mềm mã nguồn mở Moodle rất cao, Nhờ vào cộng
đồng sử dụng moodle , nhân viên IT có sẵn, hoặc các công ty dịch vụ có sẵn
Tuy là phần mềm mã nguồn mở, như chất lượng của Moodle rất tốt, chất lượng
Phương pháp học tập theo phương pháp E-learning hiểu theo nghĩa đầy đủ thì nó bao
gồm các hệ thống quản lý đào tạo (Learning Managerment System: LMS), hệ thống quản
lý nội dung học tập (Learning Content Managerment System: LCMS) trong đó bao gồm
các nội dung bài giảng, các bài kiểm tra, đánh giá khả năng tiếp thu kiến thức của sinh
viên. Để nâng cao hiệu quả dạy và học tiếng Anh trong Trường Đại học Công nghệ
GTVT bên cạnh các phương pháp học truyền thống cần từng bước ứng dụng công nghệ
thông tin mà cụ thể ở đây là sử dụng các công cụ như công cụ soạn giáo án điện tử được
tích hợp cùng gói phần mềm quản lý đáo tạo như Moodle tiến tới tiếp cận với phương
pháp dạy và học hỗn hợp hay nói cách khác là phương pháp kết hợp giữa học truyền
thống (trên lớp) với học trực tuyến (ở nhà) nhằm giúp cho giảng viên giảm tải khối lượng
giảng dạy trên lớp, tăng cường thời lượng cho các hoạt động như thảo luận, semina,…mà
vẫn đảm bảo đủ khối lượng giảng dạy theo yêu cầu của đề cương cũng như chủ động
quản lý được việc học tập ngoài thời gian lên lớp của học sinh sinh viên, có thêm thời
gian cho nghiên cứu khoa học. Học sinh sinh viên chủ động được việc học tập của mình
theo kế hoạch học tập sẵn có và quản lý được việc học tập của mình một cách hiệu quả.
Trong phạm vi đề tài “Nghiên cứu áp dụng phần mềm Moodle trong giảng dạy
tiếng Anh tại trường Đại học Công nghệ GTVT” chúng tôi quan tâm đến các vấn đề
sau: tìm hiểu phương pháp học Elearning và tổ chức cấu trúc bài giảng tiếng anh trong
giảng dạy kết hợp sử dụng các công cụ soạn bài giảng trên lớp và giao bài tập, làm bài tại
nhà tích hợp chúng lên hệ thống quản lý học tập Moodle, tạo cơ sở cho việc giới thiệu và
Footer Page 14 of 166.
14
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Header Page 15 of 166.
triển khai hệ thống quản lý học tập mã nguồn mở Moodle trong trường Đại học Công
CHƯƠNG 2. TÌM HIỂU VỀ E-LEARNING
2.1. Định nghĩa E-learning [5].
E-learning là việc ứng dụng công nghệ thông tin, internet vào việc dạy và học nhằm
làm cho công việc giáo dục trở nên dễ dàng, rộng rãi và hiệu quả hơn.
E-learning là tập hợp đa dạng các phương tiện, công nghệ kỹ thuật cho giáo dục như
văn bản, âm thanh, hình ảnh, mô phỏng, trò chơi, phim, thư điện tử, các diễn đàn thảo
luận, các forum,…
E-learning cung cấp nội dung đào tạo trên nền Web có thể được cập nhật, phát hành
tức thời và thống nhất trên toàn cầu. Cung cấp nhiều công nghệ khác nhau để thiết lập
một giải pháp đào tạo tổng thể. Phương pháp mô phỏng và những bài tập, bài kiểm tra
sau khi kết thúc bài giảng, chương, phần và khóa học cho phép sinh viên tự kiểm tra,
đánh giá kết quả học tập và kỹ năng của mình.
E-Learning giúp cho cán bộ, giảng viên, sinh viên toàn trường hoàn toàn có thể học
tập bất cứ khi nào (ban ngày hay ban đêm); tại bất cứ đâu (ở nhà, văn phòng làm việc hay
thư viện nội bộ). Với sinh viên, nó mở ra một thế giới học tập mới, dễ dàng, linh hoạt và
chủ động hơn nhiều. Ví dụ: Giảng viên có thể gửi bài giảng điện tử cho sinh viên qua
email hoặc website của Trường trước khi lên lớp; tại lớp, giảng viên chỉ
tập trung hướng dẫn sinh viên lĩnh hội những kiến thức quan trọng hoặc thảo luận thay vì
thuyết trình toàn bộ nội dung bài giảng và đọc chép.
E-Learning giúp việc học tập trở nên thú vị hơn, hấp dẫn hơn và thuyết phục hơn, đặc
biệt là đối với các môn học khó và dễ nhàm chán nhờ các slide, hình ảnh, video và audio
minh họa một cách sinh động.
Cán bộ, giảng viên và sinh viên cần giao tiếp, cộng tác và chia xẻ kiến thức thì ELearning có thể giúp chúng ta thu được những kết quả chắc chắn và lâu dài, không chỉ
Footer Page 16 of 166.
16
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
17
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Header Page 18 of 166.
E-learning có một số ưu điểm vượt trội so với loại hình thức đào tạo truyền thống .
Kết hợp cả ưu điểm tương tác giữa giáo viên với sinh viên của hình thức học trên lớp lẫn
sự linh hoạt trong việc tự xác định thời gian, khả năng tiếp thu kiến thức của sinh viên.
Đối với nội dung học tập:
Hỗ trợ các “đối tượng học” theo yêu cầu, cá nhân hóa việc học. Nội dung
học tập được phân chia thành các đối tượng tri thức riêng biệt theo từng lĩnh
vực, ngành nghề rõ ràng. Điều này tạo ra tính mềm dẻo cao hơn, giúp cho
sinh viên có thể chọn lựa những khóa học phù hợp với nhu cầu học tập của
mình. Sinh viên có thể truy cập những đối tượng này qua các đường dẫn xác
định trước, sau đó sẽ tự tạo cho mình những kế hoạch học tập, thực hành, hay
sử dụng các phương tiện tìm kiếm để tìm ra các chủ đề theo yêu cầu.
Nội dung môn học được cập nhật, phân phối dễ dàng, nhanh chóng. Với nhịp
độ phát triển nhanh chóng của trình độ khoa học công nghệ, các chương trình
đào tạo cần được thay đổi, cập nhật thường xuyên để phù hợp với thông tin,
kiến thức của từng giai đoạn phát triển của thời đại. Với phương thức đào tạo
truyền thống, muốn thay đổi nội dung bài học thì các tài liệu phải được sao
chép lại và phân bố lại cho tất cả sinh viên, công việc này phải tốn rất nhiều
thời gian, tiền bạc và công sức. Tuy nhiên đối với E-learning, việc đó hoàn
toàn đơn giản vì để cập nhật nôi dung môn học chỉ cần sao chép các tập tin
được cập nhật từ một máy tính cá nhân tới máy chủ. Tất cả sinh viên sẽ có
được phiên bản mới nhất trên máy tính trong lần truy cập sau. Hiệu quả tiếp
thu bài học của sinh viên sẽ được nâng lên vượt bậc vì sinh viên có thể học
với những giáo viên tốt nhất, tài liệu mới nhất cùng với giao diện web học tập
E-learning còn giúp làm giảm tổng thời gian cần thiết cho việc học
Giáo viên và sinh viên có thể truy cập vào khóa học ở bất cứ chỗ nào, trong
bất kỳ thời điểm nào mà không nhất thiết phải trùng nhau. Điều này rất hữu
ích cho nhà trường trong việc đào tạo tại 3 cơ sở cách xa nhau như hiện nay.
2.2.2. Nhược điểm:
E-learning đang là một xu hướng phát triển ở rất nhiều nơi trên thế giới. Việc triển
khai hệ thống E-learning cần có những nỗ lực và chi phí lớn, mặt khác nó cũng có những
rủi ro nhất định. Bên cạnh những ưu điểm nổi bật như trên, E-learning còn có một số
khuyết điểm mà ta không thể bỏ qua cần phải khắc phục sau đây:
Do đã quen với phương pháp học truyền thống nên sinh viên và giáo viên sẽ
gặp một số khó khăn về cách học tập và giảng dạy. Ngoài ra họ còn gặp khó
khăn trong việc tiếp cận các công nghệ mới
Sinh viên cần phải có gắng nỗ lực hết mình khi tham gia khóa học để có kết
quả học tập tốt do việc môi trường học tập phân tán.
Footer Page 19 of 166.
19
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Header Page 20 of 166.
Giáo viên phải mất nhiều thời gian và công sức để soạn bài giảng, tài liệu
giảng dạy, tham khảo cho phù hợp với phương pháp học tập E-learning.
Các vấn đề khác về mặt công nghệ: cần phải được xem xét công nghệ hiện
thời có đáp ứng được các mục đích đào tạo hay không, chi phí đầu tư cho công
nghệ đó có hợp lý không. Ngoài ra, khả năng làm việc tương thích giữa các hệ
thống phần cứng và phần mềm cũng cần được xem xét.
2.3. So sánh giữa phương pháp học tập truyền thống và phương pháp Elearning:
thành viên tối đa trong nhóm khoảng 10 người trở lại. Làm như vậy sẽ có thể phân hóa
sinh viên, từ đây sẽ có cách giảng dạy cho phù hợp về độ khó của bài học và bài tập với
trình độ của từng nhóm. Thêm vào đó, việc học tập thông qua những buổi thảo luận mà
người thầy chỉ với vai trò là người giám sát, để sinh viên thảo luận các chủ đề với nhau.
Người thầy sẽ cho ý kiến ai đúng ai sai, và sẽ nhắc nhở khi sinh viên của mình thảo luận
lạc hướng chủ đề đang đặt ra.
Hiện nay ở Việt Nam, dạy và học vẫn còn theo phương pháp truyền thống, việc học
bị lệ thuộc vào việc dạy khi thầy là đối tượng duy nhất truyền đạt tri thức. Sinh viên học
một cách thụ động, thầy bảo gì làm nấy, ít sự sáng tạo. Phương pháp học tập theo kiểu lối
mòn, không theo kịp sự phát triển của xã hội. Phần lớn sinh viên ra trường đều phải đào
tạo thêm thậm chí là đào tạo lại vì kiến thức thu được hầu như chỉ là kiến thức sách vở,
thiếu thực tế. Trong quá trình học tập, sinh viên ít được đưa ra ý kiến của mình về việc
giảng dạy của thầy, điều đó làm ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy và học tập, thầy
giáo thì không biết sinh viên của mình muốn học theo hình thức nào còn sinh viên thì
không hài lòng với phương pháp giảng dạy của thầy.
2.3.2. Phương pháp học tập E-learning [10, 13].
Sự ra đời của E-learning đã khắc phục được những nhược điểm trên. Sinh viên chỉ
cần ngồi trước máy tính tự thao tác, học tập, thực hành và làm bài tập theo ý muốn. Các
chức năng như tổ chức biểu diễn tri thức, sau đó thể hiện tri thức đó trên máy tính và tổ
chức quản lý học tập đều do sinh viên tự điều chỉnh và thao tác. Với các tính năng ưu
Footer Page 21 of 166.
21
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Header Page 22 of 166.
việt, E-learning ngày càng được biết đến và được sử dụng như một công cụ trợ giảng đắc
mẻ . Chi phí khá rẻ, thủ tục đăng ký đơn giản (dùng thẻ mệnh giá 50.000 và 100.000
đồng), nội dung phong phú, chỉ sau gần 2 năm, số thành viên của Trường thi đã lên tới
100.000 người. Số lượng thành viên truy cập trung bình một ngày: 30.000 lượt, có những
ngày cao điểm lên tới 50.000 lượt. Truongthi.com.vn đã đánh dấu một bước nhảy vọt về
nhận thức của ngành giáo dục Việt Nam và người dân nói chung. Tiềm năng của hình
thức học này cũng thể hiện rõ qua những số liệu trên.
Sau thành công của truongthi.com.vn, hàng loạt e-learning web ra đời, nổi bật nhất là
trang elearning.com.vn chuyên đào tạo tiếng Anh trực tuyến do công ty FPT kết hợp với
Englishtown.com thực hiện. Đây được đánh giá là trang web vụ elearning chuyên nghiệp
nhất Việt Nam hiện nay với hàng loạt dịch vụ mới mẻ: học viên có thể download tài liệu
tự học, tham gia học trực tuyến với các giảng viên từ Anh, Mỹ, Úc và Canada và được
cấp chứng chỉ của Englishtown. Điểm lại các ứng dụng e-learning hiện có, một điều nổi
bật là số lượng người dùng ngày càng tăng nhanh.
2.3.3 Học kết hợp (Blended Learning – BL) [10, 13].
Học kết hợp “Blended Learning – BL” xuất phát từ nghĩa của từ “Blend” tức là “pha
trộn” để chỉ một hình thức tổ chức dạy học hết sức linh hoạt, là sự kết hợp “hữu cơ” của
nhiều hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Đây là hình thức học khá phổ biến trên thế
giới. Có nhiều định nghĩa khác nhau về học kết hợp, tuy nhiên có ba cách định nghĩa
được sử dụng rộng rãi.
- Blended Learning: kết hợp các phương thức giảng dạy (hoặc cung cấp các phương
tiện truyền thông) (Bersin & Associates, 2003; Orey, 2002a, 2002b; Singh & Reed, 2011;
Thomson, 2002)
Footer Page 23 of 166.
23
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
– Oriented learning (2006) của Microsoft, Schnelle (2006), Bersin (2004). Nghiên cứu
của Osguthope & Graham (2003) đã chỉ ra 6 lý do để chọn thiết kế hoặc sử dụng hệ
thống học kết hợp, bao gồm: sự phong phú của sư phạm, tiếp cận với sự hiểu biết, sự
tương tác xã hội, thích hợp với cơ quan hoặc cá nhân, chi phí hiệu quả và dễ dàng sửa
đổi. Tác giả Victoria L.Tinio nhận định rằng “Không phải tất cả các chương trình học đều
có thể thực hiện tốt nhất trong môi trường trang thiết bị điện tử, đặc biệt là các chương
trình cần giáo viên giảng dạy trực tiếp từ đầu tới cuối”.
2.4. E-learning trong đào tạo tiếng Anh
Trong xu thế hội nhập quốc tế, tiếng Anh trở thành một phương tiện vô cùng quan
trọng mà chúng ta không thể không biết. Nhưng chúng ta đã đáp ứng đòi hỏi đó như thế
nào và cách nào khiến tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai đối với sinh viên khi ra
trường?
Theo khảo sát của báo sinh viên Việt nam – Hoa học trò cùng Global Education đối
với 5.000 người (độ tuổi từ 15-30) tại các thành phố lớn trên cả nước, có đến 46.5%
người học cho biết kiến thức tiếng anh của họ có được chủ yếu là được học ở trường, một
môi trường đào tạo chính quy trong hệ thống giáo dục quốc dân. Tiếp đến là các trung
tâm ngoại ngữ (23.7%). Và có đến 11.5% người học biết ngoại ngữ chủ yếu là do tự học,
tự tìm hiểu.
Vào những năm đầu thập kỷ 90, các trường phổ thông thức thời đồng loạt đưa tiếng
Anh vào giảng dạy trong nhà trường. Thế nhưng tình hình dạy và học manh mún, mạnh
cấp nào cấp đó học, không hề có một chương trình đồng bộ, hệ thống từ thấp đến cao. Ở
lớp 6 chúng ta học tiếng Anh hệ 7 năm, tức là từ lớp 6 đến lớp 12. Nhưng khi vào trường
cấp III, lại chẳng có trường nào học tiếp hệ 7 năm đó, mà chỉ học hệ 3 năm, từ lớp 10 đến
lớp 12. Kết quả là người học đi, người học lại, mà sách lớp 9 hệ 7 năm còn khó hơn cả
sách lớp 12 hệ 3 năm.
Footer Page 25 of 166.
25