NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CƠ SỞ HẠ TÂNG KỸ THUẬT CHO KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 41

Header Page 1 of 166.
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Báo cáo Tổng hợp
ĐỀ TÀI NC KH CẤP BỘ KH-CN NĂM 2009
NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ
VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CƠ SỞ HẠ TÂNG KỸ THUẬT
CHO KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chủ nhiệm Đề tài: PGS TS Bùi Thiên Sơn
Trưởng Ban Nghiên cứu Chính sách Đầu tư và
Tài chính KH-CN, Viện Chiến lược và Chính sách KH-CN

8483

Footer Page 1 of 166.

HÀ NỘI, 6/ 2010
1


Header Page 2 of 166.

MỤC LỤC
trg

Danh mục các Bảng, Biểu và Hộp………………..........................
Danh mục các viết tắt………………...................................................
LỜI MỞ ĐẦU………………..................………………..................
Chương 1.

14

2.1.1. Kinh nghiệm và bài học từ Hàn quốc………………..................
2.1.2. Kinh nghiệm và bài học từ Trung quốc, Đài loan..............
2.1.3. Kinh nghiệm và bài học từ Singapore………………..............…
2.1.4. Kinh nghiệm và bài học từ Malaysia ………………..................
2.1.5. Kinh nghiệm và bài học từ Nhật bản………………..................
2.1.6. Kinh nghiệm và bài học từ Thái lan………………………......
2.1.7. Kinh nghiệm và bài học từ Ấn độ………………………......

14
14
16
16
17
17
20

2.2. Kinh nghiệm và bài học từ các nước Châu Âu và khác................

21

2.2.1. Kinh nghiệm và bài học từ Liên bang Nga .......................... ................
2.2.2. Kinh nghiệm và bài học từ Balan........................................
2.2.3. Kinh nghiệm và bài học từ Thụy sỹ ........................................
2.2.4. Kinh nghiệm và bài học từ Hungary ....................................
2.2.5. Bài học và kinh nghiệm từ CH Séc……………………...........

21
21

3.1.1. Về thực trạng đầu tư và xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN ở
33
Việt nam hiện nay. ..................... .....................
3.1.2. Phân tích so sánh đầu tư xây dựng và sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật
KH-CN ở nước ta. ..................... ......................................... ................................
37
3.2. Kết quả khảo sát điều tra về thực trạng đầu tư và sử dụng cơ sở hạ
tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ ở các đơn vị nghiên cứu công lập.
3.2.1.Đánh giá về tương quan đầu tư mua sắm máy móc thiết bị phục vụ
nghiên cứu và triển khai với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học được giao và
mức độ hoàn thành………………..................................................................................
3.2.2.Đánh giá về thực trạng sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN với tư
cách là sử dụng tài sản cố định và tài sản vật tư Nhà nước ................................
3.2.3. Đánh giá về trang bị cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho cá nhân nhà nghiên
cứu……………………………………………………….. ...........
3.3. Đánh giá chung về hiện trạng đầu tư và sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ
thuật khoa học và công nghệ ở nước ta hiện nay..... ................................

41
41
42
42
45

Chương 4
PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TĂNG CƯỜNG
ĐẦU TƯ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CƠ SỞ HẠ TẦNG
KỸ THUẬT KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM THỜI GIAN TỚI
4.1. Quan điểm định hướng về chính sách đầu tư và nâng cao hiệu quả

+ Hoàn thiện thủ tục hải quan và kiểm tra sau thông quan để tháo gỡ khó khăn cho doanh
nghiệp nhập khẩu sản phẩm cho mục tiêu KH-CN…………

52

+ Xem xét cân nhắc áp dụng một số kinh nghiệm Nhật bản và các nước khác nhiều hơn
nữa………………………………………………………………

53

+ Hoàn thiện công tác đối ngoại thu hút Việt kiều về nước hoặc tham gia vào xây dựng và
sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN trong nước. …………

4.3.2. Giải pháp sử dụng các chính sách vi mô……………………….
4.4. Điều kiện thực thi các giải pháp về chính sách đầu tư và nâng cao
hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ ở nước
ta…………………………………………………...............................................................
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ....................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................... .............
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC ............................................................

Footer Page 4 of 166.

53
53
55
57
61
64



TÊN HỘP

Hộp 2

Về kết quả thể hiện hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN giai đoạn
1996-2006..........................................................................
Tổng quan về chi ngân sách hoạt động KH-CN cấp Bộ qua một số năm. ....

Hộp 3

Một vài so sánh qua các năm về mức chi của Việt nam với của nước ngoài.. .....

Hộp 3

Tàu Lash Sông Gianh- Vinashin................. ................. ...............

trg
30
34
36
37
38
39
39
40
40

trg
32

NSNN
STTR
WFOP
KH & PT
ERDA
KTI
XDCB
NGPP
CNTT-TT
TNTĐ
FRST
TBG
TAP
GPSRD
TIF
VN

Footer Page 6 of 166.

-Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội
- Khoa học và Công nghệ
- Công nghệ cao
- Thí nghiệm
- Tổ chức các nước công nghiệp phát triển
- Department of Energy – Bộ Năng lượng (Mỹ)
- Chinese Academy of Science: Viện Hàn lâm Khoa học Trung quốc
- Doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Cộng hoà Liên bang
- Thành phố Hồ Chí Minh
- National Research Laboratory - Phòng thí nghiệm nghiên cứu quốc

Việt nam

6


Header Page 7 of 166.
LỜI MỞ ĐẦU
Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay luôn luôn coi KH &CN đóng vai trò vô
cùng quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghiã xã hội về
lâu dài và trước mắt là phát triển kinh tế xã hội và nâng cao đời sống người dân sau
nhiều năm chiến tranh cứu nước và giữ nước. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VIII) về định hướng chiến lược phát triển
KH&CN trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2010 đã
chỉ rõ: “…cùng với giáo dục và đào tạo, KH&CN là quốc sách hàng đầu, là động lực
phát triển kinh tế xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây
dựng thành công chủ nghiã xã hội. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải
bằng và dựa vào khoa học và công nghệ. Đảng và Nhà nước có chính sách đầu tư,
khuyến khích hỗ trợ phát triển khoa học và công nghệ”.
Việt nam hiện có 3 mục tiêu lớn đến năm 2010:
Một là, bảo đảm cung cấp luận cứ khoa học cho quá trình công nghiệp hóa – hiện
đại hóa rút ngắn, phát triển bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
thành công vào nền kinh tế thế giới.
Hai là, góp phần quyết định nâng cao chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế và
năng lực cạnh tranh của sản phẩm hang hóa bảo đảm an ninh quốc phòng
Ba là, đẩy mạnh xây dựng và phát triển năng lực KH-CN của đất nước.
Chính mục tiêu thứ ba nêu trên đòi hỏi phải có sự nhìn nhận nhiều chiều về cơ sở
hạ tầng kỹ thuật của nền khoa học và công nghệ quốc gia, từ đó tìm cách nâng cao
hiệu quả sử dụng chúng, góp phần gia tăng thành tựu khoa học và công nghệ, tăng
cường tiềm lực khoa học và công nghệ quốc gia. Đề tài “Nghiên cứu chính sách đầu
tư và nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho khoa học và công nghệ ở

Mặc dù đã có nhiều văn bản và tác giả trình bày cũng như kiến giải sâu sắc bấy lâu
nay về các thuật ngữ “khoa học” và “công nghệ”, “kỹ thuật”, đề tài này xin được nêu
lại các khái niệm ấy nhằm tạo mối liên kết trong quan niệm về đầu tư và xây dựng
cũng như sử dụng có hiệu quả cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho khoa học và công nghệ của
nước ta.
Trước hết “Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự
nhiên, xã hội và tư duy” (Luật KH-CN, 2000).
“Công nghệ”, Luật Chuyển giao công nghệ (2006) đã nêu rõ: “Công nghệ là giải
pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng
để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm“. Hoặc quan niệm rộng hơn trong Luật KHCN, công nghệ đó là “tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công
cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”. Ta thấy vật mang
công nghệ hay điều kiện để công nghệ phát huy tác dụng...phần lớn phải là kết quả
của đầu tư xây dựng/mua sắm, lắp đặt cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần thiết.
Hoạt động khoa học và công nghệ được coi là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và
phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến,
cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học
và công nghệ.
Nghiên cứu khoa học là hoạt động tìm kiếm, phát hiện tìm hiểu các hiện tượng, sự
vật, quy luật của tự nhiên xã hội và tư duy. Do đó rất cần được trang bị các cơ sở vật
chất kỹ thuật cần thiết.
Phát triển công nghệ là hoàn thiện và tìm ra công nghệ mới, sản phẩm mới. Phát
triển công nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm.
Dịch vụ khoa học và công nghệ là các hoạt động phục vụ việc nghiên cứu khoa
học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao
công nghệ, các dịch vụ về thông tin, tư vấn đào tạo, bồi dưỡng phổ biến, ứng dụng tri
thức khoa học và công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn.
Theo dẫn luận khác quan niệm về Nghiên cứu và Triển khai (R & D) có phần
rộng hơn, đó là các hoạt động sáng tạo (creative work) “được thực hiện trên cơ sở
một cách có hệ thống để gia tăng khối lượng kiến thức (hay kho tri thức) – gồm tri
thức về con người, văn hoá và xã hội- và sự sử dụng kho kiến thức này để phục vụ

công nghệ, mức hỗ trợ của Chính phủ cho hoạt động nghiên cứu cơ bản, sự cộng tác
giữa các tổ chức nghiên cứu và trường đại học, sự phát triển của các nguồn vốn mạo
hiểm, cũng như chất lượng của môi trường kinh doanh (được phản ánh trong hệ
thống luật pháp).
Kết cấu hạ tầng công nghệ quốc gia là nhân tố quyết định then chốt đối với
năng lực đổi mới của quốc gia. Bao gồm hệ thống giáo dục, mạng lưới các tổ chức
nghiên cứu của Chính phủ, tư nhân và các hiệp hội khoa học, các thể chế pháp lý,
chẳng hạn như quyền sở hữu trí tuệ và các điều luật khuyến khich sự phát triển và
trao đổi công nghệ.
Cơ sở hạ tầng công nghệ gồm 20 nhân tố chủ yếu liên quan tới sự sẵn sàng của
công nghệ và thông tin truyền thông. Các nhân tố khác gồm hợp tác công nghệ, phát
triển và ứng dụng công nghệ, các nguồn lực tài chính và xuất khẩu công nghệ cao...
Cơ sở hạ tầng của khoa học và công nghệ bao gồm Công viên khoa học quốc
gia, các trung tâm tài năng, các vườn ươm, các dịch vụ đo lường và thử nghiệm,
v.v...(Thái lan).
Theo cách hiểu thông dụng, Cơ sở hạ tầng kỹ thuật (technical infrastructure)
của khoa học và công nghệ là phần cứng của toàn bộ cơ sở hạ tầng khoa học và công
nghệ (máy móc, thiết bị….). Như vậy, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của khoa học và công
nghệ được coi là điều kiện vật chất cần thiết cho các hoạt động khoa học và công
nghệ trở thành quá trình liên tục và có mục đích kết quả. Đó là máy móc thiết bị, nhà
xưởng, trạm trại thí nghiệm, dụng cụ truyền dẫn, đo lường, chứa đựng, xử lý, vật
mang thông tin, máy tính, phần cứng, phần mềm, thư viện, bất động sản (kể cả ao hồ
phục vụ thí nghiệm, thử nghiệm, trường lãnh thổ để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu

Footer Page 9 of 166.

9


Header Page 10 of 166.

kiện cho việc tiến hành các thí nghiệm, thử nghiệm hay kiểm định cần thiết hoặc
khảo sát thực địa, thăm dò, điều tra, phỏng vấn…. Để có được kết luận cần thiết…Cơ
sở hạ tầng đó là tiền đề không thể thiếu để có được thương hiệu nghiên cứu cho các
đơn vị tổ chức KH-CN dù là công lập hay tư nhân, các Trường Đại học và các Phòng
Thí nghiệm hay cá nhân nhà nghiên cứu, nhà khoa học,....
1.2. Quan niệm, vai trò chính sách đầu tư và hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ
thuật khoa học và công nghệ
Về mặt ngôn ngữ “Chính sách” được coi là tập hợp các chủ trương và hành
động về phương diện nào đó nhằm đạt được các mục tiêu định trước. Chính sách là
thuật ngữ gắn chặt với chủ thể vĩ mô (Chính phủ, quốc gia, ngành, chuyên ngành,…)
và vi mô (địa phương, doanh nghiệp, cơ sở, đơn vị nhỏ,…).
Theo cách hiểu nêu ra trong Từ điển bách khoa Việt nam gần đây, Chính sách
là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ; được thực hiện trong

Footer Page 10 of 166.

10


Header Page 11 of 166.
một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và
phương hướng của chính sách tuỳ thuộc tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị,
kinh tế, văn hoá, xã hội... Muốn định ra chính sách đúng phải căn cứ vào tình hình
thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn, phải vừa giữ vững mục tiêu, phương
hướng được xác định trong đường lối, nhiệm vụ chung, vừa linh hoạt vận dụng vào
hoàn cảnh và điều kiện cụ thể.
Chính sách đầu tư và tài chính đều là chính sách tài chính. Theo đó trên phạm
vị rộng, chính sách tài chính được hiểu là chính sách thông qua chế độ thuế và đầu tư
công cộng để tác động đến nền kinh tế, đạt mục tiêu định trước. Ở phạm vi hẹp hơn
trong trường hợp xét đến ở đây, đó là để tác động đến đối tượng quản lý: ngành và

nguồn lực KH &CN.
Quá trình đầu tư xây dựng/mua sắm, lắp đặt cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN sẽ
tạo nên vật mang công nghệ hay tạo được điều kiện cần và đủ để công nghệ và kỹ
thuật phát huy tác dụng...(như vậy phần lớn phải do đầu tư đó mà có).

Footer Page 11 of 166.

11


Header Page 12 of 166.
1.3. Lý do nghiên cứu vấn đề đầu tư và sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN
của nước ta.
Trong công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước đến năm 2020, vai trò
của khoa học và công nghệ ngày càng thể hiện tỏ rõ đó là then chốt, động lực và
ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Do vậy việc nghiên cứu xem xét cơ
sở hạ tầng kỹ thuật của toàn bộ nền khoa học và công nghệ trong điều kiện hiện nay
là một nhiệm vụ vô cùng cần thiết trong điều kiện hội nhập vì “Chỉ có khoa học và
công nghệ mới đưa Việt Nam bứt phá” (Nguyễn Quân, 2009). Thật vậy, cũng theo
đó, phải khẳng định rằng "để có 10 năm tăng trưởng mạnh vừa qua, chúng ta đã cởi
trói nông nghiệp bằng khoán 10, công nghiệp bằng Luật doanh nghiệp, huy động tối
đa tiềm lực lao động giản đơn. Muốn tiến xa hơn, chỉ còn cách phát triển khoa học,
công nghệ. Mà nếu không may chú ý đủ mức cần thiết đến việc xây dựng và sử dụng
hiệu quả cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ thì nhiệm vụ đặt ra cũng sẽ
khó mà giải quyết toàn diện được”.
Đề tài rất đồng tình với Joseph Bordogna (Chủ tịch NFS của Mỹ, 2004) khi ông
đã nói rằng: "Trong thời đại của công nghệ cao, sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh
tế sẽ không thể bền vững nếu thiếu các đột phá về công nghệ". Mà muốn đột phá về
công nghệ phải đầu tư mạnh mẽ và sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN
để tạo nên đột phá đó.

Do vậy cần thiết phải đặt vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN và nâng
cao hiệu quả sử dụng chúng trong mối liên kết hữu cơ với công tác khác như đào tạo
nhân lực hay chế độ đãi ngộ,….

Footer Page 13 of 166.

13


Header Page 14 of 166.
Chương 2
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ VÀ KHAI THÁC CƠ
SỞ HẠ TÀNG KỸ THUẬT KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ VÀ BÀI HỌC CHO
VIỆT NAM
2.1. Kinh nghiệm và bài học từ các nước Châu Á
2.1.1. Kinh nghiệm và bài học từ Hàn quốc
Nổi bật nhất là gần đây Chính phủ Hàn quốc đã thành lập Bộ Giáo dục, KH&CN
(MEST), sau đó đưa Bộ trưởng Bộ này lên chức Phó Thủ tướng Chính phủ Hàn quốc
để có quyền hành và hiệu lực hơn trong điều hành phân bổ và sử dụng các nguồn lực
cho phát triển KH-CN quốc gia, tất nhiên trong đó có phần quan trọng là đầu tư tài
chính để xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho KH-CN.
Biện pháp gián tiếp khác để tăng đầu tư và sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng kỹ
thuật khoa học và công nghệ là thay đổi cơ cấu đầu tư từ ngân sách nhà nước. Theo
đó nếu giai đoạn đầu của quá trình phát triển khoa học và công nghệ dù là cấp cơ sở
hay ngành khoa học và công nghệ thì nếu đã đầu tư mạnh mẽ rồi thì giai đoạn sau
giảm dần vì đã đầu tư tới mức ngưỡng đủ cho quá trình hoạt động ở các cơ sở nghiên
cứu và triển khai. Vấn đề tiếp theo là phải đầu tư cho con người hay đầu tư tạo điều
kiện sử dụng cơ sở hạ tầng chứ không phải lại đầu tư mở rộng thiếu cân đối với nhu
cầu sử dụng chúng. Thật vậy, tỷ lệ cả chi tiêu máy móc và đất xây dựng và phần
mềm máy tính đã lần lượt như sau: giảm dần từ 22,6% (năm 1998) xuống còn 12,7%

khoa học tự nhiên, Quỹ khoa học xã hội, Quỹ phát triển công nghệ, Quỹ hỗ trợ tài
năng trẻ...
Quá trình đầu tư cho hệ thống các cơ quan thực hiện hoạt động R&D ở Trung
quốc bao gồm đầu tư vào:
• + Viện Hàn lâm Khoa học Trung quốc (CAS)
• + Các Viện R&D trực thuộc các Bộ, cơ quan hành chính khác nhau
• + Các doanh nghiệp công nghiệp
• + Các trường Đại học và Cao đẳng
• + Các Viện R &D địa phương
• + Các Viện R&D quốc phòng
Trung quốc cũng đã tăng cường thu hút FDI cho hoạt động R&D (riêng từ các
MNCs Mỹ là 7 triệu USD năm 1994 lên 52 triệu USD năm 1998 và 646 triệu USD
vào năm 2002);
Bên cạnh đó tỷ trọng chi tiêu cho mua công nghệ nước ngoài so với chi tiêu cho
R&D giảm dần hàng năm (từ 1/0,88 năm 1999 xuống còn 1/0,79 năm 2000 và 1/0,74
năm 2002);
Tiếp đến chính phủ Trung quốc cũng đã chú trọng đến nghiên cứu cơ bản thông
qua “Kế hoạch phát triển khoa học cơ bản then chốt của Nhà nước”, “Quỹ khoa học
tự nhiên của Nhà nước” với mục tiêu chính là hỗ trợ cho nghiên cứu ứng dụng.
Trung quốc còn có một kinh nghiệm hay là thực hiện tốt mối liên kết giữa Viện
CAS với khu vực doanh nghiệp. CAS luôn duy trì mối quan hệ hợp tác tích cực với
khu vực công nghiệp. Đến cuối năm 2003, CAS đã đầu tư vào 336 hãng, 158 trong
số đó thuộc toàn quyền kiểm soát của CAS, tức là CAS chiếm hơn 50% cổ phần của
các hãng. Điển hình là có lẽ một trong những hãng vệ tinh nổi tiếng nhất phát triển từ
CAS là Hãng Lenovo Group (tên cũ là Legend Group). Hãng Legend bắt đầu hoạt
động năm 1984 với vốn do CAS đầu tư là 200.000 NDT và đã phát triển thành một
lực lượng chủ chốt của ngành công nghiệp máy tính Trung quốc hiện nay. Ngày nay
Lenovo đã trở thành thương hiệu máy tính nổi tiếng trên toàn cầu. Mối quan hệ hợp
tác tích cực nêu trên chính là biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ
thuật của các đơn vị trong khu vực CAS.

kiện tốt nhất cho sự kết hợp các kỹ năng của các nhà khoa học với khả năng và tiềm
năng cơ sở vật chất và con người, làm gia tăng hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ
thuật đó của nền khoa học và công nghệ quốc gia, đưa Đài loan chiếm lĩnh các đỉnh
cao về thị phần cung cấp linh kiện điện tử cho thế giới tin học,…
2.1.3. Kinh nghiệm và bài học từ Singapore:
Trước hết Chính phủ tiến hành tối ưu hóa việc sử dụng các phương tiện R &D ở
các Viện Nghiên cứu và Trường Đại học. Theo đó các Viện Nghiên cứu của quốc
gia cũng sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp sử dụng các phương tiện đắt tiền và
hiếm khi dùng đến. Tiếp theo Singapore đang thực hiện mũi chiến lược xây dựng kết
cấu hạ tầng công nghệ thông tin truyền thông (CNTT-TT) tốc độ siêu cao, quy mô
rộng, thông minh và tin cậy, có sức cạnh tranh trên toàn cầu: sẽ cung cấp băng
thông rộng cho bất cứ ai, bất cứ ở đâu và bất cứ thời điểm nào. Hiện nay ngành
CNTT-TT của Singapore đang được chi 6,2% GDP hàng năm.
2.1.4. Kinh nghiệm và bài học từ Malaysia:
Từ năm 1986 đến nay, Malaysia đã thực hiện 2 Chiến lược KH&CN quốc gia.
Trong vòng 16 năm, chính sách khoa học công nghệ lần thứ 1 (NSTP I, 1986) đã
phát triển KH&CN thành một hệ thống vững chắc, lồng ghép được vào kế hoạch phát
triển cả nước, tạo nền móng và củng cố kết cấu hạ tầng KH&CN cho giai đoạn sau.
Trong giai đoạn này, Malaysia đã đầu tư đáng kể vào xây dựng hạ tầng và đào tạo
nguồn nhân lực hướng vào đảm bảo các nguồn lực còn tương đối hạn chế được sử
dụng có hiệu quả để tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mà thị trường cần.
Biện pháp gián tiếp khác mà chính phủ Malaysia áp dụng là nâng cao nhận thức,
từ đó hướng tới nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công
nghệ. Để nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN, người ta đã tổ
chức cho các DNNVV tham quan các Viện Nghiên cứu, các trường Đại học có
những công nghệ mới muốn chuyển giao cho DNNVV hoặc thăm các Doanh nghiệp
đã áp dụng thành công các công nghệ mới hoặc các phương pháp quản lý tiên tiến.
Từ đó các nơi có sản phẩm bán ra sẽ chú trọng hơn đến việc sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ
thuật KH-CN của mình (mua sắm thêm mới, sử dụng hiệu quả hơn, chuyển giao kỹ
thuật và công nghệ cũ để giúp cho các doanh nghiệp đã liên hệ,...).

bán kỹ thuật với nước ngoài đều do Bộ ngoại thương và công nghiệp đảm nhận, do
có đội ngũ cán bộ kỹ thuật giỏi và có công nghệ thông tin hiện đại.
Chính phủ xây dựng cơ chế hợp tác hai chiều giữa các công ty và Trung tâm
nghiên cứu khoa học, có cơ chế buộc các doanh nghiệp trích 1% quỹ lương chuyển
vào ngân sách để tạo nguồn tài chính cho đào tạo lao động ở những ngành sản xuất
mới, cho phép khấu hao nhanh để đổi mới công nghệ, bảo hiểm tín dụng cho nghiên
cứu khoa học và công nghệ, ưu đãi về thuế cho các cơ sở áp dụng công nghệ mới.
Tháng 7-2003 Nhật bản đã ban hành Luật Công ty Đại học Quốc gia, làm tăng
cường mức độ tự trị về ngân sách, tổ chức, cán bộ, bãi bỏ chế độ về hưu của hàng
ngũ giáo sư, đồng thời thành lập các Trung tâm Nghiên cứu xuất sắc từ năm tài khoá
2006. Tiếp đến Nhật bản lập Quỹ Nghiên cứu và Giaó dục đặc biệt, tiến hành cấp
kinh phí theo nguyên tắc cạnh tranh.
Từ năm 2005 Nhật bản ưu tiên chi Ngân sách dành cho nghiên cứu và phát triển
ở các tổ chức công lập (Đại học và Viện Nghiên cứu). Ngân sách được phân bổ dựa
trên cơ sở “Kế hoạch tái tổ chức và Hợp lý hoá các Công ty công”. Công ty chuyên
ngành được trở thành các tổ chức hành chính độc lập. Do vậy Ngân sách phân bổ cho
các Công ty Chuyên ngành thì giảm, còn lại đều gia tăng cho các tổ chức hành chính
độc lập.
Chính phủ không đặt ra hạn chế đối với sử dụng kinh phí hoạt động ở Công ty Đại
học Quốc gia. Từ năm 2003 Bộ tài chính cho khấu trừ 8-10% thuế của toàn bộ các
khoản chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển. Nhiều sáng kiến lớn để thúc đẩy sự cộng
tác sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng kỹ thuật lẫn nhau và liên kết mạng lưới (Sáng

Footer Page 17 of 166.

17


Header Page 18 of 166.
kiến Cụm tri thức, Chương trình Khu vực thành phố, Nghiên cứu uỷ nhiệm - năm tài

Biện pháp 2: Phát triển các Công viên khoa học.
“Phát triển và tăng số lượng các Công viên khoa học thành những Trung tâm phát
triển năng lực công nghệ trong mọi vùng của đất nước. Các công ty nằm trong các
Công viên khoa học có đủ tư cách để có thể được Ban Đầu tư (BOI) đỡ đầu”. Theo
đó Chính phủ đã xây dựng các Công viên khoa học ở ít nhất 3 miền: Bắc, Nam và
Đông Nam và tăng số lượng Các công viên khoa học tại một số khu vực trung tâm”.

Footer Page 18 of 166.

18


Header Page 19 of 166.
Một trong những đặc điểm đáng chú ý của Công viên khoa học là năng lực liên kết
các khu vực học thuật (đặc biệt là các Viện nghiên cứu và các trường Đại học) với
các khu công nghiệp. Vì vậy, các Viện nghiên cứu có tiềm năng lớn cần thành lập
các Công viên khoa học (như Cơ quan Phát triển KH&CN Quốc gia, Viện Nghiên
cứu KH&CN Thái Lan) và các trường Đại học hoặc hợp tác giữa các tổ chức đó.
Ngoài ra, các Công viên khoa học cần được phân vùng thành một khu vực xúc tiến
đầu tư do được BOI đỡ đầu.
Biện pháp 3: Phát triển các dịch vụ kỹ thuật.
“Các Trung tâm thử nghiệm, Trung tâm đánh giá chất lượng và hệ thống đo lường
là những cơ sở hạ tầng cơ bản quan trọng đòi hỏi trong quá trình phát triển sản phẩm,
trong khi đó Thái Lan hiện nay đang thiếu các Trung tâm thử nghiệm chất lượng và
các Trung tâm dịch vụ khoa học hiệu quả”.
Phương thức thực hiện: Hỗ trợ phát triển các Trung tâm thử nghiệm, những
Trung tâm đánh giá chất lượng và hệ thống đo lường.
Biện pháp 4: Phát triển hệ thống chỉ tiêu khuyến khích.
“Phát triển hệ thống chỉ tiêu khuyến khích gồm khuyến khích về tài chính và cấp
vốn, những qui tắc và hỗ trợ kỹ thuật để thúc đẩy các nhà nghiên cứu và các tổ chức

thông tin và truyền thông. Theo đó chính phủ phát triển nhanh những dịch vụ cơ sở
hạ tầng cơ bản, đặc biệt là những công nghệ tương lai như mạng không dây (Wi-fi)
bằng sự đầu tư xứng đáng. Mạng Wi-fi là một mạng Internet có thể hỗ trợ phát và
nhận dữ liệu với tốc độ lớn hơn gấp 5-20 lần so với sự kết nối quay số vào mạng điện
thoại cố định. Gần đây nó đã trở nên phổ biến do có thể nhanh chóng tăng băng
thông mạng với chi phí thấp, đáp ứng những nhu cầu của nhiều máy tính đầu cuối.
Ngoài ra, công nghệ này rất thuận lợi bởi vì nó hỗ trợ giải quyết hiệu quả những vấn
đề và những hạn chế của mạng điện thoại cố định.
2.1.7. Kinh nghiệm và bài học từ Ấn độ
Từ năm 1998 Ấn độ đã chi 2,3 tỷ USD cho các hoạt động R &D (tương đương
0,67% GDP, đứng thứ 24 trên thế giới) và chú trọng vào phát triển công nghệ thông
tin và công nghệ sinh học, coi đó là mũi nhọn, gắn nghiên cứu khoa học với phát
triển kinh tế, chú trọng chuyển từ nghiên cứu cơ bản sang nghiên cứu ứng dụng,...
nên đến nay đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Hoạt động R & D đều do Chính
phủ tài trợ là chủ yếu.
Với mức chi cao như vậy, phần dành vào xây dựng và sử dụng cơ sở hạ tầng khoa
học và công nghệ và cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ cũng cao và tạo
nên nhiều năng lực cần thiết cho các hoạt động, trong đó có mảng outsourcing (làm
việc cho bên ngoài bằng năng lực tại chỗ, không cần di chuyển) trong CNTT trên
thế giới. Nhưng trước hết, tham vọng và mục tiêu của Ấn độ cũng rất rõ ràng và khả
thi: mục đích duy nhất là sứ mệnh biến Ấn độ thành quốc gia đổi mới và đi đầu trong
các ngành công nghệ; phấn đấu mỗi năm xuất khẩu 50 tỷ USD sản phẩm phần mềm;
và đến năm 2010 thị trường công nghệ sinh học nội địa sẽ đạt 4,5 tỷ USD, cao gấp 5
lần so với năm 1997....
Chính sách khoa học và công nghệ năm 2003 đã nhằm vào mục tiêu bảo đảm
cho khoa học và công nghệ phục vụ cuộc sống và giải quyết được những vấn đề về
kinh tế và xã hội, bao quát các lĩnh vực: quản lý khoa học và công nghệ, đầu tư, tối
ưu hóa sử dụng cơ sở hạ tầng hiện có, tăng cường cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho khoa
học và công nghệ trong các cơ quan hàn lâm; tạo cơ chế cấp vốn mới cho nghiên cứu
cơ bản,...

(i) Đầu tư theo tổ chức - đầu tư để phát triển khoảng 60 viện trọng điểm quốc gia;
(ii) Đầu tư để thực hiện các chương trình KH&CN trọng điểm quốc gia;
(iii). Đầu tư để thực hiện các đề tài KH&CN thông qua các quỹ KH&CN.
Ngoài ra có có Quỹ phát triển công nghệ, gồm: Tỷ lệ trích lại hàng quý trên cơ sở
hợp đồng giữa các cơ quan chính quyền và các tổ chức thương mại với tỷ lệ trích
25% kinh phí nộp vào các quỹ ngoài ngân sách; từ sự tự nguyện của các tổ chức
thuộc phạm vi quản lý của Bộ công nghiệp, KH&CN Liên bang Nga; kinh phí được
các cơ quan có tư cách pháp nhân hoàn trả lại Quỹ theo hợp đồng cấp kinh phí cho
triển khai các dự án sản xuất thử nghiệm.
Quỹ này tiến hành tài trợ cho:
+ Các đề tài nghiên cứu có tính chất toàn ngành, liên ngành và các biện pháp làm
chủ việc sản xuất các sản phẩm mới; đầu tư theo mục tiêu cho ứng dụng các thành
tựu KH&CN có ý nghĩa liên ngành và ở tầm quốc gia;
+ Cấp kinh phí cho việc triển khai các công trình nghiên cứu khoa học và thử
nghiệm.
Việc cấp kinh phí chủ yếu được thực hiện trên cơ sở hợp đồng có hoàn trả, gồm
các lĩnh vực: Tạo ra các loại sản phẩm mới, nguyên vật liệu có hàm lượng khoa học
cao; triển khai các công nghệ mới và hoàn thiện các công nghệ đang áp dụng; nâng
cao trình độ công nghệ của sản phẩm; tiêu chuẩn hoá và cấp giấy chứng nhận sản
phẩm; bảo hộ lao động và kỹ thuật an toàn. Việc cấp kinh phí không thu hồi được
thực hiện đối với các công trình nghiên cứu và triển khai thử nghiệm có ý nghĩa quốc
gia và xã hội lớn, thực hiện theo quyết định của Chính phủ Liên bang và Bộ trưởng
Bộ công nghiệp, KH&CN Liên bang.
2.2.2. Kinh nghiệm và bài học từ Balan:
Chính phủ áp dụng nguyên tắc cạnh tranh trong việc xin cấp tài trợ của Nhà nước,
tính công khai của các tiêu chuẩn, thủ tục và các quyết định, cũng như đánh giá của
các chuyên gia độc lập thuộc các chuyên ngành khoa học khác nhau (hệ thống đánh
giá “ngang bằng”).

Footer Page 21 of 166.

khoa học kỹ thuật và y học, giảm bớt chi tiêu vào các ngành khoa học tự nhiên và
nông nghiệp.
Balan còn bảo đảm tính linh hoạt trong việc tạo nguồn và cấp kinh phí khoa
học cũng được thực hiện theo kiểu chuyển giao chỉ định để tài trợ hoặc đồng tài trợ
cho các dự án nghiên cứu, dự án mục tiêu và các hoạt động hỗ trợ nghiên cứu cho
các Hiệp hội, Quỹ và các đơn vị khác để hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ khoa học đặc
biệt.
2.2.3. Kinh nghiệm và bài học từ Thụy sỹ
Để gia tăng khả năng nghiên cứu và hăng say sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật
khoa học và công nghệ, tổ chức KTI (tổ chức hỗ trợ đổi mới của Liên bang Thuỵ sỹ)
hỗ trợ các nhà khoa học ở trường Đại học với kết quả nghiên cứu của mình cùng với
doanh nghiệp triển khai các sản phẩm, dịch vụ có khả năng cạnh tranh và mang ra thị
trường. Tiêu chí để hỗ trợ quan trọng nhất là hàm lượng đổi mới và tác động kinh tế.
Sự hỗ trợ R &D của KTI có lợi cho doanh nghiệp cho đến nay đã được tiến hành rất
tốt hơn 60 năm qua. Giai đoạn 2001-2005 đã có 15.000 dự án được tài trợ, trong đó
phía doanh nghiệp chi 60% hay tương đương 530 triệu Frăng Thuỵ sỹ. Hiệu quả đầu
tư rất lớn: mỗi 1 đồng chi đầu tư của KTI đã thu hút được 1,4 đồng từ phía doanh
nghiệp. Đó là hiệu ứng đòn bẩy. Giai đoạn 2004-2007 ngân sách của KTI là 400 triệu
Frăng Thuỵ sỹ.

Footer Page 22 of 166.

22


Header Page 23 of 166.
Ngoài ra Thuỵ sỹ cũng đã thành lập Quỹ quốc gia để tài trợ nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ. Theo đó, vốn
hoạt động do các tổ chức thành lập Quỹ (Hội nghiên cứu tự nhiên, Viện Hàn lâm
Khoa học Y tế, Hội khoa học nhân văn, Hội Luật gia, Hội Thống kê và Kinh tế quốc

tiêu chuẩn quốc tế, chủ yếu đối với các Trường Đại học, nhờ đó sẽ nâng cao được
nền văn hóa, sức khỏe và an toàn cho dân tộc cùng với những nhu cầu cơ bản khác.
Tài trợ cuả nhà nước sẽ tập trung chủ yếu vào các hoạt động nghiên cứu dài hạn
(nghiên cứu cơ bản), các hoạt động nghiên cứu có nhiều rủi ro trong lĩnh vực nghiên
cứu ứng dụng và cho các hoạt động mà kết quả cuả nó sẽ được các doanh nghiệp nhỏ
và vừa không có khả năng và năng lực R & D sử dụng cho đổi mới công nghệ hay
hoàn thiện sản phẩm của mình, nâng cao khả năng cạnh tranh. Theo đó nghiên cứu
cơ bản sẽ được cấp đến 100% chi phí, nghiên cứu ứng dụng- đến 50% chi phí, còn
nghiên cứu phát triển thực nghiệm- đến 25% chi phí.
Tổng tài trợ cộng gộp từ ngân sách không được vượt quá:

Footer Page 23 of 166.

23


Header Page 24 of 166.
+ 75% của tổng chi phí đối với nghiên cứu ứng dụng,
+ 50% của tổng chi phí đối với phát triển thực nghiệm.
Chính phủ cũng sẵn sàng hỗ trợ bằng vốn vay với lãi suất ưu đãi (hoặc lãi suất
bằng 0), cho những dự án phát triển công nghiệp mà kết quả cuả nó dành cho người
dùng duy nhất. Sự tài trợ của Nhà nước cho các hoạt động R & D sẽ cố gắng bảo
đảm một tỷ lệ cân đối các loại tài trợ khác nhau- từ các kế hoạch nghiên cứu chủ yếu
được Nhà nước tài trợ của các tổ chức, hoặc cấp kinh phí có mục tiêu cho các cá
nhân hay các nhóm nhỏ, cho đến các dự án R & D trọng điểm hoàn thành các chương
trình R & D đã được công bố hiện có.
Mặc dù chính phủ áp dụng biểu thuế cao, nhưng sự hỗ trợ gián tiếp cho các hoạt
động R& D là một ngoại lệ (chỉ miễn thuế hải quan nhập khẩu đối với R & D trong
trường hợp nghiên cứu khoa học đang tiến hành và có khả năng khấu trừ 2% chi phí
R & D trong thu nhập ròng được sử dụng để tính thuế thu nhập).


Footer Page 24 of 166.

24


Header Page 25 of 166.
liên bang. Kinh phí đầu tư cho hệ thống này hàng năm lên đến 150 tỷ USD. Khắp nơi
trên đất Mỹ đã có hàng loạt các cơ sở hoàn hảo cho các nghiên cứu về vật lý hạt
nhân, vật lý năng lượng cao, vật lý thiên văn, vật lý chất rắn, sinh học phân tử,
nghiên cứu vũ trụ; trên cơ sở đó thu hút rộng rãi giới nghiên cứu trong và ngoài nước
đến làm việc. Rõ ràng với 2 thế mạnh về đầu tư tạo cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt nhất và
chi trả thu nhập cao, Mỹ luôn thu hút được tầng lớp tinh túy khoa học của thế giới
đến làm việc, mỗi năm tiết kiệm đến nhiều tỷ USD về đào tạo nhân lực chất lượng
cao do không phải đào tạo mà vẫn có người làm khoa học và công nghệ.
Chính sách đầu tư của Mỹ cho phát triển khoa học và công nghệ bao hàm cả
nội dung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật của khoa học và công nghệ. Do đó
nếu tổng chi cao thì phần chi cho xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng cao tương
ứng, tuy có thể mức độ khác nhau qua các năm. Năm 1965 tổng chi cho khoa học và
công nghệ là 54 tỷ USD, trong đó tài trợ của chính phủ cho việc nghiên cứu khoa học
ở các Trường Đại học đã gia tăng gấp 20 lần so với năm 1935 và mức chi vẫn tiếp
tục gia tăng mạnh cho đến cuối thập kỷ 80.
Trong vòng 5-7 năm gần đây, mức tăng kinh phí hàng năm của nhà nước dành
cho lĩnh vực nghiên cứu khoa học ở Mỹ gia tăng trung bình hàng năm là 10%.
Hơn nữa do quan niệm các hoạt động khoa học và công nghệ nhất là trong lĩnh
vực ứng dụng đều được thực hiện ở các doanh nghiệp (ví dụ từ năm 1990 đến 1993
cả chi chính phủ và khối doanh nghiệp đạt lần lượt là 150, 151,6; 161,9 và 184,9 tỷ
USD), Chính phủ vẫn có những hỗ trợ rất mạnh mẽ để các doanh nghiệp đẩy mạnh
hoạt động khoa học và công nghệ tại chính các doanh nghiệp. Các bộ phận nghiên
cứu và thử nghiệm đều được hưởng chế độ giảm thuế, ví dụ đã tiến hành giảm 4 lần



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status