Header Page 1 of 166.
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG
GIÁO DỤC SỨC KHỎE TUYẾN HUYỆN VÀ XÂY DỰNG
MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM PHÒNG TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC
SỨC KHỎE Ở TRUNG TÂM Y TẾ DỰ PHÒNG HUYỆN
Chủ nhiệm đề tài:
TS. Nguyễn văn Hiến
Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Y Hà Nội
Mã số đề tài:
8159
HÀ NỘI 2010
Footer Page 1 of 166.
Header Page 2 of 166.
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG
2. Chủ nhiệm đề tài:
TS. Nguyễn Văn Hiến
3. Cơ quan chủ trì đề tài:
Trường Đại học Y Hà Nội
4. Cơ quan quản lý:
Bộ Y Tế
5. Thư ký đề tài:
TS. Lê Thị Tài
6. Phó chủ nhiệm đề tài hoặc ban chủ nhiệm đề tài: không có
7. Danh sách những người thực hiện chính:
TS. Nguyễn Văn Hiến
BM Giáo dục sức khỏe, Khoa Y tế công cộng
Trường Đại học YHN
TS. Lê Thị Tài
BM Giáo dục sức khỏe, Khoa Y tế công cộng
Trường Đại học YHN
ThS. Trần Thị Nga
9. Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 11 năm 2007 đến tháng 4 năm 2010
Footer Page 3 of 166.
i
Header Page 4 of 166.
Môc lôc
Nội dung
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ
1
Chương 1: TỔNG QUAN
3
1.1. Vai trò của truyền thông giáo dục sức khỏe trong công tác chăm sóc
sức khỏe
3
1.2. Những đóng góp của hệ thống truyền thông giáo dục sức khỏe trong
thành quả chung của ngành Y tế ở Việt Nam
5
20
2.4. Đối tượng nghiên cứu
21
2.5. Chọn mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu
22
2.6. Công cụ và phương pháp thu thập thông tin
23
2.7. Nội dung nghiên cứu chính
24
2.8. Xây dựng mô hình can thiệp
25
2.9. Phân tích số liệu
27
2.10. Sai số và cách khống chế
27
Header Page 5 of 166.
3.5. Ý kiến đề xuất về xây dựng phòng TT-GDSK Hoạt động tại trung 45
tâm y tế huyện
3.6. Kết quả xây dựng và hoạt động của phòng TT-GDSK huyện Bình 49
Lục
66
Chương 4. BÀN LUẬN
4.1. Thực trạng về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực của phòng 66
TT-GDSK thuộc Trung tâm y tế huyện
4.2. Thực trạng hoạt động TT-GDSK tuyến huyện
70
4.3. Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động TT-GDSK ở tuyến
huyện
73
4.4. Hoạt động xây dựng và đánh giá mô hình thí điểm Phòng TT-GDSK
tại huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam
77
4.5. Ảnh hưởng của phòng TT-GDSK đến hoạt động TT-GDSK ở tuyến
xã và kiến thức, thực hành của dân về một số vấn đề sức khỏe, bệnh tật
thường gặp
81
1. Tên đề tài: “Nghiên cứu thực trạng truyền thông giáo dục sức khỏe tuyến
huyện và xây dựng mô hình thí điểm phòng truyền thông giáo
dục sức khỏe ở trung tâm y tế dự phòng huyện”.
• Mã số:
2. Thuộc chương trình (nếu có): Tuyển chọn
3. Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Văn Hiến
4. Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Y Hà Nội
5. Thời gian thực hiện (BĐ-KT): 11/2007 - 4/2010
6. Tổng kinh phí thực hiện Đề tài: 430 triệu đồng
Trong đó, kinh phí từ NSNN:
430 triệu đồng
7. Tình hình thực hiện đề tài so với đề cương:
7.1. Về mức độ hoàn thành khối lượng công việc: Đã hoàn thành đầy đủ khối
lượng công việc như đã viết trong đề cương với các sản phẩm:
- Hoàn thành báo cáo tổng kết đề tài trên 90 trang với các số liệu đảm bảo tính
khoa học và tin cậy.
- Công bố 8 bài báo khoa học trên 3 tạp chí là: 03 bài trên tạp chí Y học thực
hành, 02 bài trên tạp chí Y học Việt Nam và 02 bài trên tạp chí Nghiên cứu y học,
01 bài trên tạp chí Y học dự phòng.
- Hướng dẫn hai khóa luận tốt nghiệp đại học của sinh viên y đa khoa đã bảo vệ
đạt loại xuất sắc.
- Một đề cương luận văn cao học đã thông qua hiện đang thực hiện.
- Một đề cương nghiên cứu sinh đã thông qua hiện đang thực hiện.
7.2. Về các yêu cầu khoa học và chỉ tiêu cơ bản của các sản phẩm KHCN:
Thực hiện đầy đủ và đảm bảo chất lượng khoa học.
7.3. Về tiến độ thực hiện:
Thực hiện đúng tiến độ theo đề cương nghiên cứu được phê duyệt và sự gia hạn
của Bộ y tế.
giúp của đội ngũ cộng tác viên đông đảo và nhiệt tình ở địa phương. Một thuận
lợi khác được tỷ lệ lớn cán bộ nhấn mạnh là: Hoạt động TT-GDSK của huyện
được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp là một thuận lợi rất lớn. Có sự phối hợp
với các ban ngành đoàn thể và phối hợp liên ngành giúp làm giảm những khó
khăn do thiếu nhân lực. Hoạt động TT-GDSK được chỉ đạo theo ngành dọc từ
tuyến trung ương đến tuyến huyện, đây là thuận lợi rất cơ bản.
Khó khăn: Các khó khăn chung của huyện đề cập đến nhiều nhất là thiếu nhân
lực; sau đó là thiếu TTB, phương tiện, thiếu tài liệu/ấn phẩm; thiếu cơ sở vật
chất; thiếu kinh phí. Rất ít cán bộ muốn lựa chọn công tác ở phòng TT-GDSK
Footer Page 7 of 166.
v
Header Page 8 of 166.
vì theo ý kiến của cán bộ được phỏng vấn thì đây là lĩnh vực mà điều kiện làm
việc còn rất khó khăn, thu nhập lại thấp. Tình trạng phổ biến ở các phòng
TT-GDSK là các cán bộ đều mới làm công tác TT-GDSK: >90% có thâm niên
≤2 năm, chưa được đào tạo/tập huấn gì, 89,9% cán bộ nêu ý kiến họ thiếu kiến
thức kỹ năng TT-GDSK. Phòng TT-GDSK có cán bộ trình độ đại học chiếm tỉ lệ
thấp dưới 40%.
8.1.3. Đề xuất mô hình phòng TT-GDSK và thực hiện đánh giá kết quả bước
đầu xây dựng phòng TT-GDSK ở huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam
8.1.3.1. Xây dựng mô hình phòng TT-GDSK tuyến huyện
Căn cứ vào Nghị định số 172/2005/NĐ-CP quy định về tổ chức cơ quan chuyên
môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh và dựa
trên kết quả điều tra thực trạng, các ý kiến đề xuất của các cán bộ trong lĩnh vực
TT-GDSK, sau hội thảo lấy ý kiến của các chuyên gia về xây dựng phòng
TT-GDSK chúng tôi đề xuất các hoạt động xây dựng phòng TT-GDSK như sau:
- Phòng TT-GDSK xây dựng kế hoạch hoạt động theo tháng, quý, năm, chú
trọng đến cả các hoạt động TT-GDSK định kỳ theo chủ đề và đột xuất khi có
nhu cầu, đồng thời hướng dẫn các trạm y tế xã cùng xây dựng kế hoạch.
- Phân công cán bộ phòng TT-GDSK thực hiện theo dõi/giám sát hàng tháng để
hỗ trợ, đào tạo cho cán bộ y tế xã/thôn là hoạt động rất hiệu quả.
- Ban giám đốc TTYT huyện chỉ đạo hoạt động phối hợp, lồng ghép TT-GDSK
theo các chương trình y tế và phối hợp các cán bộ các khoa chuyên môn của
TTYT huyện cùng tham gia thực hiện TT-GDSK.
- Thống nhất trưởng TYT các xã chịu trách nhiệm phụ trách công tác TT-GDSK.
- Thực hiện giao ban chuyên đề về TT-GDSK trong giao ban hàng tháng của
trưởng TYT với TTYT huyện. Thông qua giao ban thực hiện đào tạo, chia sẻ
kinh nghiệm và động viên khuyến khích cán bộ đẩy mạnh công tác TT-GDSK ở
xã/thôn.
- Khi so sánh một số hoạt động TT-GDSK năm 2008 (chưa có phòng TT-GDSK)
và năm 2009 (có phòng TT-GDSK) tại các xã mà trưởng TYT đã nêu cho thấy
hoạt động TT-GDSK ở các xã năm 2009 đã có các bước phát triển tốt hơn năm
2008.
- Những thay đổi chính trong hoạt động TT-GDSK mà các trưởng TYT xã nêu
ra là: Số cán bộ TYT xã được đào tạo về kiến thức kỹ năng TT-GDSK năm
2009 đã tăng lên 2 lần so với năm 2008, số cán bộ đánh giá kỹ năng TT-GDSK
của cán bộ ở mức độ khá năm 2009 cũng tăng lên hơn 2 lần so với năm 2008.
Các hoạt động TT-GDSK cả trực tiếp và gián tiếp năm 2009 đều tăng có ý
nghĩa thống kê so với năm 2008.
- Ảnh hưởng của việc đẩy mạnh hoạt động TT-GDSK ở các xã cũng đã có tác
động đến thay đổi kiến thức thực hành của dân về một số vấn đề sức khoẻ bệnh
tật thường gặp ở cộng đồng.
Footer Page 9 of 166.
vii
•
Tên khóa luận 1: Thực trạng hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe
tại tuyến huyện của 6 tỉnh/thành phố: Yên Bái, Hà Nam, Đắc Lắc, Tiền
Giang, Hải Phòng và Cần Thơ Năm 2008. Sinh viên thực hiện: Đỗ Thị
Thu Trang; Khóa 2003-2009; Tổ 14 Y6D; Người hướng dẫn: TS. Lê Thị Tài.
Footer Page 10 of 166.
viii
Header Page 11 of 166.
•
Tên khóa luận 2: Hoạt động Truyền thông giáo dục sức khỏe và kiến thức,
thực hành của dân về một số vấn đề sức khỏe bệnh tật tại xã Đồng Du và
Tràng An huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam năm 2008. Sinh viên thực hiện:
Trần Vũ Hoàng khóa 2003-2009; Tổ 14 Y6D; Người hướng dẫn: TS.
Nguyễn Văn Hiến.
- Xây dựng được một đề cương nghiên cứu sinh cho một thành viên của nhóm
nghiên cứu là ThS. Trần Thị Nga, nghiên cứu sinh chuyên ngành Y tế Công
cộng khóa 27 của Trường Đại học Y Hà Nội, đề cương đã được thông qua, hiện
nay nghiên cứu sinh đang thực hiện đề tài nghiên cứu.
- Xây dựng một đề cương cho một thạc sỹ: Nguyễn Bích Ngọc; học viên cao
học Y tế Công cộng khóa 17 của Trường Đại học Y Hà Nội, đề cương đã được
thông qua, hiện nay học viên đang thực hiện đề tài nghiên cứu.
Ngày 28/4/2010 đề tài đã được Hội đồng khoa học công nghệ nghiệm thu cơ sở
đề tài cấp Bộ đánh giá đạt mức A (xuất sắc).
Chuyên môn nghiệp vụ
CSSK
Chăm sóc sức khỏe
CSSKBĐ
Chăm sóc sức khỏe ban đầu
CT/DA
Chương trình/Dự án
ĐB
Đồng bằng
ĐT
Đô thị
GDSK
Giáo dục sức khỏe
LĐ
Lãnh đạo
Thảo luận nhóm
TTB
Trang thiết bị
TT-GDSK
Truyền thông Giáo dục sức khỏe
TTYT
Trung tâm y tế
TTYTDP
Trung tâm y tế dự phòng
TYT
Trạm Y tế
Footer Page 12 of 166.
x
Header Page 13 of 166.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Truyền thông giáo dục sức khỏe (TT-GDSK) có vai trò quan trọng
Footer Page 13 of 166.
1
Header Page 14 of 166.
thực hiện, quản lý tốt các hoạt động TT-GDSK trên địa bàn huyện, phòng
TT-GDSK phải có đủ các điều kiện tối thiểu về nguồn lực. Trước hết cần có
đội ngũ cán bộ đủ về số lượng và được đào tạo kiến thức, kỹ năng TTGDSK. Bộ Y tế-Bộ Nội vụ cũng đã có Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLTBYT-BNV, ngày 05/6/2007 hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các
cơ sở y tế nhà nước [13], nhưng thực tế tình hình nhân lực của các phòng TTGDSK thuộc TTYT huyện hiện nay như thế nào? Liệu đội cán bộ có đủ năng
lực thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình không? Họ cần được đào tạo và
quản lý như thế nào để đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ chuyên môn? Mặt khác, để
thực hiện tốt nhiệm vụ, phòng TT-GDSK cũng cần có cơ sở vật chất, trang
thiết bị/phương tiện tối thiểu để thực hiện TT-GDSK. Điều quan trọng khác là
phòng TT-GDSK phải có những quy định cụ thể về phân công nhiệm vụ, xây
dựng kế hoạch và cơ chế hoạt động, quản lý thích hợp. Nhưng hiện nay chúng
ta còn thiếu thông tin về các vấn đề này để có thể xác định cụ thể hơn nhu cầu
về nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị/phương tiện cho thực hiện TT-GDSK
ở tuyến huyện như thế nào? Mô hình hoạt động của phòng TT-GDSK tuyến
huyện như thế nào là thích hợp? Đây là các câu hỏi đặt ra cần được trả lời. Để
cung cấp thông tin cho việc lập kế hoạch và xây dựng các phòng TT-GDSK
chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thực trạng truyền thông giáo dục sức
khỏe tuyến huyện và xây dựng mô hình thí điểm phòng truyền thông giáo dục
sức khỏe ở trung tâm y tế dự phòng huyện”.
Nghiên cứu này tìm hiểu những khía cạnh thực tế hiện nay liên quan đến hoạt
động TT-GDSK tại tuyến huyện và đề xuất mô hình phòng TT-GDSK của
TT-YTDP huyện với mong muốn đẩy mạnh hoạt động TT-GDSK tại tuyến
huyện, góp phần tích cực nâng cao sức khỏe cộng đồng.
Mục tiêu nghiên cứu:
cơ sở vì TT-GDSK là quá trình giúp đỡ, động viên để mọi người hiểu và chọn
được cách giải quyết thích hợp nhất vấn đề sức khỏe của họ [12], [14], [45].
TT-GDSK là một quá trình cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu
dài, kết hợp nhiều phương pháp. Hoạt động TT-GDSK không phải chỉ đơn
thuần là phát đi các thông tin hay thông điệp về sức khỏe, hay cung cấp thật
nhiều thông tin về sức khỏe cho mọi người, mà là quá trình tác động có mục
đích, có kế hoạch vào con người nhằm thay đổi kiến thức, thái độ và cách
thực hành của mỗi người nhằm NCSK cho họ và cho cả cộng đồng. Hoạt
động TT-GDSK thực chất là tạo ra môi trường hỗ trợ cho quá trình thay đổi
hành vi sức khỏe của mỗi người nhằm đạt được tình trạng sức khỏe tốt nhất
có thể được [39].
Sự tập trung của TT-GDSK là vào lý trí, tình cảm và các hành động nhằm
thay đổi hành vi có hại, thực hành hành vi có lợi mang lại cuộc sống khỏe
mạnh, hữu ích cho mọi người. TT-GDSK cũng là phương tiện hỗ trợ nhằm
Footer Page 15 of 166.
3
Header Page 16 of 166.
phát triển ý thức con người, phát huy tính tự lực cánh sinh và chủ động phòng
ngừa và giải quyết vấn đề sức khỏe của cá nhân và cộng đồng [36].
Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về
những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân
đã khẳng định nhiệm vụ quan trọng của TT-GDSK: “... làm tốt công tác tuyên
truyền, giáo dục sức khỏe và hỗ trợ về mặt kỹ thuật - chuyên môn, để nhân
dân tự giác, chủ động xây dựng nếp sống trật tự, vệ sinh, có ý thức phòng
bệnh, phòng dịch, bảo vệ môi trường, môi sinh, thường xuyên rèn luyện thân
thể và tham gia tích cực vào các hoạt động chăm sóc sức khỏe ở cơ sở”.
Header Page 17 of 166.
phòng chống bệnh tật, NCSK, họ có thể chủ động quyết định hành vi CSSK
đúng đắn. Hiện nay, rất nhiều chương trình CSSK sẽ không thể thành công
nếu không chú trọng đến vai trò của TT-GDSK nhằm thay đổi các hành vi
liên quan đến sự tồn tại của các vấn đề sức khỏe, bệnh tật.
1.2. Những đóng góp của hệ thống truyền thông giáo dục sức khỏe trong
thành quả chung của ngành Y tế ở Việt Nam
TT-GDSK được đánh giá là có vai trò vô cùng quan trọng trong công tác
CSSKBĐ. Nhờ có TT-GDSK mà tất cả mọi người dân trong cộng đồng đều
có cơ hội tiếp cận với những thông tin, những kiến thức và dịch vụ chăm sóc
sức khỏe cho họ. Việt Nam là một trong các nước đã tham dự và cam kết thực
hiện các mục tiêu của Tuyên ngôn Alma-Ata về CSSKBĐ năm 1978. Năm
1980 Chính phủ chỉ đạo ngành y tế triển khai thực hiện Chiến lược chăm sóc
sức khỏe ban đầu. Dưới sự chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, với nguyên tắc cơ
bản là đảm bảo phục vụ nhân dân tốt nhất và có hiệu quả cao, các cơ sở y tế
trong ngành y tế của nước ta đã có khả năng đáp ứng được nhu cầu CSSK
thiết yếu cho nhân dân.
Năm 1999, trong công trình nghiên cứu của một số nhà khoa học của Bộ Y tế
và Bộ Quốc phòng đã tiến hành đánh giá 20 năm thực hiện CSSKBĐ ở Việt
Nam. Kết quả nghiên cứu khẳng định: Trong 20 năm thực hiện CSSKBĐ
nước ta đã triển khai thực hiện đầy đủ và có hiệu quả cả 10 nội dung
CSSKBĐ, góp phần cải thiện tình trạng sức khỏe của nhân dân ta ngang tầm
với một số nước trên thế giới và trong khu vực có mức thu nhập cao hơn nước
ta nhiều lần. Trong báo cáo kết quả nghiên cứu đã nêu hai nhận xét quan
trọng về vai trò của TT-GDSK: Một là công tác TT-GDSK khỏe ngày càng
đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân
dân. Hai là TT-GDSK là sự nghiệp của cả cộng đồng, trong đó ngành Y tế giữ
vai trò nòng cốt và các Trung tâm TT-GDSK sức khỏe là hạt nhân [23].
Công tác TT-GDSK trong những năm qua đã có đóng góp to lớn trong thành
quả chung của ngành Y tế. Cả hệ thống truyền thông đã góp phần cùng với
sức khỏe
Quản lý
sức khỏe
Dinh
dưỡng
VSATTP
Kiện toàn
mạng lưới
y tế
Nước
sạch,
VSMT
Truyền
thông
GDSK
Thuốc
thiết yếu
ĐT bệnh
thông
thường
Dự phòng
dịch bệnh
tác thông tin, truyền thông, giáo dục về sử dụng thuốc an toàn hợp lý và quản
lý các bệnh mạn tính đang là một trong những trọng tâm công tác của ngành y
tế. Nguy cơ sử dụng thuốc không an toàn như người dân tự mua thuốc điều trị
không theo chỉ định của bác sĩ hoặc sử dụng thuốc theo thói quen không có sự
hướng dẫn và giám sát của nhân viên y tế là khá phổ biến. Đó là do sự thiếu
tiếp cận thông tin và thiếu hiểu biết của người dân về hậu quả của việc tự
dùng thuốc. Kết quả điều tra y tế quốc gia năm 2001-2002 cho thấy có 73%
người ốm tự mua thuốc về chữa bệnh [35].
1.3. Các yêu tố làm cho truyền thông giáo dục sức khỏe có hiệu quả
Truyền thông bao gồm 3 khâu cơ bản có liên quan chặt chẽ với nhau:
Nguồn
phát tin
Kênh truyền tin
Nơi
nhận tin
Sơ đồ 1.2: Ba khâu cơ bản của truyền thông
Hiệu quả của quá trình truyền thông phụ thuộc vào cả 3 khâu cơ bản: nguồn
phát tin, kênh truyền tin và nơi nhận tin. Vì vậy, để đạt được hiệu quả của quá
trình truyền thông cần phải đảm bảo những điều kiện cần thiết đối với cả 3
khâu này.
Footer Page 19 of 166.
7
sở vật chất cũng như các trang thiết bị, điều kiện làm việc cho cán bộ y tế nói
chung, đặc biệt cán bộ thuộc hệ thống TT-GDSK nói riêng còn nhiều khó
Footer Page 20 of 166.
8
Header Page 21 of 166.
khăn [26], [28], vì vậy rất cần phải có sự quan tâm đầu tư thích hợp và đồng
bộ, dựa trên nhu cầu thực tế về đẩy mạnh thực hiện hoạt động TT-GDSK cho
cộng đồng.
1.3.2. Yêu cầu đối với thông điệp và kênh truyền thông
Thông điệp cần chứa đựng và chuyển tải những nội dung cốt lõi cần được
truyền thông, bao gồm những từ ngữ, tranh ảnh, các hiện vật hấp dẫn, gợi cảm
và những tiếng động được sử dụng để chuyển những ý tưởng qua đó. Để đảm
bảo TT-GDSK có hiệu quả cao thì thông điệp truyền đi cần đạt một số yêu cầu cơ
bản là: Rõ ràng, chính xác, hoàn chỉnh, có tính thuyết phục, có thể thực hiện
được và đảm bảo tính hấp dẫn. Tuy vậy chỉ quan tâm đến thông điệp chưa đủ
mà cần chú ý các kênh truyền thông chuyển tải thông điệp được sử dụng. Để
chuyển tải được thông điệp, kênh truyền thông phải phù hợp với đối tượng
đích [41]. Vì vậy, khi chọn kênh truyền thông phải quan tâm đến khả năng
tiếp cận với kênh truyền thông của các nhóm đối tượng đích. Nguyên tắc chọn
kênh truyền thông là đảm bảo tối đa nhóm đối tượng đích có đủ các điều kiện
để thu nhận được thông tin từ kênh truyền thông đó. Các phương tiện, thiết bị
phải đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật. Ví dụ như các phương tiện nghe nhìn
chuyển tải các hình ảnh, âm thanh, lời nói, chữ viết phải rõ ràng, đầy đủ. Cần
cố gắng để hạn chế đến mức tối đa tình trạng trục trặc kỹ thuật xảy ra khi
đang truyền thông, có thể gây gián đoạn hay ức chế người nghe, người xem,
làm cho họ không tiếp tục chú ý đến chương trình truyền thông nữa [12].
nói chung, đặc biệt là với phòng TT-GDSK của trung tâm y tế huyện mới
đang được hình thành.
1.4. Hệ thống Truyền thông Giáo dục sức khỏe ở Việt Nam
1.4.1.Tuyến Trung ương
Xuất phát từ nhu cầu thực tế và nhận thức được vai trò quan trọng của TT-GDSK
trong công tác chăm sóc và BVSK nhân dân, ngày 12/9/1980 Bộ Y tế đã có
Quyết định số 817/BYT-QĐ thành lập “Nhà Tuyên truyền bảo vệ sức khỏe”.
Đến năm 1985 Nhà tuyên truyền bảo về sức khỏe đổi tên thành “Trung tâm
Tuyên truyền - Bảo vệ sức khỏe”. Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI về đổi mới phát triển đất nước, đòi hỏi đổi mới công tác chăm
sóc sức khỏe nhân dân, trong đó có đổi mới hoạt động TT-GDSK. Để đáp ứng
yêu cầu phát triển và ngày càng đổi mới hoạt động TT-GDSK, ngày
28/6/1999 Bộ Y tế có Quyết định số 1914/1999/QĐ-BYT đổi tên: “Trung tâm
Tuyên truyền - Bảo vệ sức khỏe” thành “Trung tâm Truyền thông - Giáo dục
sức khỏe Bộ Y tế”. Quyết định số 621/QĐ-TTg ngày 18 tháng 4 năm 2006 của
Thủ tướng Chính phủ đổi tên: “Trung tâm Truyền thông - Giáo dục sức khỏe
Footer Page 22 of 166.
10
Header Page 23 of 166.
Bộ Y tế” thành: “Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe Trung ương”,
thuộc Bộ Y tế.
1.4.2.Tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Ngày 03 tháng 01 năm 1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 01/1998/NĐ-CP
qui định hệ thống tổ chức Y tế mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có
một Trung tâm Truyền thông - Giáo dục sức khỏe. Thông tư liên tịch số
02/1998/TTLB-BYT-BTCCBCP ngày 27/6/1998 của Bộ Y tế và Ban Tổ chức
khỏe nhân dân và triển khai các công tác tuyên truyền khác trong lĩnh vực y tế
khi được sở y tế giao [25].
Đến nay 63/63 tỉnh/thành phố trong cả nước đã thành lập Trung tâm TT-GDSK
trực thuộc sở y tế tỉnh/thành phố.
1.4.3. Tuyến huyện/quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh
Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Quyết định số 26/2005/QĐ-BYT ngày 09 tháng
9 năm 2005 “Qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Trung tâm Y tế dự phòng huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh”. Trong
quyết định này đã quy định: Các phòng chuyên môn của Trung tâm y tế dự
phòng gồm: Phòng Hành chính tổng hợp và Phòng TT-GDSK. Nhiệm vụ của
Phòng TT-GDSK [9] là:
a. Thực hiện việc tuyên truyền các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước về lĩnh vực y tế;
b. Chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và hướng dẫn nghiệp vụ TT-GDSK về
y tế dự phòng; phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn, tổ chức triển khai các
hoạt động phòng, chống dịch, bệnh;
c. Thực hiện tư vấn sức khỏe cho người dân và hướng dẫn nghiệp vụ tư vấn
sức khỏe đối với các cơ sở y tế trên địa bàn.
1.4.4. Tuyến xã/phường, thị trấn
Quyết định số 370/2002/QĐ-BYT ngày 07 tháng 02 năm 2002 của Bộ trưởng
Bộ Y tế ban hành: “Chuẩn Quốc gia về y tế xã giai đoạn 2001-2010”. Trong
chuẩn Quốc gia về Y tế xã có 10 chuẩn. Trong đó, công tác TT-GDSK được
quy định ở Phần B của Chuẩn I gồm các nội dung sau:
1. 100% cán bộ trạm y tế và nhân viên y tế thôn bản được bồi dưỡng kiến
thức và có kỹ năng cơ bản về TT GDSK.
2. Thực hiện tư vấn và TT-GDSK lồng ghép tại trạm y tế, tại cộng đồng
và hộ gia đình.
Footer Page 24 of 166.
có mạng lưới TT-GDSK từ tuyến tỉnh đến tuyến huyện, xã, thôn/bản. Các
tỉnh/thành phố hiện đều có mạng lưới cộng tác viên TT-GDSK, trong đó chủ
yếu là cán bộ y tế (69%), cán bộ phụ nữ (9,5%), đoàn thanh niên (6,3%),
ngoài ra còn có sự cộng tác của cán bộ dân số (7,9%), của cán bộ hội chữ thập
đỏ và một số cán bộ khác (9,3%). Các cộng tác viên TT-GDSK phân bố chủ
Footer Page 25 of 166.
13