Niên luận Các mô hình giám sát hệ thống tài chính-Kinh nghiệm thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam - Pdf 41

Header Page 1 of 166.

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

NIÊN LUẬN

CÁC MÔ HÌNH GIÁM SÁT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH:
KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VÀ KHUYẾN NGHỊ CHO
VIỆT NAM

GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN: TS. NGUYỄN THẾ HÙNG
SINH VIÊN THỰC HIỆN: TRẦN LÊ ANH THƢ
LỚP: QH2011E – TCNH CLC
NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
HỆ: CHÍNH QUY

Hà Nội – Tháng 8 Năm 2014

Footer Page 1 of 166.


Header Page 2 of 166.

MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ .......................................................................................3
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................4
Tính cấp thiết của đề tài .................................................................................................. 4
Mục tiêu nghiên cứu ........................................................................................................ 4
Đối tƣợng, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu............................................................ 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO ...........................................................................................43

Footer Page 3 of 166.

2


Header Page 4 of 166.

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

1

Số hiệu
hình vẽ
Hình 1.1

Cấu trúc mô hình giám sát theo thể chế

9

2

Hình 1.2

Mô hình giám sát tài chính của Trung Quốc

11

3


7

Hình 1.7

Cấu trúc mô hình giám sát lƣỡng đỉnh

20

8

Hình 1.8

Mô hình giám sát tài chính của Úc

21

9

Hình 2.1

Mô hình giám sát tài chính ở Việt Nam

24

10

Hình 2.2

Bộ máy tổ chức của Cơ quan thanh tra, giám sát ngân



Header Page 5 of 166.

MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 đã
đƣợc nhiều nghiên cứu phân tích là những bất cập của hoạt động giám sát tài chính.
Giám sát tài chính của nhiều quốc gia đã không theo kịp, không giám sát và giảm thiểu
đƣợc các rủi ro của khu vực tài chính trên bình diện từng quốc gia riêng biệt cũng nhƣ
những rủi ro mang tính lan tỏa do toàn cầu hóa mang lại.
Trong bối cảnh nhƣ hiện nay, một trong những ƣu tiên hàng đầu của các quốc gia,
trong đó có Việt Nam là phải thƣờng xuyên đánh giá và nắm bắt đƣợc thực trạng của
khu vực tài chính để có những can thiệp kịp thời và hiệu quả, giảm thiểu rủi ro và tối
đa hóa lợi ích. Trong một số trƣờng hợp nếu cần thiết có thể phải có những thay đổi,
điều chỉnh về cơ chế, mô hình thanh tra, giám sát tài chính để quản lý, giám sát một
cách hiệu quả và phù hợp hơn.
Những tồn tại lớn trong hệ thống tài chính Việt Nam hiện nay nhƣ nợ xấu trong lĩnh
vực ngân hàng, rủi ro chéo trong các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, v..v
không chỉ tác động xấu đến hệ thống tài chính mà còn có tác động tiêu cực đến ổn định
kinh tế vĩ mô và phát triển kinh tế đất nƣớc. Lúc này, một nghiên cứu tổng thể nhằm
đánh giá thực trạng của thị trƣờng tài chính và giám sát tài chính ở Việt Nam, phát hiện
những tồn tại, bất cập của hệ thống thanh tra giám sát tài chính và khuôn khổ pháp lý
để có giải pháp xử lý phù hợp là hết sức cần thiết. Qua phân tích, đối chiếu thực tiễn
Việt nam với kinh nghiệm và thông lệ quốc tế, niên luận làm rõ nhu cầu cấp thiết cần
thực hiện giám sát tài chính hợp nhất tại Việt Nam và đề xuất một số giải pháp.
Mục tiêu nghiên cứu
Bài viết nhằm phân tích, đánh giá thực trạng thị trƣờng tài chính Việt Nam; thực trạng
giám sát tài chính và khuôn khổ pháp lý về giám sát tài chính ở Việt Nam. Từ đó phân



Footer Page 6 of 166.

5


Header Page 7 of 166.

NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM GIÁM SÁT TÀI CHÍNH
TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
1.1. Tổng quan về giám sát tài chính
Cho đến nay, trên thế giới chƣa có một mô hình giám sát tài chính nào đƣợc coi là mô
hình phổ biến nhất và hoàn chỉnh nhất. Tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể (nhƣ
chính trị, lịch sử, văn hóa, địa lý) và đặc biệt là mức độ phát triển của thị trƣờng tài
chính phù hợp. tuy có sự khác nhau về mô hình giám sát tài chính, các quốc gia vẫn
đều có sự thống nhất cơ bản về mục đích, đối tƣợng, phạm vi và nội dung của giám sát
tài chính.
1.1.1. Mục đích
Giám sát tài chính nhằm các mục đích sau:
-

Đảm bảo sự ổn định và phát triển của khu vực tài chính:

Bằng việc đảm bảo các định chế tài chính tuân thủ các chuẩn mực an toàn do các chủ
thể giám sát đặt ra, giám sát tài chính giúp cho hệ thống các định chế tài chính có đủ
sức chống đỡ các cú sốc bên ngoài. Điều này cũng có nghĩa là đảm bảo các định chế
tham gia thị trƣờng và cạnh tranh bình đẳng, đồng thời loại bỏ những định chế không
đủ điều kiện tham gia thị trƣờng.
-

vụ, sản phẩm tài chính với mức giá tƣơng xứng với chất lƣợng dịch vụ, sản phẩm và
đƣợc xử lý có tranh chấp, khiếu kiện một cách công bằng.
1.1.2. Đối tượng
Đối tƣợng của giám sát tài chính bao gồm:
-

Các định chế tài chính đóng vai trò là các trung gian tài chính thực hiện việc kết nối
các nhu cầu giao dịch các công cụ tài chính trên thị trƣờng: ngân hàng, công ty bảo
hiểm (với vai trò trung gian đầu tƣ), công ty chứng khoán (với vai trò tổ chức môi
giới và hƣởng hoa hồng).

-

Thị trƣờng tài chính – nơi thực hiện việc phát hành và mua bán các công cụ tài
chính thông qua đó vốn đƣợc di chuyển từ nơi dƣ thừa đến nơi thiếu hụt hoặc di
chuyển đến những nơi vốn đƣợc sử dụng hiệu quả nhất bằng cơ chế giá và quan hệ
cung cầu.

-

Hạ tầng cơ sở tài chính – hệ thống pháp luật tài chính (bao gồm cả cơ chế phá sản,
quyền chủ nợ,v..v…), mạng lƣới an toàn tài chính (safety net), các hệ thống thanh

Footer Page 8 of 166.

7


Header Page 9 of 166.


tài chính và thói quen, tập quán của ngƣời tiêu dùng trong khu vực tài chính của mỗi
quốc gia. Theo nghiên cứu, hiện nay trên thế giới phổ biến 4 mô hình:
(i)

Mô hình giám sát theo thể chế (giám sát phân tán theo chuyên ngành)

(ii)

Mô hình giám sát theo chức năng

(iii)

Mô hình giám sát lƣỡng đỉnh

(iv)

Mô hình giám sát hợp nhất

Footer Page 9 of 166.

8


Header Page 10 of 166.

1.2.1. Mô hình giám sát theo thể chế và trường hợp của Trung Quốc
Khái niệm và cấu trúc mô hình
Mô hình giám sát theo thể chế là mô hình giám sát dựa trên cách tiếp cận truyền thống,
theo đó tình trạng pháp lý của tổ chức tài chính sẽ quyết định cơ quan quản lý nào có
nhiệm vụ giám sát hoạt động của nó.


-

Giữa các cơ quan ký kết các biên bản ghi nhớ song phƣơng về chia sẻ thông tin và
phối hợp hành động theo nguyên tắc tự nguyện giữa các cơ quan giám sát với nhau.

-

Thiết lập Ủy ban ổn định tài chính với vai trò là một chủ thể điều tiết hoạt động
phối hợp giữa các thành viên là các cơ quan giám sát khác nhau. Có hai ủy ban hợp
tác cấp cao cũng đƣợc thành lập nhằm nâng cao việc phối hợp giữa các cơ quan
giám sát này.

-

Áp dụng cơ cấu nhân sự chéo, theo đó, mỗi cơ quan giám sát sẽ cử đại diện của
mình tham gia ban điều hành của các cơ quan giám sát còn lại.

Trƣờng hợp của Trung Quốc
Năm 2003, Trung Quốc xây dựng hệ thống giám sát tài chính độc lập, bao gồm ba cơ
quan giám sát là Ủy ban Chứng khoán, Ủy ban Giám sát bảo hiểm và Ủy ban Giám sát
ngân hàng. Ba cơ quan này trực thuộc Hội đồng nhà nƣớc Trung Hoa.

Footer Page 11 of 166.

10


Header Page 12 of 166.


Header Page 13 of 166.

-

Quốc gia áp dụng hệ thống giám sát tài chính thể chế sẽ phải đối mặt với rủi ro rất
cao khi thị trƣờng ngày càng có nhiều định chế tài chính phức tạp đƣợc thành lập và
sự ra đời của nhiều sản phẩm và công cụ tài chính mới.

-

Khả năng giám sát của hệ thống có thể bị hạn chế từ việc giữ bí mật thông tin kiểm
tra và sử dụng nội bộ của các cơ quan.

-

Không tận dụng đƣợc hiệu quả theo quy mô trong việc giám sát thị trƣờng do thiếu
cách thức tiếp cận thống nhất đối với việc đƣa ra các mức chuẩn, ủy quyền, giám
sát, hiệu lực,v..v…

-

Việc giám sát trùng lặp các hoạt động giống hoặc tƣơng tự nhau giữa các cơ quan
giám sát hoặc bỏ trống các lĩnh vực giám sát làm tăng chi phí nguồn lực hoặc rủi ro.

1.2.2. Mô hình giám sát theo chức năng và trường hợp của Italy
Khái niệm và cấu trúc mô hình
Mô hình giám sát theo chức năng là mô hình giám sát mà việc giám sát đƣợc thực hiện
căn cứ vào hoạt động kinh doanh mà không quan tâm đến hình thức pháp lý của các
thực thể.
Trong mô hình giám sát theo chức năng, một tổ chức cung cấp dịch vụ trên càng nhiều

chế, bao gồm các cơ quan giám sát:

Footer Page 14 of 166.

13


Header Page 15 of 166.

-

Bộ kinh tế và tài chính (MEF): chịu trách nhiệm chung về việc cung cấp hƣớng dẫn
chính sách kinh tế nói chung.

-

Ngân hàng Trung ƣơng Italy: chịu trách nhiệm quản lý, giám sát đối với các trung
gian nhằm đảm bảo sự ổn định và hiệu quả chung của hệ thống tài chính.

-

Ủy ban Công ty và giao dịch chứng khoán (CONSOB): chịu trách nhiệm giám sát
thị trƣờng chứng khoán và dịch vụ đầu tƣ.

-

Cơ quan quản lý bảo hiểm (ISVAP): đảm bảo việc giám sát thận trọng và đúng đắn
đối với các thực thể bảo hiểm và tái bảo hiểm thông qua vieeccj đƣaa ra các quy
định và giám sát hoạt động của các thực thể này.



Đôi khi rất khó phân biệt một hoạt động kinh doanh thuộc về cơ quan giám sát nào
quản lý.

-

Sự đổi mới của sản phẩm có thể bị ngăn cấm khi các cơ quan giám sát chức năng
tranh cãi về vấn đề luật pháp.

-

Thƣờng làm mất nhiều thời gian hơn cho các tổ chức tài chính vì mô hình này đòi
hỏi các tổ chức tài chính phải chịu sự giám sát của nhiều cơ quan vì các cơ quan
này phải dành nhiều thời gian để trao đổi.

-

Không có cơ quan giám sát nào có đủ các thông tin liên quan đến tất cả hoạt động
của mọi tổ chức tài chính dẫn đến khó khăn trong giám sát rủi ro hệ thống.

1.2.3. Mô hình giám sát hợp nhất và trường hợp của Vương quốc Anh
Khái niệm và cấu trúc mô hình
Mô hình hợp nhất là mô hình mà trong đó một cơ quan giám sát chịu trách nhiệm giám
sát ít nhất hai hoặc toàn bộ lĩnh vực của thị trƣờng tài chính.
Mô hình này đƣợc chia làm hai loại:

Footer Page 16 of 166.

15



Giám sát vĩ mô: do cơ quan giám sát tài chính hợp nhất và một cơ quan khác
(thƣờng là Ngân hàng trung ƣơng) chịu trách nhiệm.

-

Giám sát vi mô và giám sát hành vi giao dịch: do cơ quan giám sát tài chính hợp
nhất chịu trách nhiệm chính.

Giữa các cơ quan này có thể có các biên bản ghi nhớ, thỏa thuận hợp tác nhằm hoàn
thành nhiệm vụ chức năng giám sát thị trƣờng tài chính.
Trƣờng hợp của Vƣơng quốc Anh
Cấu trúc mô hình giám sát tài chính của Vƣơng quốc Anh gồm hệ thống quản lý ba bên
đó là Ngân hàng Trung ƣơng (BoE), Cơ quan Dịch vụ tài chính (FSA) và Bộ Tài chính
(HMT).

Hình 1.6 Mô hình giám sát tài chính của Vương quốc Anh

Footer Page 18 of 166.

17


Header Page 19 of 166.

FSA có thẩm quyền điều tra, thi hành và xử lý các vấn đề liên quan. Sau cải cách tài
chính năm 1997, Ngân hàng trung ƣơng Anh đƣợc toàn quyền quyết định các chính
sách tiền tệ và hỗ trợ việc ổn định tài chính thông qua hoạt động thị trƣờng, giám sát hệ
thống thanh toán và giám sát thị trƣờng. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm về cơ sở pháp
lý cho các quy định và quyết định liên quan đến vai trò của ngƣời cho vay cuối cùng.

-

Mô hình này cũng góp phần nâng cao tính trách nhiệm của cơ quan giám sát vì nó
là duy nhất.
Nhƣợc điểm:

Footer Page 19 of 166.

18


Header Page 20 of 166.

-

Tính khả thi của mô hình hợp nhất có thể không cao nếu thực hiện cùng một
phƣơng pháp cho nhiều tổ chức lớn mà bỏ qua sự khác biệt ngành nghề kinh doanh
của các tổ chức này.

-

Sự cân đối giữa ba mục tiêu chính của hoạt động giám sát có thể không đƣợc đảm
bảo vì trên thực tế, đối tƣợng của giám sát hành vi giao dịch gần nhƣ chỉ bao gồm
việc mở rộng hình ảnh trong mắt ngƣời tiêu dùng và vấn đề chính trị hơn là các vấn
đề liên quan đến bảo vệ ngƣời tiêu dùng.

-

Tồn tại những mâu thuẫn về quan niệm, văn hóa trong mô hình giám sát hợp nhất
giữa các nhà kinh tế và các nhà luật sƣ.

Header Page 21 of 166.

đạo của các cơ quan tƣ vấn cấp 1. Tuy nhiên hai cơ quan này có thể thành lập các cơ
quan tƣ vấn độc lập cấp 2 cho riêng mình.

Hình 1.7 Cấu trúc mô hình giám sát lưỡng đỉnh
Cơ chế vận hành và phối hợp
Mô hình lƣỡng đỉnh khác biệt so với các mô hình khác với việc tồn tại hai cơ quan độc
lập giám sát thị trƣờng:
-

Cơ quan giám sát hoạt động kinh doanh chịu trách nhiệm giám sát hành vi giao dịch
của các tổ chức tài chính trên thị trƣờng, tính công bằng của thị trƣờng; đảm bảo
quyền lợi cũng nhƣ lòng tin vào thị trƣờng của ngƣời tiêu dùng.

-

Cơ quan giám sát thận trọng chịu trách nhiệm đảm bảo an toàn hệ thống thông qua
việc quy định thủ tục và chuẩn mực hành chính.

Bên cạnh hai cơ quan trên, một số cơ quan khác phối hợp nhằm đạt đƣợc mục tiêu ổn
định thị trƣờng có thể kể đến nhƣ Kho bạc, Ngân hàng dự trữ quốc gia, Bộ Tài chính
Trƣờng hợp của Úc

Footer Page 21 of 166.

20


Header Page 22 of 166.


Ủy ban chứng khoán (ASIC): chịu trách nhiệm kiểm soát thị trƣờng ở mảng dịch vụ
tài chính và kiểm soát các doanh nghiệp cũng nhƣ các chuẩn mực pháp lý.

Ƣu nhƣợc điểm của mô hình
Ƣu điểm:
Mô hình này đƣợc đánh giá là phƣơng pháp tối ƣu nhằm đảm bảo tính minh bạch và
toàn vẹn của thị trƣờng nhờ điểm khác biệt với các mô hình khác nhƣ sau: bên cạnh
nguồn nhân lực nội bộ, cơ quan giám sát thận trọng có thể thuê các chuyên gia kinh tế
và kinnh doanh trong khi cơ quan giám sát hành vi kinh doanh có thể tập trung bộ máy
vào việc thực thi.
Nhƣợc điểm:
Thông thƣờng mục tiêu an toàn hệ thống đƣợc ƣu tiên hơn và ngƣời tiêu dùng có thể bị
thiệt hại khi một định chế tài chính nào đó phá sản. Khi đó có thể nảy sinh mâu thuẫn
khi cơ quan giám sát an toàn phải lựa chọn giữa an toàn hệ thống và bảo vệ ngƣời tiêu
dùng.
1.2.5. Mô hình ngoại lệ và trường hợp của Mỹ
Cấu trúc của thể chế giám sát các dịch vụ tài chính ở Mỹ đƣợc nhận định là phức tạp và
phản ánh các yếu tố nhƣ tính chất liên bang của nƣớc Mỹ và có khả năng ứng phó với
các cuộc khủng hoảng tài chính, cung cấp các giải pháp cho các vấn đề cụ thể, và thể
hiện nỗ lực hiện đại hóa hệ thống tài chính theo thời gian.
Hệ thống giám sát của Mỹ bao gồm cả các qui định chức năng về hoạt động (ngân
hàng, chứng khoán, bảo hiểm, nguyên vật liệu) và giám sát kết cấu. Một điểm khác biệt

Footer Page 23 of 166.

22


Header Page 24 of 166.

Ủy ban giao dịch phái sinh hàng hóa trong tƣơng lai (Commodity Futures Trading
Commission);

-

Các ủy ban giám sát bảo hiểm của các bang (Insurance State Commissioners).

Bên cạnh các cơ quan hành pháp trong hệ thống của Mỹ còn có Các tổ chức tự điều
hành (Self-regulatory Organization – SROs) bao gồm các cơ quan sau: Ủy ban chất
lƣợng Kế toán Tài chính (Financial accounting standards board – FASB), Hiệp hội các
dụng cụ phái sinh quốc tế (The international swaps and derivatives association – ISDA)
và Hiệp hội ngành chứng khoán và thị trƣờng tài chính (The securities industry and
financial markets association – SIFMA). SROs chịu sự giám sát của SEC về mặt hoạt
động và xem xét các đề nghị về mặt quy định.

Footer Page 24 of 166.

23


Header Page 25 of 166.

CHƢƠNG 2. THỰC HIỆN MÔ HÌNH GIÁM SÁT TÀI CHÍNH HỢP NHẤT TẠI
VIỆT NAM
2.1. Thực trạng hệ thống giám sát tài chính ở Việt Nam
2.1.1. Thực trạng hệ thống giám sát tài chính ở Việt Nam
Hệ thống giám sát tài chính của Việt Nam đi theo mô hình phân tán, các cơ quan quản
lý và giám sát đƣợc thành lập và chịu trách nhiệm với một loại định chế tài chính và
khu vực thị trƣờng tài chính nhất định. Việc giám sát đƣợc thực hiện tách biệt cho từng
lĩnh vực kinh tế, phù hợp với điều kiện thị trƣờng ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status