BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
o0o
Công trình tham dự Cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học Trường Đại học Ngoại thương 2013
Tên công trình
XÂY DỰNG MÔ HÌNH CẢNH BÁO SỚM KHỦNG HOẢNG NỢ VÀ
KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT N
Nhóm ngành: KD1
Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2013
i
ỤC TỪ VIẾT TẮT
Hộp 1: Trích các nhận định của IMF về hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn
1989-1998
Hộp 2: Trích các đánh giá của Moody’s đối với khả năng trả nợ nước ngoài của Việt
Nam giai đoạn 2001-2007
Hộp 3: Trích nhận định của Ngân hàng nhà nước về tình hình lạm phát Việt Nam
vào năm 2011
Hộp 4: Trích nhận định của Ủy ban kinh tế Quốc hội về tình hình tỉ giá năm 2011
Hộp 5: Trích các nhận định của Fitch về thực trạng ngân hàng Việt Nam
iii
Biểu đồ 3: Nợ nước ngoài trên GDP của Việt Nam giai đoạn 1989-1999
Biểu đồ 4: Đánh giá IIR cho Việt Nam giai đoạn 1994-1999
Biểu đồ 5: Tình hình tài khoản vãng lai Việt Nam giai đoạn 1990-1999
Biểu đồ 6: Tình hình tiền gửi ở hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1992-1999
Biểu đồ 7: Nợ nước ngoài trên GDP của Việt Nam giai đoạn 1999-2007
Biểu đồ 8: Đánh giá về nợ xấu và Z-score của hệ thống ngân hàng Việt Nam giai
đoạn 1997-2007
Biểu đồ 9: Tình hình tiền gửi-tín dụng ngoại tệ ở hệ thống ngân hàng Việt Nam giai
đoạn 2000-2006
Biểu đồ 10: Tình hình các dòng vốn và kiều hối của Việt Nam trong những năm gần
đây
Biểu đồ 11: Tình hình thoái vốn của Việt Nam trong những năm gần đây
Biểu đồ 12: Đánh giá IIR cho Việt Nam giai đoạn 2007-2012
Biểu đồ 13: Tình hình nợ ngắn hạn và dự trữ ngoại hối của Việt Nam giai đoạn
2000-2011
Biểu đồ 14: Đánh giá về nợ xấu ở hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn
2006-2012
Biểu đồ 15: Xếp hạng rủi ro của Eonomist Intelligent Unit cho Việt Nam giai đoạn
2008-2012
Biểu đồ 16: Xếp hạng rủi ro của World Economic Forum cho Việt Nam giai đoạn
2008-2012
Biểu đồ 17: Tình hình đấu thầu trái phiếu Kho bạc của Việt Nam giai đoạn
2011-2012
Biểu đồ 18: Chỉ số ICOR của Việt Nam qua từng giai đoạn
v
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHỦNG HOẢNG NỢ VÀ XÂY DỰNG
MÔ HÌNH CẢNH BÁO SỚM KHỦNG HOẢNG NỢ CHO NỀN KINH TẾ
3.2 Các khuyến nghị về chính sách 65
3.2.1 Đề xuất chính sách đối với việc vay và quản lý nợ công 65
3.2.2 Đề xuất chính sách đối với các vấn đề nội tại trong nền kinh tế 83
vii
PHẦN MỞ ĐẦU
1
World Economic Forum, “The global competitiveness report 2012-2013”, trang 425, năm 2012.
2
International Monetary Fund, “Fiscal policy as a countercyclical tool”, năm 2008.
viii
khả năng chi trả của chính phủ.
Việt Nam từ khi mở cửa tới nay, vẫn bị xếp vào nhóm các quốc gia đang phát
triển. Quy mô nền kinh tế vẫn còn nhỏ so với mặt bằng chung của thế giới và phụ
thuộc nhiều vào xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp thô và công nghiệp nhẹ là chủ
yếu. Do vậy hiện tại và trong tương lai, việc tăng vay nợ chính phủ nói riêng cũng
như nợ công nói chung là khá cần thiết để Việt Nam có thêm nguồn tài chính đầu tư
cho cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, mức nợ công của Việt Nam
3
năm
2001 mới chỉ là 10.681 tỉ USD (chiếm 33.4% so với GDP), đã tăng lên gần 6 lần là
61.808 tỉ USD vào năm 2011 (chiếm 51.3% so với GDP), vượt qua mức khuyến
nghị 25% GDP của IMF đối với các nền kinh tế mới nổi
4
. Xác suất vỡ nợ tích lũy
(cumulative probability of default) của Việt Nam luôn ở mức trên 20% trong giai
đoạn 2011-2012 gần đây; cá biệt trong quý 2 năm 2011, Việt Nam còn đứng thứ 9
trong số những quốc gia có rủi ro vỡ nợ cao nhất
5
. Đây là những dấu hiệu không tốt
đối với tình hình nợ công của Việt Nam hiện nay. Nếu một cuộc Khủng hoảng nợ
công như vậy xảy ra thì hậu quả của nó khó mà có thể đánh giá hết và phải mất một
thời gian dài để chúng ta có thể phục hồi lại được nền kinh tế. Chính vì lẽ đó, việc
năm 2012.
“Khả năng trả nợ và tính bền vững nguồn vốn ODA tại Việt Nam” của tác
giả Nguyễn Kim Đức đăng trên tạp chí Phát triển và Hội nhập số 1, tháng 11
năm 2011.
“Luận bàn vấn đề nợ công ở Việt Nam” của thạc sỹ Nguyễn Quốc Nghi đăng
trên tạp chí Nghiên cứu tài chính và marketing số 6, năm 2011.
Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu trong nước chỉ dừng lại ở việc
phân tích thực trạng và tính bền vững của nợ công, đưa ra các chính sách tái cơ cấu
nợ công hoặc xem xét ảnh hưởng của nợ công đến sự phát triển kinh tế, mà chưa có
công trình nào đề cập đến việc xây dựng một mô hình cảnh báo sớm khả năng xảy
ra Khủng hoảng nợ ở Việt Nam.
Về tình hình nghiên cứu nước ngoài, việc xây dựng một mô hình cảnh báo sớm
Khủng hoảng nợ đã được các nhà kinh tế học thực hiện từ rất sớm. Các cách thức
định nghĩa Khủng hoảng nợ cũng như phương pháp tiếp cận mô hình cảnh báo sớm
Khủng hoảng nợ vô cùng đa dạng và phong phú. Trong số đó phải kể đến một vài
công trình tiêu biểu như:
Công trình của Paolo Manasse, Nouriel Roubini và Axel Schimmelpfennig
x
(2003)
6
, các ông định nghĩa một quốc gia lâm vào Khủng hoảng nợ khi quốc
gia đó bị S&P xếp hạng là vỡ nợ (default) và nhận một khoản vay lớn
7
không ưu đãi từ IMF (nonconcessional IMF loan). Từ định nghĩa này, các
ông xây dựng được một mô hình cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ bằng cách
sử dụng phối hợp phương pháp Logit và phương pháp Tree analysis. Mô
hình cảnh báo sớm được thực nghiệm trên 47 nền kinh tế từ năm 1970 đến
năm 2002.
9
Xem thêm ở phần phụ lục 1.
10
Ana Maria Feurtes và Elena Kalotychou, “Optimal design of early warning systems for sovereign debt
crises”, International Journal of Forecasting, năm 2007.
xi
Công trình của Marco Fioramanti (2008)
11
, ông định nghĩa một quốc gia lâm
vào Khủng hoảng nợ tương tự như trong công trình của Paolo Manasse et al.
Từ định nghĩa này, ông sử dụng phương pháp Artificial neural networks để
xây dựng nên mô hình cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ. Mô hình cảnh báo
sớm được thực nghiệm trên tất cả các cuộc Khủng hoảng nợ diễn ra ở các
quốc gia đang phát triển từ năm 1980 đến năm 2004.
Công trình của Tobias Knedlik và Gregor von Schweinitz (2011)
12
, các ông
sử dụng trái phiếu 10 năm loại AAA làm chuẩn mực để định nghĩa khi nào
một quốc gia lâm vào Khủng hoảng nợ. Từ định nghĩa này, các ông sử dụng
phương pháp Signals Approach để xây dựng nên mô hình cảnh báo sớm
Khủng hoảng nợ. Mô hình cảnh báo sớm được thực nghiệm trên tất cả các
cuộc Khủng hoảng nợ của các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu từ năm
1999 đến năm 2011.
Dựa trên tất cả các công trình nghiên cứu về nợ công đã tham khảo, chúng tôi
quyết định chọn phương pháp Signals Approach để xây dựng nên một mô hình cảnh
báo sớm Khủng hoảng nợ cho nền kinh tế Việt Nam. Về ưu nhược điểm của từng
loại phương pháp đã đề cập và lý do chọn phương pháp Signals Approach sẽ được
nhóm trình bày cụ thể ở các phần sau.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
các biến tốt. Các chỉ báo vĩ mô sẽ được lấy từ cùng một nguồn để hạn chế tối đa
tình trạng không nhất quán của số liệu. Các số liệu về Khủng hoảng nợ cũng sẽ chỉ
được lấy từ nguồn của Reinhart và Rogoff
14
để đảm bảo tính tương đồng giữa số
liệu và định nghĩa. Trong quá trình nghiên cứu, phương pháp phân tích sẽ được sử
dụng chủ yếu, đồng thời kết hợp thu thập dữ liệu, nghiên cứu tình huống để so sánh,
đánh giá hiệu quả của mô hình.
6. Kết quả dự kiến
Trong quá trình nghiên cứu và thực nghiệm, nhóm nghiên cứu kỳ vọng đạt được
một số kết quả sau:
-Xây dựng thành công mô hình cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ sử dụng mô hình
Signal Approach cho Việt Nam. Các ngưỡng khả thi tính được của mô hình không
khác nhiều so với các ngưỡng khuyến nghị được đề xuất bởi nhiều học giả trên thế
giới.
-Các kết quả tính toán rủi ro Khủng hoảng nợ của Việt Nam là phù hợp với các báo
cáo của các tổ chức quốc tế uy tín, như Moody’s, Standard and Poor’s hay
Institutional Investors. 14
Số liệu về Khủng hoảng nợ sẽ được lấy từ:
xiii
-Trên cơ sở các kết quả tính toán, nhóm nghiên cứu có thể đưa ra được các chính
sách hợp lý nhất nhằm hạn chế tối thiểu rủi ro khủng hoảng trong tương lai.
7. Cấu trúc đề tài
-Chương 1: Lý luận chung về Khủng hoảng nợ và xây dựng mô hình cảnh báo sớm
Khủng hoảng nợ cho nền kinh tế Việt Nam.
Economist 51.2
Bộ tài chính Việt Nam 55.4
Sự không đồng nhất giữa các số liệu ở bảng trên thể hiện rõ sự khác nhau đáng
kể trong việc định nghĩa và tính toán nợ công của mỗi tổ chức. Tùy từng mục đích
sử dụng và đặc thù kinh tế riêng của mỗi quốc gia mà chúng ta có cách định nghĩa
nợ công riêng. Việc định nghĩa nợ công quá rộng và tính toán nợ công quá cao gây
ra sự phức tạp trong tính toán, khiến nợ công trở nên khó quản lý và không có nhiều
ý nghĩa kinh tế. Thêm nữa, việc tính nợ công ở mức cao còn tạo ra sự hoang mang
trong các nhà đầu tư, khiến việc huy động vốn nước ngoài của chính phủ trở nên 1
Do nhóm nghiên cứu tự tổng hợp, số liệu được lấy trên trang chủ của các tổ chức.
2
khó khăn hơn và đôi khi chi phí phải trả cao hơn. Ngược lại, việc định nghĩa nợ
công ở mức quá hẹp và tính toán quá thấp khiến các các nhà quản lý không lường
trước được rủi ro của các khoản nợ công tiềm tàng, hoặc của các khoản nợ không
được tính đến. Điều này sẽ khiến các khoản nợ ngày càng chồng chất và nguy cơ vỡ
nợ của quốc gia cao hơn.
Như vậy câu hỏi đặt ra là chúng ta phải định nghĩa nợ công như thế nào cho hợp
lý? Theo quan điểm của Luật quản lý nợ công Việt Nam
2
, nợ công là khoản nợ bao
gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương.
Định nghĩa này hẹp hơn định nghĩa của các tổ chức quốc tế như IMF, WB hay
UNDTAD và vấp phải nhiều tranh cãi trong việc có nên đưa nợ của doanh nghiệp
nhà nước vào trong tính toán nợ công hay không. Còn theo quan điểm rộng hơn của
IMF, nợ công là nợ của toàn bộ khu vực công. Ở đó khu vực công bao gồm chính
quyền (general government) và các tổ chức công (public corporations). So với định
của IMF là khá hợp lý.
Định nghĩa về Khủng hoảng nợ
Cũng giống như khái niệm nợ công, khái niệm Khủng hoảng nợ hiện nay không
cố định và cũng được nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa trên các cơ sở khác nhau
4
.
Hiểu theo nghĩa hẹp, thì Khủng hoảng nợ là tình trạng chính phủ của một quốc gia
mất khả năng chi trả các khoản nợ đến hạn của mình. Tuy nhiên, trải qua thời gian
dài vận động và phát triển của nền kinh tế thế giới, nhiều cuộc Khủng hoảng nợ mới
đã liên tục nổ ra, các cuộc khủng hoảng sau dường như diễn biến phức tạp và bất
quy luật hơn so với các cuộc khủng hoảng trước đó. Điều này sớm biến các định
nghĩa cổ điển trở nên lỗi thời và đòi hỏi các nhà nghiên cứu cần phải phát triển các
định nghĩa về Khủng hoảng nợ theo hướng mới rộng và bao quát hơn. Chính vì lẽ
đó, định nghĩa về Khủng hoảng nợ luôn thay đổi nhiền lần và liên tục cải biến.
Nhìn chung, khi nói về Khủng hoảng nợ, thì chúng ta có thể xem xét một vài
định nghĩa tiêu biểu của một số học giả sau:
Theo quan điểm của Detragiache và Spilimbergo (2001)
5
, các ông cho rằng
một cuộc Khủng hoảng nợ xảy ra khi thõa mãn một trong hai điều kiện: thứ
nhất, các nghĩa vụ nợ phải trả hoặc các khoản lãi vay đối với nước ngoài của
các chủ nợ là ngân hàng hoặc các chủ sở hữu trái phiếu vượt quá hơn 5% số nợ
còn lại; thứ hai, các quốc gia xin giãn nợ hoặc kéo dài thời gian trả nợ đối với
chủ nợ được niêm yết trên danh sách của Trung tâm phát triển tài chính toàn 4
Xem thêm ở phần phụ lục 1.
5
≥
+1.6.
.
Theo quan điểm của Manasse và Roubini (2008)
7
, các ông cho rằng một quốc
gia được coi như lâm vào Khủng hoảng nợ nếu xảy ra một trong hai điều kiện:
quốc gia đó bị xếp loại vỡ nợ (default) bởi Standard and Poor’s; hoặc nhận một
khoản vay lớn không ưu đãi từ IMF (“khoản vay lớn” ở đây có nghĩa là vượt
quá 100% hạn ngạch của IMF).
Theo quan điểm của Pescatori và Sy (2003)
8
, các ông cũng định nghĩa một
quốc gia là lâm vào Khủng hoảng nợ nếu
vượt quá điểm phân vị 95% ít
nhất là 94.7
9
trong phân phối thực nghiệm của
.
Như vậy vấn đề đặt ra là chúng ta nên lựa chọn định nghĩa nào thì hợp lý nhất?
Trên thực tế, việc lựa chọn định nghĩa ảnh hưởng rất lớn đến thời điểm xảy ra của
Khủng hoảng nợ. Chẳng hạn khi đối chiếu ba định nghĩa của Knedik và
Schweinitz (2011), Pescatori và Sy (2004) và Manansse và Roubini (2008) lên các
01/05/2010 01/12/2010 01/05/2011 (chưa xảy ra) (chưa xảy ra)
Do công trình của chúng tôi sử dụng dữ liệu Khủng hoảng nợ từ các công trình
của Reinhart và Goroff nên để đảm bảo tính nhất quá của số liệu, chúng tôi sẽ sử
dụng định nghĩa của Reinhart và Goroff làm định nghĩa Khủng hoảng nợ xuyên suốt
bài nghiên cứu lần này. Theo Reinhart và Goroff
11
, sự kiện Khủng hoảng nợ sẽ bao
gồm 2 sự kiện đó là vỡ nợ nước ngoài và vỡ nợ trong nước. Vỡ nợ nước ngoài được
định nghĩa là khi Chính phủ thất bại trong việc trả nợ lãi hoặc nợ gốc đúng hạn với
các chủ nợ nước ngoài. Và nó còn bao gồm cả việc tái cơ cấu nợ nhưng với các điều
khoản ít thuận lợi hơn so với các điều khoản ban đầu. Vỡ nợ trong nước liên quan
đến sự kiện đóng băng các khoản tiền gửi ngân hàng và/hoặc bắt buộc các khoản
tiền gửi đó phải chuyển đổi từ đồng dollar sang đồng bản tệ
12
.
1.1.2 Nguyên nhân
Nhìn chung, khi quan sát lịch sử và diễn biến của nhiều cuộc Khủng hoảng nợ
trên thế giới
13
, chúng ta có thể đúc kết được một số nguyên nhân cơ bản sau.
Chính sách tỉ giá cố định cứng nhắc
Nhiều quốc gia lâm vào Khủng hoảng nợ đều có chung một lịch sử đó là: duy
trì tỉ giá hối đoái cố định một cách cứng nhắc theo USD trong một thời gian dài.
Chính sách này tạo ra hai rủi ro: Thứ nhất, khi đồng USD tăng giá, đồng bản tệ
được định giá theo USD cũng sẽ tăng giá theo. Điều này dẫn đến xuất khẩu trì trệ và 10
hoảng nợ trong nước. Thực tiễn đã chứng minh rất nhiều ví dụ như vậy, chẳng hạn
cuộc Đại khủng hoảng 1929-1933, bắt đầu từ Hoa Kỳ, đã nhanh chóng lan ra trên
toàn cầu. Hậu quả của nó là gần 50% các quốc gia trên thế giới bị lâm vào tình trạng
vỡ nợ hoặc phải tái cơ cấu nợ với các chủ nợ nước ngoài trong suốt những năm
1934-1939 tiếp sau
14
. Hay sự tăng giá dầu lửa trong những năm 1979-1981 và sự
tăng lãi xuất cho vay trên thế giới trong những năm 1979-1983 cũng đã trực tiếp tạo
ra cuộc Khủng hoảng nợ ở các quốc gia Mỹ Latin 1982. Gần đây nhất là cuộc
Khủng hoảng nợ dưới chuẩn ở Mỹ năm 2008, đã tác động không nhỏ đến nền kinh
tế châu Âu và góp phần tạo ra cuộc Khủng hoảng nợ công châu Âu năm 2010 kéo
dài cho đến hiện nay. Cơ chế chung của các cuộc Khủng hoảng nợ như thế này đều 14
Reinhart và Rogoff (2010).
7
là: Các quốc gia đi vay quá phụ thuộc vào các dòng vốn nước ngoài, dẫn đến vay nợ
ở mức cao. Khi cú sốc xảy ra, các nguồn thu của chính phủ, đặc biệt là xuất khẩu,
giảm mạnh khiến khả năng trả nợ cũng giảm theo. Ngoài ra, cú sốc tạo ra tâm lý
hoang mang cho các nhà đầu tư nước ngoài, khiến họ đồng loạt rút vốn ra khỏi các
thị trường, hoặc tăng lãi suất cho vay. Hai điều trên xảy ra đồng thời khiến chính
phủ quốc gia đi vay không thể kịp thời điều tiết, dẫn đến buộc phải tuyên bố vỡ nợ
hoặc cầu cứu IMF.
Chính phủ lạm dụng vay nợ
Khi phải đối diện với tình trạng thâm hụt ngân sách, chính phủ các quốc gia trên
thế giới thường có ba phương án chính để đối phó: giảm chi tiêu chính phủ, tăng
thuế hoặc tăng vay nợ. Thông thường, việc giảm chi tiêu chính phủ là rất khó khăn
. Điều này trực tiếp làm
ảnh hưởng đến nền kinh tế và làm tăng rủi ro vỡ nợ quốc gia. Thứ ba, mức nợ cao
cũng có thể khiến quốc gia bị hạ bậc tín nhiệm trên thị trường. Việc bị hạ bậc tín
nhiệm làm cho việc đi vay của chính phủ thêm khó khăn (do lãi suất đi vay tăng lên
hoặc thậm chí không thể vay thêm được nợ mới), hoặc trường hợp xấu hơn là các
nhà đầu tư rút vốn ra khỏi thị trường. Cả hai điều này đều có thể đẩy một quốc gia
lâm vào tình trạng vỡ nợ.
Hiện tượng “Không dung nạp nợ” (Debt intolerance)
Như đã đề cập ở trên, mức nợ cao là một trong những nguyên nhân chính tạo ra
rủi ro Khủng hoảng nợ của quốc gia. Tuy nhiên trong cuộc khảo sát trên các quốc
gia có thu nhập trung bình trong giai đoạn 1970-2008, Reinhart và Goroff
17
đã chỉ
ra rằng: 51.7% các quốc gia vỡ nợ hoặc phải tái cơ cấu nợ khi nợ chỉ mới đạt ở mức
dưới 60% GNP. 60% GNP là một mức nợ trung bình, không phải là cao nếu so sánh
với mức nợ ở các nước phát triển và chưa vỡ nợ tại cùng thời điểm (ví dụ Nhật bản
là 170% GNP). Thậm chí có những quốc gia vỡ nợ hoặc phải tái cơ cấu nợ khi mức
nợ còn nằm trong vùng an toàn, như Chi-lê năm 1972 (31.1% GNP), Ecuador năm
2008 (20.0% GNP) hay Albani năm 1990 (16.6% GNP). Để lý giải cho nghịch lý
này, Reinhart et al
18
đã đưa ra khái niệm “không dung nạp nợ” (debt
intolerance)-đề cập đến sự trì trệ mà nhiều nền kinh tế mới nổi phải trải qua khi nợ
nước ngoài mới chỉ đạt đến mức “an toàn” (an toàn ở đây là mức vẫn còn dễ dàng
quản lý được đối với các quốc gia phát triển). Theo Reinhart, các quốc gia “không 16
Theo các bằng chứng thực nghiệm của: Bauerfreund (1989), Geiger (1990), Afxentiou (1993), Cunnigham
chúng sẽ có thể tạo ra rủi ro vỡ nợ. Có thể chỉ ra rất nhiều ví dụ cho việc chính phủ
sẽ phải gánh chịu rủi ro lớn khi nợ ẩn phát sinh như: Chính phủ Mỹ (2007) bảo lãnh
hai tập đoàn Fannie Mae và Freddie Mac (bảo lãnh công khai); Thái Lan (1997) che
dấu khoản lỗ lớn do đã can thiệp quá sâu vào thị trường hối đoái kỳ hạn (nợ ngoại
bảng tạo ra từ thị trường chứng khoán phát sinh); Hy Lạp (2008), dưới sự giúp đỡ
của Goldman Sachs, che dấu khoản thâm hụt ngân sách hơn 12% do đã tài trợ cho
khoản lỗ của các doanh nghiệp quốc doanh (bảo lãnh ngầm); Khủng hoảng tài chính
châu Á (1997) với khoản nợ khu vực tư chuyển thành nợ công chiếm tới 34.8% 19
Carment Reinhart và Keneth Rogoff, “From financial crash to debt crisis”, National Bureau of Economic
Research, năm 2010.
10
tổng số nợ. Hay theo như Laeven và Valencia
20
, chi phí của chính phủ cho việc
đương đầu với các cuộc khủng hoảng ngân hàng phát sinh trong 3 thập kỷ vừa qua
lên tới 16% GDP (nợ ẩn phát sinh). Nhìn chung, lịch sử các cuộc Khủng hoảng nợ
hầu hết đều ghi nhận sự xuất hiện đột biến của nợ ẩn như một trong cách tác nhân
gây ra khủng hoảng. Chúng ta, dù không thể ước đoán chính xác bao nhiêu và khi
nào một khoản nợ ẩn sẽ phát sinh trong tương lai, cũng nên tạo ra các không gian
dự phòng cho các khoản nợ này. Chẳng hạn việc cố gắng duy trì thặng dư ngân sách
sau mỗi năm tài khóa cũng là một trong những biện pháp tốt giúp giảm thiểu rủi ro
của những khoản nợ ẩn đột biến trong tương lai.
Một số nguyên nhân khác
Ngoài những nguyên nhân chính và và phổ biến đã đề cập ở trên, Khủng hoảng
nợ còn có thể bị gây ra bởi những nguyên nhân khác, gián tiếp và ít quan trọng hơn,
nguyên tắc sau: Các quốc gia kém và đang phát triển thường có nhu cầu vay nợ cao
(đầu tư, chi tiêu, nhập khẩu hàng hóa,… ). Tuy nhiên, do đồng bản tệ của họ là
đồng tiền yếu, nên khi thanh toán các khoản nợ với nước ngoài, họ buộc phải chi trả
bằng ngoại tệ mạnh. Nguồn thu ngoại tệ từ việc xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ của các
quốc gia kém và đang phát triển thường rất hạn chế vì giá trị và sức cạnh tranh thấp.
Thêm nữa họ cũng không thể phá giá đồng tiền để kích thích xuất khẩu vì như vậy
sẽ làm cho giá trị các khoản nợ nước ngoài cũng tăng lên tương ứng. Như vậy các
quốc gia này không còn cách nào khác đành phải vay thêm nợ mới để trả nợ cũ.
Đây chính là nguyên nhân tạo ra rủi ro vỡ nợ.
-Sự bất ổn của các nhân tố vĩ mô: Sự bất ổn của các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng
đến rủi ro Khủng hoảng nợ theo hiệu ứng dây chuyền. Chẳng hạn, khi giá cả hàng
hóa trên thế giới tăng, sẽ khiến giá trị hàng hóa nhập khẩu vào quốc gia đó cũng
tăng theo. Điều này góp phần tạo nên lạm phát trong nước. Khi lạm phát trở nên quá
cao và khó kiểm soát sẽ tạo áp lực trượt giá lên đồng bản tệ. Chính phủ, vì những lý
do chính trị và kinh tế riêng, quyết định bán ra dự trữ ngoại hối để ổn định tỉ giá,
tránh đồng tiền trượt giá quá sâu. Điều này góp phần làm giảm lượng dự trữ ngoại
hối quốc gia, khiến rủi ro thanh khoản tăng lên. Ngoài ra, nhiều nhân tố vĩ mô tuy
không phải là nguyên nhân gây ra khủng hoảng, nhưng cũng có thể được sử dụng
như những chỉ báo trước cho một cuộc khủng hoảng, vì hiệu ứng dây truyền như
trên. Chẳng hạn, theo Reinhart
23
, khi các dòng vốn vay nợ nước ngoài đổ vào một
quốc gia một cách hào phóng, các ngân hàng trong nước sẽ có xu hướng cho vay nợ 22
Barry Eichengreen, Ricardo Hausmann và Ugo Panizza, “Original sin: the pain, the mystery, and the road
to redemption”, Financial Policy Forum, năm 2002.
23
Carmen Reinhart và Kenneth Rogoff, “A decade of debt”, Policy Analyses in International Economics,