Phát triển kinh tế hàng hóa vùng đầm phá ở tỉnh Thừa Thiên - Huế - Pdf 41

Header Page 1 of 166.

LUẬN VĂN:

Phát triển kinh tế hàng hóa vùng đầm
phá ở tỉnh Thừa Thiên - Huế

Footer Page 1 of 166.


Header Page 2 of 166.
Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Vùng đầm phá ở tỉnh Thừa Thiên - Huế có diện tích là 22.000 ha với chiều dài 68
km được cấu thành bởi các phần lãnh thổ của 5 huyện với 31 xã. Bờ Đông phá là cồn cát
ngăn cách đầm phá với biển Đông và bị gián đoạn qua 5 cửa biển: Hải Dương, Thuận An,
Hòa Duân (đã được nhà nước lấp cửa lại vào tháng 8/2000), Tư Hiền và Vinh Phong
(trong đó có ba cửa mới được mở trong đợt lụt 1999). Bờ Tây tiếp xúc với các cánh đồng
lúa và ba cửa sông lớn là: sông Ô Lâu, sông Bồ và sông Hương nên được gọi là vùng đầm
phá Tam Giang. Đây là vùng đầm phá lớn nhất khu vực Đông Nam á. Vùng đầm phá Tam
Giang có nguồn lợi thủy sản phong phú với 12 loài tôm, 18 loài cua, 233 loài cá (trong đó
có 20 - 23 loài được coi là có giá trị kinh tế cao). Sản lượng khai thác bình quân hàng năm
là 2.500 tấn, cùng với sản lượng nuôi trồng và khai thác trên biển đã đóng góp gần 50%
toàn bộ kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Vùng đầm phá còn có vai trò to lớn đối với nghề
nuôi trồng thủy sản, là vị trí chiến lược giao thông, du lịch quan trọng, là nơi sinh sống của
trên 30% dân số Thừa Thiên - Huế. Nhưng theo điều tra của nhiều nhà nghiên cứu thì đa
số dân cư vùng đầm phá này đều thuộc diện nghèo đói. Đời sống của dân cư nói chung còn
gặp nhiều khó khăn thu nhập thấp và bấp bênh, các mặt khác của đời sống kinh tế xã hội
như: văn hóa, giáo dục, y tế... còn rất lạc hậu thậm chí còn xuống cấp. Cũng chính những
điều đó lại tác động tiêu cực đến việc bảo vệ, khai thác, quản lý các nguồn lực kinh tế vốn


cứu

vùng

đầm

phá

Thừa

Thiên - Huế.
- Luận chứng "Bảo vệ tự nhiên đất ngập nước đầm phá Tam Giang - Cầu Hai tỉnh
Thừa Thiên - Huế" của ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế tháng 10/ 1998. Do Sở
Khoa học, công nghệ và môi trường thực hiện.
- Dự án "Nghiên cứu quản lý nguồn lợi sinh học hệ đầm phá Tam Giang" của tổ
chức IDRC Canađa tài trợ do Đại học Huế thực hiện.
- Chuyên đề "Điều tra phương tiện, công cụ khai thác biển và đầm phá" của ủy
ban nhân dân tỉnh do Sở Thủy sản thực hiện.
- Hội thảo khoa học về "Đầm phá Thừa Thiên - Huế" do Bộ Khoa học công nghệ môi trường, Trung tâm Khoa học tự nhiên và Bộ Thủy lợi phối hợp tổ chức.
- Chuyên đề "Điều tra đánh giá hiện trạng khai thác đầm phá" của ủy ban nhân
dân tỉnh Thừa Thiên - Huế.
- Đề án "Định canh định cư dân đầm phá tỉnh Thừa Thiên - Huế thời kỳ 1996 2000" của Sở Thủy sản Thừa Thiên - Huế.
- "Quản lý nguồn lợi thủy sản hệ đầm phá Tam Giang" của Nguyễn Quang Vinh
Bình, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế 1996.
Và nhiều đề tài khác của Đại học Huế, Viện Hải dương học Hải Phòng, Nha
Trang, Đại học Thủy lợi Hà Nội đã nghiên cứu. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu đó
chủ yếu mới chỉ đề cập đến một khía cạnh cụ thể của đầm phá hoặc nặng về nghiên cứu
ứng dụng, hoặc về nghiên cứu triển khai, hoặc về quản lý. Cho đến nay chưa có một công
trình nào nghiên cứu một cách tổng thể về thực trạng và hệ thống các giải pháp nhằm phát

và các vấn đề liên quan đến kinh tế.
Luận văn được nghiên cứu từ góc độ kinh tế chính trị học, sử dụng hệ thống các
phương pháp: phân tích và tổng hợp, lôgíc, lịch sử và phương pháp so sánh... Ngoài ra,

Footer Page 4 of 166.


Header Page 5 of 166.
luận văn còn sử dụng một số phương pháp đặc thù như thống kê, mô hình hóa, điều tra
khảo sát thực tế nhằm làm sáng tỏ các vấn đề đặt ra.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Nghiên cứu một cách tổng thể thực trạng kinh tế - xã hội, đề xuất những giải pháp
có tính khả thi phù hợp với hoàn cảnh đặc thù của vùng đầm phá Thừa Thiên - Huế.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm phần mở đầu, 3 chương 6 tiết, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục.

Footer Page 5 of 166.


Header Page 6 of 166.
Chương 1
Lý luận về kinh tế hàng hóa vùng và sự cần thiết
phát triển kinh tế hàng hóa vùng đầm phá
ở tỉnh Thừa Thiên - Huế

1.1. Lý luận về kinh tế hàng hóa vùng
1.1.1. Khái niệm kinh tế hàng hóa vùng, kinh tế hàng hóa vùng đầm phá
Thừa Thiên - Huế
Mỗi quốc gia là sự hợp thành của các lãnh thổ địa phương khác nhau. Mỗi nền

tức là loại lúa chủ yếu để xuất khẩu. Với diện tích đất trồng lúa mì chiếm "37,6% đến
58,8%" [28, 312]. Theo Lênin việc xác định vùng kinh tế trong điều kiện cụ thể của nước
Nga Xô viết, với qui mô đang được nói đến là kinh tế miền Nam, có thể căn cứ vào nguyên
tắc kinh tế chuyên môn hóa gắn với tính chất thương phẩm của các ngành kinh tế và đồng
thời cũng căn cứ vào trình độ phát triển kinh tế được xác định trong vùng. Chung quy lại là
việc phân định vùng kinh tế căn bản dựa trên nguyên tắc kinh tế, không phụ thuộc vào địa
giới lịch sử hành chính. Các tỉnh khác nhau nhưng có điều kiện phát triển sản xuất những
loại hàng hóa giống nhau tạo thành vùng kinh tế hàng hóa.
Đặc thù của mỗi vùng kinh tế là cơ sở phát triển riêng có của vùng đó như tài
nguyên, nhân văn, tỷ trọng khác nhau giữa các ngành hay tiểu vùng. Mức độ tương đồng
nhất định về cơ cấu kinh tế của mỗi vùng được bố trí phù hợp với sự phân công và chuyên
môn hóa chung trong nền kinh tế lại tạo nên những tiền đề của mối liên hệ giữa các vùng,
là cơ sở của mối liên kết, ràng buộc lẫn nhau của các vùng. Sự khác nhau giữa các vùng
kinh tế chủ yếu là ở những hoạt động kinh tế đặc thù nhất định của vùng, làm cho mỗi
vùng hoàn toàn không đồng nhất với các vùng khác: "Chúng ta nói sang một miền khác rất
quan trọng của CNTB nông nghiệp ở Nga, tức là: miền ở đó không phải ngũ cốc chiếm ưu
thế, mà sản phẩm chăn nuôi chiếm ưu thế... Năng suất của súc vật ở đây là nhằm phục vụ
công nghiệp sữa và toàn bộ nông nghiệp đều nhằm đạt được thật nhiều sản phẩm hàng hóa
thật quý thuộc loại đó" [28, 319]. Trạng thái phát triển đặc thù trong phân công lao động
xã hội đã quy định tính độc lập của các vùng chỉ ở mức độ tương đối. Chính đặc điểm
thống nhất nhưng không đồng nhất này là yếu tố căn bản, quyết định các vùng trở thành
các tiểu hệ thống trong hệ thống chung của nền kinh tế.
Là tiểu hệ thống nên mỗi vùng cũng có cấu trúc hệ thống riêng đặc thù, bao gồm
các tiểu vùng, hợp thành từ các địa phương với những đặc điểm và điều kiện phát triển trên
cùng không gian vùng, song lại có những dị biệt nhất định, hoặc về tài nguyên sinh thái

Footer Page 7 of 166.


Header Page 8 of 166.

Footer Page 8 of 166.


Header Page 9 of 166.
loại vùng trọng điểm hay vùng chương trình. Vùng này nằm trong quy hoạch chiến lược
phát triển dài hạn của đất nước, là trung tâm có tác dụng thúc đẩy các vùng khác trong
tổng thể nền kinh tế phát triển. Vùng chương trình có thể là vùng phát triển toàn diện các
ngành kinh tế, nhưng cũng có thể lựa chọn các ngành mũi nhọn cho từng giai đoạn phát
triển của vùng phù hợp với nhu cầu của quốc gia. Các quan điểm khác xem xét mối tương
quan giữa thành thị và nông thôn lại phân chia vùng kinh tế thành thị và vùng kinh tế nông
thôn ngoại vi, theo đó ngoại vi được bố trí trong chiến lược phát triển đô thị và phục vụ
cho quá trình đô thị hóa...
Qua sự phân tích lý luận về kinh tế vùng trên đây theo chúng tôi có thể rút ra một
số điều kiện phân định vùng kinh tế là:
- Một lãnh thổ có các điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý tương đồng nhau.
- Trình độ phát triển kinh tế tương đối đồng nhất trong địa bàn.
- Có đặc trưng của các nguồn lực phát triển tương đồng nhau.
- Các nhóm xã hội và xu hướng vận động của các nhóm xã hội. Quan hệ kinh tế
của các nhóm xã hội, của các doanh nghiệp, của các đơn vị hành chính... có tác dụng thúc
đẩy hay kìm hãm sự phát triển của các vùng lân cận.
- Đặc trưng khác biệt của vùng với các vùng khác.
- Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của vùng.
Như vậy, có thể hiểu vùng kinh tế (hay tiểu vùng kinh tế) là một lãnh thổ có điều
kiện tự nhiên và vị trí địa lý tương đồng nhau, có các nguồn lực phát triển tương đồng
nhau với trình độ phát triển kinh tế tương đối đồng nhất, có các nhóm xã hội quan hệ với
nhau có tác dụng thúc đẩy kinh tế của vùng và của các vùng lân cận.
Đối với nước ta sau khi giành chính quyền đất nước được phân định thành các liên
khu, phù hợp với điều kiện quản lý hành chính và kinh tế trong thời gian đó. Sau khi hòa
bình được lập lại yêu cầu của công cuộc khôi phục đất nước và phát triển nền kinh tế đã
đặt ra nhiệm vụ xác định nhu cầu và năng lực phát triển của đất nước trên từng vùng lãnh

thể của cả nước. Vì vậy trên thực tế chính phủ đã tiến hành tổ chức nền kinh tế trên quy
mô lãnh thổ bao gồm tám vùng: 1. Vùng Tây Bắc, 2. Vùng Đông Bắc, 3. Vùng đồng bằng
sông Hồng, 4. Vùng Bắc Trung bộ, 5, Vùng Nam Trung Bộ, 6. Vùng Tây Nguyên, 7. Vùng
Đông Nam Bộ, 8. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Dự thảo các văn kiện trình Đại hội IX của Đảng đã nêu định hướng phát triển các
vùng lãnh thổ theo 6 vùng, đó là:
1- Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ
2- Đồng bằng sông Hồng và vùng trọng điểm Bắc Bộ.

Footer Page 10 of 166.


Header Page 11 of 166.
3- Duyên hải Trung Bộ và vùng trọng điểm miền Trung.
4- Vùng Tây Nguyên.
5- Vùng miền Đông Nam Bộ và trọng điểm phía Nam.
6- Đồng bằng sông Cửu Long.
Từ năm 1993 bắt đầu một giai đoạn mới về phát triển kinh tế vùng ở nước ta. Về
quy mô, thời gian và không gian tất cả các vùng kinh tế này đều đồng thời được tiến hành
xây dựng quy hoạch phát triển tổng thể, thực hiện các cuộc điều tra cơ bản và toàn diện để
lập nên các căn cứ khoa học và thực tiễn cho quá trình đầu tư phát triển kinh tế vùng. Việc
xây dựng chiến lược phát triển kinh tế đất nước, trong đó có kinh tế vùng không chỉ là
những nỗ lực quan trọng của công tác quản lý và chỉ đạo phát triển kinh tế nói chung, mà
thực sự là bước nhảy vọt trong lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế vùng. Quá trình phân
vùng đã chú trọng đến các chỉ tiêu giá trị theo tính chất đặc thù về kinh tế sinh thái và nhân
văn của mỗi vùng để tiếp tục nâng cao trình độ chuyên môn hóa theo quy mô vùng. Lần
đầu tiên trong nền kinh tế Việt Nam đã xuất hiện các vùng kinh tế phát triển trọng điểm
(còn gọi là các tam giác tăng trưởng) đó là:
1. Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.
2. Thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hòa - Bà Rịa Vũng Tàu.

một tạo hình thủy vực độc đáo được coi như một vụng biển ven bờ biển nhiệt đới ẩm, gồm
bốn yếu tố cấu thành: Vực nước, cồn cát, cửa biển, và các cửa sông chính đổ vào đầm phá.
Vận dụng tư tưởng của Lênin về kinh tế vùng và từ các cách tiếp cận ở các góc độ
khác nhau cho thấy vùng đầm phá Thừa Thiên - Huế cũng có các đặc trưng của một vùng
kinh tế, do vậy nó có đủ các nhân tố hình thành một tiểu vùng kinh tế hàng hóa, là một bộ
phận của kinh tế xã hội tỉnh Thừa Thiên - Huế đầm phá có giới hạn trong một khu vực địa
lý riêng biệt mang tính đặc thù. Vì vậy, theo chúng tôi, vùng kinh tế đầm phá Tam Giang
có các đặc trưng của một tiểu vùng kinh tế hàng hóa: đó là một lãnh thổ trong vùng kinh tế
biển miền Trung thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế, có điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý thuận
lợi cho phát triển kinh tế hàng hóa vùng đầm phá mang tính chất của vùng biển và đồng
bằng. Đặc trưng của nguồn lực phát triển kinh tế là thủy sản. Nó được hình thành tổng hợp
từ các loại hình kinh tế phổ biến là kinh tế hợp tác và cá thể tiểu chủ tự chủ trong hoạt
động sản xuất kinh doanh. Đồng thời, tác động qua lại lẫn nhau thúc đẩy sự phát triển của
vùng đầm phá và của các vùng lân cận cũng như nền kinh tế của tỉnh Thừa Thiên - Huế.
1.1.2. Những nhân tố tác động đến sự phát triển kinh tế hàng hóa vùng đầm
phá Thừa Thiên - Huế
Thừa Thiên - Huế là tỉnh có vị thế địa lý quan trọng, là một trong bốn tỉnh nằm
trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm của miền Trung và nằm ở trung độ của cả nước.
Có đường quốc lộ số 1 và đường sắt quốc gia đi qua nối hai miền Nam Bắc; nằm trên dải
đất hẹp với chiều dài 127 km, chiều rộng trung bình 60 km, với các dạng địa hình rừng
núi, gò đồi, đồng bằng, đầm phá và biển... Trong đó rừng núi chiếm 70% diện tích tự
nhiên. Địa hình phức tạp thấp dần từ Tây sang Đông và bị chia cắt mạnh, phần phía Tây
của tỉnh chủ yếu là núi đồi, tiếp đến là lưu vực của các con sông tạo nên các bồn trũng
đồng bằng, ven biển nhỏ hẹp và vùng đầm phá rộng lớn với diện tích 22.000 ha. Có cửa
biển và cảng Thuận An, có vịnh Chân Mây với độ sâu 10 - 14 m có khả năng xây dựng
cảng biển nước sâu cho khu vực miền Trung. Huế có sân bay Phú Bài thuận lợi cho giao
lưu trong cả nước và quốc tế.

Footer Page 14 of 166.


nông
nghiệp

tích mặt
Đất lâm

nước

nghiệp

nuôi
trồng

Đất

Đất

chuyên chưa sử
dùng

dụng

thủy sản
Cả nước
- Số tuyệt 32.835.9 732.842, 6.342.69 12.055.2 318.342, 1.218.62 12.168.2
đối (ha)

64

9


7

- Cơ cấu

100

8
2,5

11,6

42,5

0,3

3,6

(%)
Thừa
Thiên Huế
- Số tuyệt 454.945 9.088,4 41.306,2 214.474

Footer Page 15 of 166.

854,2

15.214 174.008,

Huế

trong đó có 35 - 40 loài có giá trị kinh tế cao. Trữ lượng khai thác hàng năm 30 - 40 nghìn
tấn. Thừa Thiên - Huế có ưu thế nuôi trồng thủy sản với diện tích 22.000 ha mặt nước
vùng đầm phá có khả năng đánh bắt và nuôi trồng nhiều loại thủy sản có giá trị kinh tế cao
như tôm sú, tôm bạc, cua, sò huyết, vẹm xanh... có rong câu chỉ vàng là nguồn nguyên liệu
phong phú cho công nghiệp chế biến agar.
Từ năm 1996 đến nay nền kinh tế của tỉnh tiếp tục giữ được nhịp độ tăng trưởng.
Tổng sản phẩm xã hội thời kỳ 1996 - 2000 tăng 35,4% (nhưng do thiệt hại của trận lụt lịch
sử cuối năm 1999 nên bình quân mỗi năm chỉ đạt 6,3%). Hầu hết các ngành và các thành
phần kinh tế đều có mức tăng trưởng khá. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 289 USD
năm 1995 lên 378 USD năm 2000, gấp 1,7 lần so với năm 1990 (chưa đạt so với kế hoạch
năm 2000 thu nhập bình quân là 460 USD). Những nhân tố phát triển kinh tế hàng hóa của
tỉnh trong các ngành nghề được thể hiện:
- Công nghiệp: Chiếm 32,7% trong GDP năm 2000, tăng 6,3% so với năm 1995.
Giá trị sản xuất tăng bình quân hàng năm 17,1%, đóng góp 60% tổng thu ngân sách. Một
số ngành có lợi thế so sánh được chú trọng đầu tư tạo năng lực sản xuất mới, phát triển quy
mô đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng, mở rộng thị trường tiêu thụ.

Footer Page 16 of 166.


Header Page 17 of 166.
- Nông nghiệp: Bao gồm nông - lâm - thủy sản chiếm 22,3% trong GDP, giảm
8,2% so với năm 1995. Giá trị xuất khẩu tăng 1,7% năm. Cơ cấu cây trồng, vật nuôi đã
chuyển dịch ổn định theo hướng sản xuất hàng hóa.
- Du lịch - dịch vụ: Năm 1995 chiếm tỷ trọng 43,1%, tăng lên 45% năm 2000. Đây
là ngành Thừa Thiên - Huế có thế mạnh, cơ sở vật chất dịch vụ du lịch được tăng cường
các loại hình du lịch ngày càng đa dạng, hấp dẫn như: du lịch sinh thái, du lịch nhà vườn,
du lịch nghỉ dưỡng, du lịch lễ hội ... Thương mại - dịch vụ tiếp tục phát triển đa dạng, bảo
đảm nhu cầu phục vụ sản xuất và đời sống.
Các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển đúng hướng, nền kinh tế chuyển mạnh

đều được tăng cường.
Văn hóa - xã hội là nhân tố không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế hàng
hóa. Vì vậy trong những năm vừa qua tỉnh đã tập trung phát triển sự nghiệp giáo dục cả về
quy mô, chất lượng, hình thức đào tạo và cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu học tập ngày
càng lớn của nhân dân. Các trung tâm y tế huyện, xã được xây dựng và nâng cấp. Công tác
dân số kế hoạch hóa gia đình được triển khai thực hiện tốt, tỷ lệ tăng dân số năm 1999 đạt
1,78%. Hoạt động văn hóa thông tin có nhiều đóng góp tích cực trong việc tuyên truyền
đường lối đổi mới của Đảng, xây dựng nền văn hóa mới như: làng văn hóa, bưu điện văn
hóa xã, gia đình văn hóa mới, cụm dân cư không có người sinh con thứ ba ... Khơi dậy và
phát huy truyền thống nhân ái giúp đỡ nhau trong những khi hoạn nạn thiên tai. Chương
trình xóa đói giảm nghèo được triển khai mạnh mẽ, tỷ lệ đói nghèo giảm từ 23,5% năm
1996 xuống 17% năm 1999. Giải quyết việc làm cho 12000 lao động/năm, trong đó kinh tế
tư nhân và hợp tác chiếm 90%. Công tác chăm sóc người có công, các hoạt động đền ơn
đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn được quan tâm thu hút sự tham gia rộng rãi của các cơ
quan, đoàn thể và toàn dân. Các hoạt động từ thiện đem lại kết quả thiết thực. Việc cứu
nạn, cứu trợ đồng bào bị thiên tai trong cơn lũ 1999 được quan tâm kịp thời có hiệu quả.
Những nhân tố trên đây đã tác động rất mạnh đến quá trình phát triển kinh tế hàng
hóa của tỉnh nói chung và kinh tế vùng đầm phá Thừa Thiên - Huế nói riêng. Kinh tế vùng
đầm phá chịu ảnh hưởng chi phối rộng lớn của cơ cấu kinh tế của tỉnh. Sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của tỉnh có xu hướng tốt, bước đầu phát huy được thế mạnh của tỉnh, góp phần
thu hút lao động, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Trong đó, dân cư
vùng đầm phá cũng được giải quyết một phần cơ bản. Doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò
tác động thúc đẩy kinh tế vùng đầm phá như: xây dựng hạ tầng cơ sở, tài chính, tín dụng,
điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt, khoa học kỹ thuật, cơ sở vật chất cho giáo dục đào tạo,
văn hóa, y tế, thể dục thể thao... tạo điều kiện cho kinh tế hàng hóa vùng phát triển.

Footer Page 18 of 166.


Header Page 19 of 166.


Footer Page 19 of 166.


Header Page 20 of 166.
hợp nhiều thành phần gồm dòng chảy sông, dòng chảy gió và các dòng triều phân với tốc
độ và hướng thay đổi theo mùa. Sự trao đổi nước giữa đầm phá và biển qua cửa biển thay
đổi phức tạp theo mùa tác động đến các yếu tố thủy hóa của toàn vùng. Vùng cửa sông gần
như ngọt về mùa mưa và không còn phân tầng, độ muối trong khoảng 0,02% - 0,2% và lợ
về mùa khô khoảng 1,3% - 11,4%. Vùng lòng chảo đầm phá có độ muối cao hơn và phân
tầng về mùa khô. Độ muối trong khoảng 18,2% - 24,1% (tầng mặt), 22,2% - 25,4% (tầng
đáy) và về mùa mưa 3,4% - 11,9% (tầng mặt) và 5,2% - 12,1% (tầng đáy). Vùng cửa phá
27,2% - 32,4% (tầng mặt) và 29,4 - 32,3% (tầng đáy) vào mùa khô. Còn mùa mưa 15,1% 22,6% (tầng mặt), 23,2% - 23,5% (tầng đáy). Độ muối cao nhất ở cửa phá và thấp nhất ở
cửa sông.
- Về nguồn lợi thủy sản: vùng đầm phá là nơi giàu nguồn lợi thủy sản và tài
nguyên khác. Khu hệ cá đầm phá Tam Giang phong phú và đa dạng với 233 loài cá thuộc
125 giống, 62 họ khác nhau chúng gồm có ba nhóm sinh thái: Nhóm cá biển chiếm 65%
tổng số loài
Nhóm cá nước lợ khoảng 19,3% số loài
Nhóm cá nước ngọt chiếm 15,7% số loài.
Nguồn lợi này cho sản lượng cao và có thể đánh bắt quanh năm(như bộ cá trích, cá
mối, cá đồi, cá dìa, cá chép, cá dầy, cá bống, cá song, cá hồng, cá khế, cá liệt ...). Cá đầm
phá không to bằng cá biển nhưng ngon nên được tiêu thụ mạnh và một số loài đang là đối
tượng thủy sản xuất khẩu.
Vùng đầm phá có 12 loài tôm thuộc 3 họ trong đó có nhiều loài có giá trị cao như
tôm sú, tôm bạc, tôm rằn, tôm đất ... có thể khai thác quanh năm đặc biệt là tháng tư và
tháng chín. Ngoài cá và tôm vùng đầm phá còn có cua, trai, vẹm xanh, sò huyết... có giá trị
kinh tế cao.
Vùng đầm phá Tam Giang có 73 loài chim trong đó có 34 loài di cư và 39 loài
định cư trong đó có 28 loài có giá trị kinh tế cao, 25 loài được ghi trong danh mục bảo vệ

huyện Phú Lộc có 3.304 dân cư thủy diện. Thực tế cho thấy ngư dân thủy diện đầm phá là
những người có tín ngưỡng và tâm linh sâu đậm hướng vào nghề đánh bắt trên đầm phá.
Với những trắc ẩn của thiên nhiên vốn chứa đựng nhiều yếu tố thần linh, vô hình, siêu
hình... trình độ dân trí thấp, đa số mù chữ, trẻ em thất học nhiều, dân số tăng nhanh, các tệ
nạn xã hội phát triển. Những năm vừa qua chương trình phổ cập giáo dục tiểu học đã được
triển khai ở hầu hết các xã, tuy nhiên vẫn còn hạn chế. Dân cư đầm phá Thừa Thiên - Huế

Footer Page 21 of 166.


Header Page 22 of 166.
nói riêng và dân cư Huế nói chung cuộc sống ảnh hưởng tư tưởng của Nho giáo và Phật
giáo từ bao đời nay. Văn hóa làng, xã với nếp sống truyền thống luôn tôn vinh quá trình
giáo dưỡng cho nhân dân đạo lý làm người, có ý thức tôn sư trọng đạo, xây dựng thực hiện
kỷ cương gia đình và xã hội. Vùng đầm phá có lợi thế về giao thông nhưng chưa khai thác
được cho nên việc đi lại của dân còn cách trở dẫn đến tình trạng yếu kém về trình độ văn
hóa, mức sống của dân cư trong vùng nói chung còn thấp và không đồng đều giữa các khu
vực, điều kiện hưởng thụ văn hóa thấp, tỷ lệ mù chữ cao so với toàn tỉnh. Nhìn chung, đời
sống văn hóa, tinh thần của dân cư vùng đầm phá còn nghèo nàn lạc hậu. Tình hình an
ninh trật tự an toàn xã hội vùng đầm phá tương đối ổn định. Tuy nhiên, số người vượt biên
khá lớn sau năm 1975, hiện nay hồi hương trở về ngày càng đông. Trên địa bàn có nhiều
hoạt động viện trợ nhân đạo, hoạt động từ thiện... của các tổ chức phi chính phủ, tổ chức
tôn giáo ở quy mô nhỏ; trong đó có cả việc vận động dân cư đi chùa, đi nhà thờ ngày càng
nhiều.
Về hệ thống giao thông phát triển ở cấp huyện, vùng đầm phá chủ yếu là đường
cấp phối liên thôn liên xã. Điện lưới về hầu hết các xã trong các huyện, trên thực tế chỉ
khoảng 45% - 50% dân số các xã dùng điện cho sinh hoạt và sản xuất thấp hơn mức chung
của cả tỉnh. Nguồn nước ngọt cho sinh hoạt rất khó khăn trong mùa hè. Thông tin liên lạc
còn hạn chế tuy nhiên các trung tâm dân cư ven biển và đầm phá đều có trung tâm bưu
chính viễn thông. Hệ thống cơ sở chăm sóc sức khỏe cộng đồng trên toàn vùng đã được

của giá cả và quan hệ cung cầu hàng hóa ở thị trường. Vì vậy tìm kiếm thị trường tiêu thụ
sản phẩm hết sức quan trọng. Mặt khác thông qua thị trường đòi hỏi người sản xuất luôn
phải cải tiến kỹ thuật tăng năng suất lao động từ nuôi trồng, đánh bắt đến chế biến sản
phẩm, từ đó giảm giá thành sản phẩm hàng hóa. Các yếu tố của quá trình sản xuất có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau, nếu ách tắc ở yếu tố nào đó sẽ dẫn đến thiệt hại lớn, vì do đặc
điểm của sản phẩm là sản phẩm tươi sống.
Thứ hai, mối quan hệ giữa các ngành tạo điều kiện cho kinh tế hàng hóa vùng đầm
phá phát triển. Trước đây dân cư đầm phá sống chủ yếu dựa vào trồng trọt và đánh bắt
thủy sản mang tính tự cung tự cấp. Nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh từ năm 1995 đến
nay đã đem lại hiệu quả kinh tế cao và có khả năng làm giàu cho các hộ nuôi trồng. Vì vậy
phát triển ngành thủy sản của vùng đầm phá có mối quan hệ với các ngành khác đó là:
quan hệ với ngành chế biến "Phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm và công nghiệp
hàng tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước, đồng thời hướng mạnh về xuất khẩu, ưu
tiên phát triển những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh và hiệu quả cao" [18, 179]. Đối với
thủy sản vùng đầm phá nhiều loại có giá trị cao, phát triển công nghiệp chế biến đáp ứng

Footer Page 23 of 166.


Header Page 24 of 166.
nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Chế biến thủ công phổ biến hiện nay của ngư dân ven
phá chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh và một số tỉnh miền Trung.
Quan hệ với ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp trồng rừng ven biển đầm phá,
đánh bắt hải sản ven bờ và xa bờ. Đây là những ngành mà ngư dân vừa đánh bắt nuôi trồng
vừa kiêm thêm các nghề đó, tạo thu nhập bảo đảm đời sống cho dân cư, từ đó tạo điều kiện
cho sản phẩm nuôi trồng được đem ra trao đổi mua bán thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát
triển.
Điều kiện tự nhiên vùng đầm phá cho phép phát triển du lịch sinh thái góp phần
tạo nên sự phong phú đa dạng trong ngành du lịch của Thừa Thiên - Huế đó là: các lăng
tẩm, các chùa, suối, thác biển, vườn quốc gia Bạch Mã, khu bảo tồn tự nhiên trên vùng

như: giáo dục, y tế, thông tin liên lạc, kết cấu hạ tầng, chương trình xóa đói giảm nghèo...
Các cơ quan kinh tế chi phối trực tiếp đến vùng đầm phá như Sở Thủy sản, Sở Khoa học,
công nghệ và môi trường, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp phát
triển nông thôn... đã tạo điều kiện cho kinh tế hàng hóa vùng đầm phá phát triển. Đầm phá
là nơi có khả năng thu hút nguồn đầu tư vốn, khoa học kỹ thuật, con người từ thành phố
nhằm phát triển kinh tế vùng; đầm phá còn là nơi tạo ra sự phong phú thêm trong du lịch
của thành phố Huế.
Thành phố Huế là thị trường rộng lớn tiêu thụ sản phẩm của đầm phá tạo điều kiện
khuyến khích sản xuất hàng hóa vùng đầm phá phát triển thị trường. Thành phố Huế là nơi
cung cấp hầu hết tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng cho dân cư vùng đầm phá. Thành phố
Huế cũng là nơi giải quyết một phần lao động dư thừa cho vùng đầm phá, thu hút họ vào
các ngành nghề thủ công như: may mặc, nghề thêu, nghề mộc, nghề thợ xây, sửa chữa xe
các loại và thu hút vào thương nghiệp buôn bán thủy hải sản cũng như buôn bán nhỏ các
mặt hàng khác. Các công ty chế biến thủy sản chủ yếu đóng trên địa bàn thành phố Huế.
Vì vậy vùng đầm phá là nơi cung cấp nguồn nguyên liệu tạo điều kiện cho các công ty chế
biến trên địa bàn thành phố Huế hoạt động.
Tóm lại, từ sau khi mở rộng thị trường, lấy thị trường làm điểm xuất phát của sản
xuất. Các mối quan hệ kinh tế vùng đầm phá ngày càng được mở rộng cùng với việc thực
hiện đa dạng hóa sản phẩm, đã tạo ra được vùng nuôi trồng thủy sản hàng hóa có sản
lượng cao và tốc độ tăng trưởng nhanh, làm thay đổi cơ cấu kinh tế ở nông thôn vùng đầm
phá, biến các vùng đất hoang vu trước đây trở thành vùng sản xuất hàng hóa. Thực hiện
chuyển đổi từng bước cơ cấu kinh tế trong vùng cho phù hợp với lợi thế của đầm phá.
Nuôi trồng thủy sản của vùng đã và đang trở thành ngành sản xuất hàng hóa phục vụ tiêu
dùng và xuất khẩu. Những nhân tố phát triển kinh tế hàng hóa nói chung và những nhân tố
phát triển kinh tế hàng hóa vùng đầm phá của tỉnh Thừa Thiên - Huế được đề cập ở trên đã

Footer Page 25 of 166.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status