Phòng, chống tham nhũng trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh ở Sơn La - Pdf 41

Header Page 1 of 166.

LUẬN VĂN:

Phòng, chống tham nhũng trong các
cơ quan hành chính nhà nước cấp
tỉnh ở Sơn La

MỞ ĐẦU

Footer Page 1 of 166.


Header Page 2 of 166.

1. Tính cấp thiết của đề tài
Qua hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất
nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, chính
trị và ngoại giao,… được nhân dân tin tưởng, hưởng ứng. Tuy nhiên, chúng ta cũng đang
phải đối mặt với những nguy cơ và thách thức, một trong những nguy cơ cản trở công cuộc
đổi mới đất nước chính là tệ tham nhũng. Tham nhũng cùng với lãng phí đã gây thiệt hại
lớn về tài sản của Nhà nước, làm băng hoại đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên;
xâm hại trực tiếp công lý và công bằng xã hội, làm xói mòn lòng tin của nhân dân, là nguy
cơ đe dọa sự sống còn của chế độ ta.
Nhận thức rõ mức độ nghiêm trọng và những hậu quả nguy hại của tham nhũng.
Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp đấu tranh nhằm ngăn ngừa, phát
hiện và xử lý các hành vi tham nhũng và đã đạt được kết quả bước đầu. Tuy nhiên nạn
tham nhũng vẫn diễn ra hết sức phổ biến, ngày càng tinh vi, xảo quyệt ở nhiều cấp, nhiều
ngành. Thậm chí, tham nhũng đã ăn sâu vào tư duy và tác phong làm việc hàng ngày của
một số cán bộ, công chức, làm giảm hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, gây bất bình
trong nhân dân. Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX

- "Nguyên tắc xử lý tham nhũng", Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày
21/8/2007, cập nhật lúc 14h56’.
- "Công chúc và tham nhũng - kinh nghiệm của một số nước trên thế giới", của T.
Ngoai, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 21/8/2007, cập nhật lúc 17h38’.
- "Chống tham nhũng xét từ góc độ quyền lực", của Vũ Quốc Tuấn, Báo Doanh
nhân Sài Gòn cuối tuần, ngày 28/9/2006.
Đề tài khoa học cấp Bộ: "Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng,
chống tham nhũng của các cơ quan thanh tra nhà nước theo Luật Phòng, chống tham
nhũng" do Tiến sĩ Trần Ngọc Liêm, Phó vụ trưởng Vụ IV, Thanh tra Chính phủ làm Chủ
nhiệm đề tài, nghiệm thu tháng 7/2007.
Trong các cơ sở đào tạo cũng đã có một số luận văn nghiên cứu về tham nhũng,
lãng phí như luận văn: "Một số giải pháp chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng
cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh ĐakLak", của Phạm Xuân
Lĩnh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2006; luận văn: "Giải pháp phòng, chống

Footer Page 3 of 166.


Header Page 4 of 166.

thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước ở Thanh
Hóa", của Lê Văn Tuấn, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2008...
Riêng đề tài phòng, chống tham nhũng trong cơ quan hành chính nhà nước cấp
tỉnh tại Sơn La chưa được nghiên cứu một cách bài bản và hệ thống.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến
hiện tượng tham nhũng trong xã hội hiện nay. Đánh giá thực trạng phòng, chống tham
nhũng trong cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh tại Sơn La từ đó đề xuất các giải pháp
thiết thực, hiệu quả, khả thi nhằm góp phần vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng
nói chung và trong cơ quan hành chính nhà nước tại Sơn La nói riêng.

gồm: Phương pháp phân tích tư duy, hệ thống, phương pháp phân tích, phương pháp tổng
hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp chuyên gia.
6. Đóng góp khoa học của luận văn
Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng trong
các cơ quan hành chính nhà nước.
Chứng minh hiện tượng tham nhũng trong các cơ quan hành chính nhà nước ở Sơn
La có diễn biến phức tạp do các nguyên nhân:
Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức và tổ chức thực hiện tốt công tác
phòng chống tham nhũng trong thời gian tới ở Sơn La.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương, 8 tiết.

Footer Page 5 of 166.


Header Page 6 of 166.

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG CƠ
QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

1.1. THAM NHŨNG TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.1.1. Quan niệm về tham nhũng trong cơ quan hành chính nhà nước
1.1.1.1. Quan niệm về tham nhũng
Tham nhũng là hiện tượng xuất hiện từ lâu trong xã hội loài người được nhiều học
giả và các tổ chức quan tâm nghiên cứu.
Những người sáng lập ra chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, nguồn gốc sâu xa của tệ
tham nhũng là sự gặp nhau của hai nhân tố: quyền lực công và lòng tham của cá nhân. C.
Mác cho rằng, để tồn tại và phát triển trong xã hội còn phân chia giai cấp xuất hiện những

Sâu sắc hơn nữa, Hồ Chủ tịch còn chỉ ra hình thức tham ô tinh vi, rất khó nhận
thấy trong cuộc sống đời thường, đó là "tham ô gián tiếp", tức hiện tượng cán bộ Chính
phủ, dù được nhân dân trả lương hàng tháng đều đặn, nhưng lại kém lòng trách nhiệm,
đứng núi này, trông núi nọ, làm việc chậm chạp, ăn cắp giờ của Chính phủ, của nhân dân
[18, tr. 436].
Theo tài liệu hướng dẫn của Liên hợp quốc về cuộc đấu tranh quốc tế chống tham
nhũng thì "Tham nhũng - đó là sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng" bao gồm
những hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô, trộm cắp tài sản của Nhà nước,
hoặc lợi dụng địa vị công tác để trục lợi riêng thông qua việc sử dụng không chính thức địa
vị chính thức của mình, hoặc tạo ra xung đột về thứ tự quan tâm giữa trách nhiệm đối với
xã hội và lợi ích cá nhân để mưu cầu trục lợi. Với cách xem xét như vậy, quan niệm của
Liên hợp quốc về tham nhũng đã vượt ra ngoài giới hạn của tệ hối lộ.
Ban Tổng thư ký Liên hợp quốc, trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của các nước
khác nhau, cho rằng, tham nhũng bao hàm trong các hành vi sau:
- Hành vi ăn cắp, tham ô và chiếm đoạt tài sản của nhà nước mà chủ thể của hành
vi đó là những người có chức có quyền;
- Lạm dụng chức quyền để trục lợi bất hợp pháp thông qua việc sử dụng các qui
chế chính thức một cách không chính thức;

Footer Page 7 of 166.


Header Page 8 of 166.

- Mâu thuẫn không cân đối giữa lợi ích chính đáng do thực hiện nghĩa vụ xã hội
với những món lợi tư riêng.
Theo quan niệm này, tham nhũng xuất hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau như
các cuộc vận động chính trị không minh bạch, đối xử thiên vị nhằm vụ lợi, chế độ bảo hộ
mậu dịch có lợi cho nhóm ủng hộ, bố trí lãnh tụ chính trị và quan chức nhà nước vào các
hãng tư nhân hoặc liên doanh, đầu tư cơ sở hạ tầng bằng ngân sách nhà nước hay bố trí

Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau như vậy nhưng nhìn chung, có hai loại quan
niệm khá phổ biến về tham nhũng.
Quan niệm thứ nhất hiểu tham nhũng theo nghĩa rộng bao gồm mọi hành vi của
bất kỳ người nào có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn đã lợi dụng
chức vụ, quyền hạn, hoặc nhiệm vụ được giao để vụ lợi. Chủ thể của hành vi tham nhũng
có thể là cán bộ, công chức nhà nước, viên chức hoặc những người làm việc trong các tổ
chức chính trị, tổ chức xã hội và khu vực tư nhân.
Quan niệm thứ hai hiểu tham nhũng theo nghĩa hẹp, là hành vi sử dụng quyền lực
được Nhà nước hoặc tổ chức chính trị hưởng lương ngân sách nhà nước giao phó không
theo đúng mục đích đã đề ra, không vì lợi ích công mà vì lợi ích cá nhân hoặc nhóm cá
nhân có quan hệ lợi ích với nhau.
Việc xác định rõ ràng và có quan niệm đúng đắn về tham nhũng là một trong
những yếu tố quan trọng bảo đảm tính hiệu quả trong đấu tranh phòng và chống lại tệ nạn
này. Trong điều kiện cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta còn nhiều cam go, phức
tạp thì sự thống nhất trong quan niệm về tham nhũng là rất cần thiết.
Tiếp thu những điểm hợp lý trong những quan điểm trên, chúng tôi cho rằng, tham
nhũng hiện nay không chỉ trong phạm vi quyền lực công mà còn mở rộng đến khu vực tư
và về cơ bản một hành vi được coi là tham nhũng là hành vi sử dụng quyền lực của tổ
chức giao phó nhưng chủ thể được giao nhiệm vụ sử dụng nó như một công cụ để trục lợi
cho mình và cho người khác.
1.1.2. Một số hình thức tham nhũng chủ yếu trong cơ quan hành chính nhà
nước
1.1.2.1. Những hình thức tham nhũng trực tiếp trong cơ quan hành chính nhà
nước

Footer Page 9 of 166.


Header Page 10 of 166.




Header Page 11 of 166.

làm việc để kiếm thêm thu nhập mà lẽ ra trách nhiệm này anh ta phải thực hiện trong giờ
hành chính.
- Đáng báo động trong cơ quan hành chính hiện nay và có thể đưa vào tham nhũng
trực tiếp đó là tham nhũng trong việc "mua quan, bán chức", là mối quan hệ giữa cấp trên
với cấp dưới trong công tác tổ chức cán bộ. Cán bộ lãnh đạo cấp trên sẽ thông tin lấp lửng
cho một vài cấp dưới biết, rằng hiện nay đang có nhu cầu bổ nhiệm một chức danh lãnh
đạo trong cơ quan, họ gợi ý cho một vài công chức biết và nói "tôi thấy cậu có thể đảm
đương được chức danh đó... hãy cố gắng lên nhé...". Thế là các công chức hám danh được
gợi ý đua nhau "chạy chọt" biếu "sếp" tiền, quà, "sếp" chỉ việc thu bổng lộc, ai nhiều hơn
sẽ là người chiến thắng. Đây cũng là loại tham nhũng trực tiếp nguy hiểm, là nguyên nhân
gây nên tình trạng thoái hóa cán bộ.
- Nhưng loại tham nhũng trực tiếp nguy hiểm nhất là vi phạm các quy định của
pháp luật, hoặc việc thực thi pháp luật mang nặng tính thiên vị một cách có tổ chức. Đây là
loại tham nhũng được nói nhiều nhất trong cơ quan hành chính. Loại tham nhũng này đòi
hỏi có sự hợp tác giữa cấp trên và cấp dưới vì hành vi tham nhũng phải do nhiều do công
chức tham gia mới thực hiện được (đòi hối lộ để vi phạm các quy định). Hậu quả trực tiếp
nghiêm trọng nhất của loại tham nhũng này là các luật, pháp lệnh, nghị định và chính sách
của nhà nước không được thực hiện một cách nghiêm túc.
Một cách tiếp cận mang tính biếm họa khác đối với vấn đề này là ở góc độ luật
pháp, chế độ sai chậm được sửa chữa nên đối với người dân và xã hội, tốt hơn là những
chính sách đó không nên thực hiện, vì thế tham nhũng để thực hiện sai lại được chấp nhận
khiến tệ nạn tham nhũng tràn lan mà không bị phê phán. Thừa nhận loại tham nhũng này
sẽ làm đảo lộn trật tự kỷ cương, pháp luật bị xem thường hoặc mất tác dụng.
Nói tóm lại, tham nhũng trực tiếp là hành vi công chức nhận tiền của người khác
để hoàn thành công việc thuộc trách nhiệm phải làm của họ, bất kể đó là việc làm sai quy
định hay làm công việc đó nhanh hơn thường lệ. Mức độ thường xuyên và phổ biến của

Việc ráo riết vận động hành lang Quốc hội là một hoạt động được coi là hợp pháp
và chính đáng ở nhiều nước. Tuy nhiên, nếu lợi dụng sự vận động đó để có được các chính
sách gây thiệt hại cho lợi ích xã hội, nhất là người được vận động lại nhận tiền, quà từ
người đi vận động thì đó là hành vi tham nhũng, hành vi xấu cần phải phòng ngừa.

Footer Page 12 of 166.


Header Page 13 of 166.

Cả hai loại tham nhũng trực tiếp và gián tiếp trong cơ quan hành chính nhà nước ở
nhiều nước rất nghiêm trọng khiến công chúng phẫn nộ. Để xây dựng một nhà nước tốt,
trong sạch, chiếm được lòng tin của nhân dân, cần phải chống tham nhũng với quyết tâm
cao.
1.1.3. Nguyên nhân tham nhũng trong các cơ quan hành chính nhà nước
Dù có sự khác nhau trong cách lý giải về nguồn gốc tham nhũng, nhưng đa số các
nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng, tham nhũng là một hiện tượng có tính chất phổ biến
của mọi nhà nước, dưới mọi chế độ khác nhau, là căn bệnh bẩm sinh của quyền lực. Tham
nhũng là nơi gặp gỡ của lòng tham và quyền lực công, khi quyền lực công không được
kiểm soát chặt chẽ. Nhiều kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được một số nguyên nhân dẫn đến
tham nhũng trên khía cạnh sau:
* Nguyên nhân xuất phát từ mức sống thấp của công chức
Thực tế cho thấy một nghịch lý, ở những nước kém phát triển, mức sống của dân
cư thấp, thì nạn tham nhũng lại có biểu hiện trầm trọng hơn ở các nước phát triển. Lý giải
điều này nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, mức lương thấp là một trong những nguyên nhân
trực tiếp khiến công chức tham nhũng. Bởi vì, xét cho cùng công chức cũng là con người,
cũng có nhu cầu cá nhân, gia đình và các mối quan hệ xã hội khác. Làm việc trong bộ máy
hành chính của Nhà nước cũng là hành nghề và do đó cần có thu nhập. Khi trình độ phát
triển kinh tế thấp, ngân sách nhà nước quá eo hẹp, Nhà nước chỉ có thể trả mức lương cho
công chức không những thấp hơn khu vực tư nhân, mà còn thấp hơn mức cho phép người

* Quá trình chuyển đổi cơ chế, sự tồn tại và đan xen không rõ ràng giữa cái mới
và cái cũ cũng là một trong những nguyên nhân gây ra tham nhũng
Quá trình chuyển đổi cơ chế sẽ dẫn đến sự mất dần đi của cái cũ và sự lớn dần lên
của cái mới. Tuy nhiên, khi các nhân tố mới còn yếu ớt, nhân tố cũ còn mạnh thì cuộc đấu
tranh cũ, mới sẽ rất khó khăn. Các công chức ủng hộ cái cũ sẽ nhân cơ hội mà thu hoạch
và vơ vét. Công chức ủng hộ cái mới còn chưa tạo dựng được cơ sở để nuôi quân mình nên
dễ làm cho những người ủng hộ hoang mang. Tình trạng "tranh tối tranh sáng" khiến cho
nhiều công chức tham lam, lợi dụng sự chưa rõ ràng của pháp luật để nghiêng về quyền lợi
của cá nhân, phường, hội và làm nảy sinh hành vi tham nhũng.
* Nguyên nhân xuất phát từ sức cám dỗ của các cơ hội có thể tham nhũng trong

Footer Page 14 of 166.


Header Page 15 of 166.

nền kinh tế thị trường hiện đại
Trong nền kinh tế thị trường, lợi ích cá nhân được coi trọng và động lực tìm kiếm
lợi nhuận tối đa của giới kinh doanh được ủng hộ. Trong bối cảnh đó, một số nhà kinh
doanh, vì muốn được Nhà nước trao cho cơ hội tốt hơn đối thủ cạnh tranh nên tìm mọi
cách mua chuộc, hối lộ công chức.
Hơn nữa, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, Nhà nước tham gia sau vào điều
tiết, quản lý nền kinh tế. Thậm chí Nhà nước còn xuất hiện với tư cách người mua lớn,
người bán lớn. Nếu có được mối quan hệ thân thiện với các cơ quan nhà nước, các doanh
nghiệp sẽ có được lợi thế trong vận động chính sách cũng như trong chiếm lĩnh thị trường
nhà nước. Đây là cơ hội để công chức có thể sử dụng quyền lực ban hành chính sách hay
quyết định mua bán có lợi hay không có lợi cho một nhóm lợi ích nào đó. Để đảm bảo
chính sách của Nhà nước luôn có lợi cho mình, doanh nghiệp dùng tiền vận động hành
lang, công chức lợi dụng tác động của chính sách nghiêng về đâu để nhận tiền của doanh
nghiệp...

bổng, lộc biến thành hành vi tham nhũng.
* Nguyên nhân từ cơ chế kiểm tra, giám sát của Nhà nước, của xã hội đối với công
chức
Về mặt lý thuyết quản lý, để tạo môi trường giảm cơ hội tham nhũng và gây sức ép
buộc công chức phải tự kiểm soát mình nhằm chống lại sự cám dỗ của tiền bạc, phải thiết lập
và vận hành hiệu quả hệ thống kiểm tra, giám sát công chức. Trong thực tế, kiểm tra, giám sát
công chức là việc làm phức tạp, nhiều cơ quan nhà nước có xu hướng buông lỏng. Khi không
bị giám sát, kiểm tra, nhắc nhở và xử phạt, công chức dễ sa ngã, dễ bị mua chuộc để đi vào
con đường tham nhũng. Hơn nữa, khi đã trót tham nhũng một lần, công chức có thể bị áp lực của
người đi hối lộ mà ngày càng dấn sâu thêm vào con đường tham nhũng.
Ở các nước mà hệ thống chính trị chậm được đổi mới, hoạt động kiểm tra, giám
sát của bộ máy nhà nước kém hiệu quả thì công chức khó bị kỷ luật, khó bị bãi miễn nên
dễ dàng đi vào tham nhũng hơn. Một quốc gia quản lý tốt phải có bộ máy kiểm tra nhà
nước tốt. Khi đó mọi lỗi lầm của công chức đều bị trừng phạt nên công chức sẽ tự kiềm
chế hơn trước các cơ hội tham nhũng.
* Nguyên nhân từ sự thiếu rèn luyện và trau dồi đạo đức của công chức
Phẩm chất đạo đức của công chức là biển chỉ đường giúp cho công chức không

Footer Page 16 of 166.


Header Page 17 of 166.

đi chệch vào con đường tham nhũng. Tuy nhiên, nếu môi trường công tác trong cơ quan
nhà nước và môi trường đạo đức xã hội chung không coi trọng việc tuân thủ các nguyên
tắc đạo đức công chức thì người công chức sẽ sao nhãng việc rèn luyện và trau dồi đạo
đức làm xuất hiện các công chức thoái hóa. Đối với những công chức thoái hóa, tiêu
chuẩn đạo đức bị đảo ngược, họ coi quyền lực của Nhà nước là quyền lực của riêng họ,
coi mình đứng trên người khác, tự cho phép hành động theo suy nghĩ và nhu cầu của họ.
Hành vi của những người này gây nên tình trạng tham nhũng cố ý, rất nguy hiểm cho

cứu người chịu trách nhiệm do đó công chức sẽ ít động cơ tham nhũng hơn. Tuy nhiên nếu
trách nhiệm không được phân định rõ ràng, quyền lực được giao một cách không hợp lý sẽ
dẫn đến tình trạng công chức làm sai không phải chịu trách nhiệm hoặc trốn được trách
nhiệm của mình. Khi đó tệ tham nhũng có điều kiện phát triển.
Tham nhũng dễ dàng nảy sinh trong lĩnh vực phân cấp quản lý giữa trung ương và
địa phương, giữa cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra, ở các cơ quan nhà nước còn duy trì tình trạng thủ tục hành chính phức
tạp, khó tiếp cận thì công chức càng có cơ hội để vòi vĩnh công dân khi thực thi trách
nhiệm của họ.
* Nguyên nhân từ sự kiểm tra, giám sát của xã hội đối với công chức
Trong các xã hội thiếu dân chủ, công chức không phải thực thi trách nhiệm công
khai, minh bạch và giải trình trước công dân sẽ có môi trường an toàn khi tham nhũng vì
hành vi tham nhũng của họ khó được phát hiện. Việc kiểm soát và minh bạch hóa thu nhập
và tài sản của công chức nếu thiếu cơ chế thực hiện hiệu quả thì không hỗ trợ đủ mức cho
việc xử phạt công chức tham nhũng do đó không đủ mạnh để ngăn chặn tệ tham nhũng trong
công chức.
Ngoài ra, tình trạng yếu kém của các cơ quan ngôn luận, điều tra, xử án, thái độ
thờ ơ của dân chúng cũng là những chất xúc tác làm cho tệ tham nhũng khó bị loại trừ.
* Nguyên nhân từ quyết tâm chính trị của cá nhân và cơ quan chống tham nhũng
Tham nhũng là căn bệnh của chính nhà nước và công chức. Khi trị bệnh, có thể
dẫn tới suy giảm uy tín nhà nước cũng như ảnh hưởng tới đời sống của công chức. Do đó
nhiều cơ quan nhà nước và công chức ngại đấu tranh chống tham nhũng. Vì thế, nếu cơ
quan chống tham nhũng không đủ quyền lực, quyết tâm chính trị của cơ quan chống tham

Footer Page 18 of 166.


Header Page 19 of 166.

nhũng không đủ mức thì tệ tham nhũng không được chữa trị kịp thời, ngược lại càng có cơ


chất liên hệ dây chuyền giữa cơ quan, công chức nhà nước tham nhũng với cơ quan nhà
nước và công chức không tham nhũng nên người dân khó phát hiện đích danh ai, cơ quan
nào tham nhũng. Hệ quả là họ gán tình trạng tham nhũng cho cả bộ máy nhà nước và mất
lòng tin vào tất cả các cơ quan đó.
Khi dân chúng mất lòng tin vào công chức và cơ quan nhà nước thì hiệu quả quản
lý nhà nước sẽ thấp, các xu hướng chống đối gia tăng trong khi chi phí quản lý không
giảm. Đây là tình trạng xấu, tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng của Nhà nước.
* Tham nhũng bào mòn sự tín nhiệm của nhân dân đối với Nhà nước
Nếu tình trạng tham nhũng kéo dài, trầm trọng và không có hy vọng có thể được
giải quyết dứt điểm thì người dân buộc phải thay đổi hành vi của họ để thích nghi. Một bộ
phận dân cư có tiền sẽ gia nhập đội ngũ những người đưa hối lộ để cải thiện tình trạng
pháp lý của họ và do đó làm cho tình hình xấu thêm. Một bộ phận dân cư không có tiền sẽ
phải chịu tình trạng pháp lý tồi tệ hơn do đó dễ nảy sinh tư tưởng chống đối, bạo loạn,
thậm chí lật đổ.
Trong bối cảnh đó các hành vi đạo đức tốt không được ủng hộ và duy trì, hành vi
xấu ngự trị càng làm tăng bất bình đẳng xã hội và tâm lý bất bình. Chính vì thế niềm tin
của nhân dân vào Nhà nước bị bào mòn và họ có xu hướng ủng hộ bất kỳ sự thay đổi nào
đó miễn là thay đổi cung cách hành động của nhà nước hiện tại.
* Tham nhũng làm tha hóa đội ngũ công chức
Về bản chất, công chức là những người đại diện cho dân chúng hoặc được dân
chúng thuê để làm các công việc có lợi cho xã hội. Nhưng khi tham nhũng công chức đã
không thực hiện đúng chức năng của mình, đã ăn cắp thời gian và quyền lực được ủy
quyền để làm lợi cho cá nhân hoặc bè nhóm. Do bản chất xấu của tham nhũng nên nó phải
bị loại trừ. Hay nói cách khác, tham nhũng là hành vi trái đạo đức của công chức.
Hơn nữa, nếu công chức tham nhũng không bị trừng phạt về mặt đạo đức và về mặt
luật pháp, vô hình chung mọi người đều coi hành vi tham nhũng đó là "bình thường". Khi đã
coi là bình thường thì nhiều công chức khác sẽ cho phép mình thực hiện. Tình trạng tham

Footer Page 20 of 166.

bổ nguồn lực cũng không đạt tới trạng thái hiệu quả. Hơn nữa, tham nhũng cản trở các quá

Footer Page 21 of 166.


Header Page 22 of 166.

trình kinh tế diễn ra bình thường, dung dưỡng tầng lớp người dựa vào ưu thế của nhà nước
tiến hành kinh doanh thuận lợi, cạnh tranh không sòng phẳng với nhóm người, ngành nghề
khác.
Tham nhũng cũng tạo điều kiện cho công chức tham nhũng và nhóm người hưởng
lợi bất chính có được thu nhập không dựa trên công sức đống góp có ích cho xã hội khiến
cho tình trạng phân phối không công bằng trong xã hội bị khoét sâu hơn.
1.2.2. Nguyên tắc phòng chống tham nhũng trong cơ quan hành chính nhà
nước
Tham nhũng trong cơ quan hành chính nhà nước là điểm gặp nhau của lợi dụng
quyền lực công và lòng tham nên khi nào còn có cơ hội cho hai tác nhân này gặp nhau thì
còn tham nhũng. Lòng tham của con người mang tính bản năng không thể triệt tiêu hoàn
toàn. Vì thế, để hạn chế tham nhũng phải có cơ chế kiềm chế lòng tham của con người
trong những phạm vi được xã hội chấp nhận. Quyền lực công là cần thiết nhưng cần phải
được giám sát chặt chẽ nhằm ngăn ngừa nguy cơ bị lạm dụng. Bản chất của tham nhũng
quy định rằng, muốn phòng và chống tham nhũng phải tuân thủ những nguyên tắc sau:
* Nguyên tắc giới hạn chặt chẽ việc sử dụng quyền lực công bằng luật pháp
Quyền lực của cơ quan nhà nước là quyền mà công dân ủy quyền cho để phục vụ
xã hội công dân. Công chức chỉ được sử dụng quyền lực công để thực hiện các trách
nhiệm được giao phó. Tuy nhiên, xã hội công dân bao gồm nhiều nhóm người và bản thân
công chức cũng là công dân nên có thể có sự nhầm lẫn đối tượng phục vụ hoặc làm sai
trách nhiệm được giao phó. Do quyền và trách nhiệm của công chức có thể thay đổi theo
hoàn cảnh lịch sử nên quy định công chức được làm gì, được sai khiến ai là công việc càng
phức tạp hơn. Hơn nữa, sự giao phó quyền cho công chức là do cộng đồng dân cư tự

mỗi sai lầm của công chức đều được phát hiện nhanh và đề nghị sửa chữa, vì thế cơ hội
thực hiện tham nhũng giảm thiểu.
* Nguyên tắc giải trình
Công chức phải có nghĩa vụ giải trình hành động và kết quả hành động trước
những người thuê hoặc giao phó công việc cho họ. Trách nhiệm giải trình càng cao thì ý
thức tuân thủ nghĩa vụ càng lớn. Đây là lớp vỏ giúp công chức khó tiếp cận với các cơ hội
tham nhũng.
* Nguyên tắc về đạo đức công chức

Footer Page 23 of 166.


Header Page 24 of 166.

Không tham nhũng phải được coi là tiêu chuẩn đạo đức hành nghề của công chức.
Hành vi tham nhũng có thể buộc công chức mãi mãi ra khỏi đội ngũ công chức hoặc bị
truy tố trước pháp luật.
Hơn nữa, với tư cách là người thay mặt Nhà nước thực hiện dịch vụ công, công
chức nhà nước phải tuân thủ một hệ thống các quy tắc, hành vi được coi là tiêu chuẩn đạo
đức công chức. Các tiêu chuẩn hành vi đó phải được xây dựng cụ thể, thiết thực, phù hợp
với công việc hành chính nhà nước và văn hóa, tập quán dân tộc. Cơ quan nhà nước phải
có bộ phận thường xuyên xây dựng, điều chỉnh, ban hành và theo dõi thực hiện đạo đức
công chức. Trong thực tế, với việc thực hiện nghiêm chỉnh đạo đức công chức, cơ hội để
tham nhũng được giảm thiểu rất nhiều.
* Nguyên tắc độc lập của bộ phận phụ trách công việc đấu tranh phòng chống
tham nhũng
Bộ phận phụ trách công việc đấu tranh phòng chống tham nhũng trong cơ quan
hành chính nhà nước cần có vị thế độc lập trong hệ thống phân cấp quyền lực của bộ máy
nhà nước để đảm bảo yêu cầu kiểm tra, xét xử nghiêm minh, khách quan các hành vi
tham nhũng của công chức. Hơn nữa bộ phận này phải nhận được sự bảo vệ an toàn đủ

phát hiện và bị lên án bởi chính các công chức tốt và bởi công dân.
* Công khai các quy định pháp lý và quy trình thủ tục hành chính của cơ quan nhà
nước với người có liên quan
Công khai các quy định và thủ tục hành chính đến tận người dân khi họ có công
việc tiếp xúc với cơ quan hành chính nhà nước, nhằm cung cấp thông tin cho người dân để
họ tự quyết định cách ứng xử hợp lý cũng như để đa số người dân không có khả năng hối
lộ và tham gia kiểm soát công chức.
Nên đưa các quy định và thủ tục công khai ở những điểm tiếp xúc của công dân
với cơ quan hành chính. Cũng cần đưa thông tin công khai trên các phương tiện truyền
thông dễ tiếp cận của dân cư. Cải thiện khả năng tiếp cận của dân cư đến các loại thông tin
này thông qua thành lập các điểm lưu giữ thông tin có thể truy cập tự do, thông qua các tổ
chức tư vấn miễn phí.

Footer Page 25 of 166.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status