Chính sách nâng cao năng lực công nghệ hệ thống phát thanh, truyền thanh (nghiên cứu trường hợp huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương) - Pdf 41

Header Page 1 of 166.
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------------------

ĐỖ VĂN DẦN

CHÍNH SÁCH NÂNG CAO
NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ HỆ THỐNG
PHÁT THANH, TRUYỀN THANH
(Nghiên cứu trường hợp huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương)

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 60 34 04 12

Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Đình Bình

HÀ NỘI 2016
MỤC LỤC

Footer Page 1 of 166.


Header Page 2 of 166.
LỜI CẢM ƠN ......................................................Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ..............................................................5
MỞ ĐẦU ............................................................................................................6
1. L{ do chọn đề tài 6
2. Lịch sử nghiên cứu 6
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH NÂNG CAO ...................................10
NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ PHÁT THANH, TRUYỀN THANH .............10
1.1. Tổng quan về công nghệ 10
1.1.1. Khái niệm công nghệ 10
1.1.2. Thành phần của công nghệ 11
1.1.3. Những yếu tố cơ bản của công nghệ phát thanh, truyền thanh
1.2. Năng lực công nghệ.

13

16

1.2.1. Khái niệm về năng lực công nghệ

16

1.2.2. Đối tượng tác động của chính sách nâng cao năng lực công nghệ

18

1.3. Định hướng phát triển phát thanh, truyền thanh 18
1.4. Chính sách nâng cao năng lực công nghệ phát thanh, truyền thanh.

Footer Page 2 of 166.

21


Header Page 3 of 166.
1.4.1 Tổng quan về phát thanh, truyền thanh

2.2.3. Thực trạng về năng lực công nghệ phát thanh, truyền thanh ở Bình Giang
not defined.

Error! Bookmark

2.2.4. Chính sách nâng cao năng lực công nghệ hệ thống phát thanh, truyền thanh huyện
Bình Giang Error! Bookmark not defined.
Tiểu kết Chương 2

Error! Bookmark not defined.

CHƯƠNG 3. .......................................................Error! Bookmark not defined.
GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH NÂNG CAO ....Error! Bookmark not defined.
NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ PHÁT THANH, TRUYỀN THANH TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN BÌNH GIANG .....................Error! Bookmark not defined.
3.1. Liên kết với các tổ chức KH&CN trong lĩnh vực phát thanh, truyền thanh
not defined.

Footer Page 3 of 166.

Error! Bookmark


Header Page 4 of 166.
3.1.1. Cơ sở thực tiễn về liên kết với các tổ chức KH&CN trong lĩnh vực phát thanh, truyền
thanh
Error! Bookmark not defined.
3.1.2. Giải pháp liên kết nhận chuyển giao công nghệ phát thanh số Error! Bookmark not
defined.
3.2. Đầu tư đổi mới và tích hợp công nghệ phát thanh, truyền thanh theo hướng hiện đại

thanh, truyền thanh trên địa bàn huyện Bình Giang
Error! Bookmark not defined.
3.4.1. Tác động dương tính Error! Bookmark not defined.
3.4.2. Tác động âm tính

Error! Bookmark not defined.

3.5. Khuyến nghị thực hiện chính sách

Error! Bookmark not defined.

3.5.1. Khuyến nghị với Bộ Thông tin và Truyền thông

Error! Bookmark not defined.

3.5.2. Khuyến nghị với cấp ủy và chính quyền địa phương các cấp
defined.

Error! Bookmark not

3.5.3. Khuyến nghị với các đài phát thanh Error! Bookmark not defined.
3.5.4. Khuyến nghị với các cơ sở đào tạo chuyên ngành phát thanh Error! Bookmark not
defined.
Tiểu kết Chương 3

Footer Page 4 of 166.

Error! Bookmark not defined.




MIXER

Bàn trộn âm thanh

VOV

Footer Page 6 of 166.

Đài Tiếng nói Việt Nam


Header Page 7 of 166.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại công nghệ thông tin, phát thanh, truyền thanh đóng mộ t vai trò rât́ lớ n không thể thiếu trong
đờ i sống kinh tê-́ văn hóa - xã hội của các quốc gia. Tại Việt Nam, bên cạnh các yếu tố văn hó,akinh tế và
chính trị, phát thanh, truyền thanh đã có sự phát triển mạnh mẽ
, phong phú đa dạng và là mộ t công cụ thông
tin quan trọ ng trong công tác xây dự ng xã hộ i thông tin
, góp phần phát triển nhanh quá trình công nghiệp
́
hóa, hiện đại hóa đât nướ c. Trong hệ thống phát thanh bốn cấp từ Trung ương đến tỉnh, huyện rồi đến xã thì
hệ thống Đài phát thanh huyện và đài truyền thanh xã, phường, thị trấn được đánh giá là khâu quan trọng,
cuối cùng, trực tiếp với công chúng. Đối với huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, Hệ thống phát thanh, truyền
thanh cơ sở xác định là một kênh thông tin quan trọng để đưa đường lối chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của nhà nước, thông tin về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và
thông báo về công tác chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền địa phương đến với đông đảo người dân.
Tuy nhiên, trong những năm qua, huyện Bình Giang chưa có một chính sách dài hạn cụ thể nào để nâng
cao năng lực công nghệ hệ thống phát thanh, truyền thanh trên địa bàn huyện.

Header Page 8 of 166.
Hồ Chí Minh và đề xuất giải pháp trong việc thúc đẩy hoạt động R&D để nâng cao năng lực công nghệ
sản xuất các chương trình truyền hình tại Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh.
- Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản l{ KH&CN của Ngô Huy Hoàng “Đổi mới cơ chế quản lý nguồn
nhân lực KH&CN tại Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh” đã phân tích, đánh giá và chỉ ra những bất
cập trong công tác quản l{ nguồn nhân lực KH&CN, đồng thời đưa ra các giả pháp nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh.
- Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản l{ KH&CN của tác giả Cao Anh Minh về “Đổi mới quản lý hoạt
động công nghệ ngành truyền hình Việt Nam” đã đưa ra quan điểm về cơ chế quản l{ hoạt động, tình
hình hoạt động công nghệ truyền hình tại Việt Nam thời gian qua. Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp để
thúc đẩy phát triển các hoạt động trên toàn ngành truyền hình Việt Nam trong xu hướng hội nhập và
toàn cầu hóa hiện nay.
- Đề tài“Ứng dụng công nghệ số vào sản xuất, lưu trữ và phát sóng chương trình phát thanh, truyền hình
tỉnh Hải Dương” ( 2007) do Vũ Bá Tâm là chủ nhiệm cho thấy; việc ứng dụng công nghệ số (Digital) vào
sản xuất, lưu trữ và phát sóng trong các chương trình phát thanh của Đài phát thanh, truyền hình tỉnh
Hải Dương đã góp phần nâng cao năng lực công nghệ cũng như chất lượng các chương trình phát thanh,
truyền hình được phát trên sóng của đài, việc lưu trữ các dữ liệu sau phát sóng được thực hiện một cách
khoa học, dễ tìm khi cần sử dụng lại. Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể khẳng định việc ứng dụng
công nghệ số ở Đài phát thanh, truyền hình Hải Dương là một nhu cầu tất yếu, khách quan trong thời kz
khoa học công nghệ nói chung và khoa học công nghệ trong lĩnh vực phát thanh, truyền thanh trên thế
giới đã và đang phát triển như hiện nay.
- Đề tài ngiên cứu KH&CN cấp Nhà Nước “Ứng dụng công nghệ phát thanh số tại Việt Nam” của tác giả
Đoàn Việt Trung (2005) cho thấy: Việc chuyển đổi công nghệ phát thanh từ (Analog) sang công nghệ
phát thanh số (Digital) là tất yếu của thế giới. Việt Nam không phải là một ngoại lệ. L{ do chính là phát
thanh không có biên giới, là cầu nối giữa các quốc gia độc lập; phương tiện nghe phổ cập và thống nhất
trên toàn cầu. Bên cạnh đó, phát thanh số có ưu điểm là nâng cao chất lượng chương trình, giảm chi phí
khai thác; nâng cao hiệu quả sử dụng tần số vô tuyến điện. Tuy nhiên, giải pháp về công nghệ lại đa dạng
và đang phát triển. Từ những vấn đề nêu trên, ta thấy ngành phát thanh Việt Nam phải làm chủ công
nghệ, xác định hướng đi tương lai cho phù hợp với điều kiện kinh tế và chính trị của đất nước.
- Bên cạnh đó còn có rất nhiều các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến những


5. Câu hỏi nghiên cứu
a. Câu hỏi nghiên cứu chủ đạo:
- Cần xây dựng chính sách với nội dung gì để nâng cao năng lực công nghệ hệ thống Đài Phát thanh,
truyền thanh huyện Bình Giang?
b. Câu hỏi nghiên cứu bổ trợ
- Thực trạng chính sách nâng cao năng lực công nghệ phát thanh, truyền thanh của hệ thống phát
thanh, truyền thanh huyện Bình Giang như thế nào?

6. Giả thuyết nghiên cứu
a. Giả thuyết nghiên cứu chủ đạo:
Để nâng cao năng lực công nghệ hệ thống phát thanh, truyền thanh huyện Bình Giang cần xây dựng
chính sách có nội dung chủ yếu là liên kết với các tổ chức KH&CN trong lĩnh vực phát thanh, truyền
thanh để đầu tư đổi mới và tích hợp công nghệ phát thanh, truyền thanh theo hướng công nghệ phát
thanh kỹ thuật số.
b. Giả thuyết nghiên cứu bổ trợ
Thực trạng chính sách nâng cao năng lực công nghệ hệ thống phát thanh, truyền thanh huyện Bình
Giang được thể hiện qua các khía cạnh: công nghệ lạc hậu, năng lực vận hành của nhân lực chưa đạt
hiệu quả, đầu tư cho đổi mới công nghệ kém hiệu quả.

Footer Page 9 of 166.

9


Header Page 10 of 166.
7. Mẫu khảo sát
- Đài Phát thanh huyện Bình Giang;
- Đài truyền thanh các xã Hưng Thịnh, Thái Học, Bình Minh….


CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH NÂNG CAO
NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ PHÁT THANH, TRUYỀN THANH
1.1. Tổng quan về công nghệ
1.1.1. Khái niệm công nghệ
Thuật ngữ công nghệ được hình thành từ khá lâu và được sử dụng khá phổ biến, đã có nhiều tác giả đưa
ra nhiều định nghĩa khác nhau về công nghệ.
Năm 1986 tác giả Naar Sharif đã đưa ra một số định nghĩa khá khái quát về công nghệ. Công nghệ là một
hệ thống tri thức về quá trình chế biến vật chất và/ hoặc thông tin về phương tiện và phương pháp chế
biến vật chất và/hoặc thông tin. Công nghệ là một tập hợp phần cứng và phần mềm, bao gồm 4 yếu tố;
- Phần kỹ thuật( Technoware - T)
- Phần thông tin (Inforware – I)
- Phần con người ( Humanware – H)
- Phần thiết chế tổ chức( Orgawre – O)
Đây cũng là 4 yếu tố công nghệ theo quan điểm của trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á – Thái
Bình Dương(APCTT).
Năm 1988 Ông Graham đưa ra định nghĩa: Công nghệ là kiến thức không thể sờ mó được và không phân
chia được, có lợi ích về mặt kinh tế khi sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm dịch vụ.
Tổ chức OECD, gồm các nước phát triển châu Âu, Nhật Bản, Mỹ và Canada lại có một định nghĩa chung:
Công nghệ được hiểu là một tập hợp các kỹ thuật, mà bản thân chúng được định nghĩa là một tập hợp
các hành động và quy tắc lựa chọn chỉ dẫn việc ứng dụng có các trình tự kỹ thuật đó mà theo hiểu biết
của con người thì sẽ đạt được một kết quả định trước( và đôi khi được kz vọng) trong một hoàn cảnh
nhất định.
Theo Định nghĩa công nghệ do Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (Economic
and Social Commission for Asia andthe Pacific – ESCAP); “Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy
trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương
pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ”
Định nghĩa công nghệ của ESCAP được coi là bước ngoặt trong quan niệm về công nghệ. Theo định nghĩa
này, không chỉ sản xuất vật chất mới dùng công nghệ, mà khái niệm công nghệ được mở rộng ra tất cả
các lĩnh vực hoạt động xã hội và bao gồm các phần vật thể là máy móc thiết bị. Những lĩnh vực công
nghệ mới mẻ dần trở thành quen thuộc: công nghệ thông tin, công nghệ ngân hàng, công nghệ du lịch,

kỹ thuật và phần con người.
Các thành phần của một công nghệ có quan hệ mật thiết bổ sung cho nhau, không thể thiếu bất cứ
thành phần nào. Tuy nhiên, có một giới hạn tối thiểu cho mỗi thành phần để có thể thực hiện quá trình
biến đổi, đồng thời có một giới hạn tối đa cho mỗi thành phần để hoạt động biến đổi không mất đi tính
tối ưu hoặc tính hiệu quả.
Nếu không hiểu chức năng và mối tương hỗ giữa các thành phần của một công nghệ, có thể dẫn đến lãng phí
trong đầu tư trang thiết bị do các thành phần khác không đồng bộ khiến trang thiết bị, máy móc không phát huy
hết tính năng của chúng. Phần kỹ thuật là cốt lõi của bất kz công nghệ nào. Nhờ máy móc, thiết bị, phương tiện,
con người tăng được sức mạnh cơ bắp và trí tuệ.
Để dây chuyền công nghệ có thể hoạt động được, cần có sự liên kết giữa phần kỹ thuật, phần con người
và phần thông tin. Con người làm cho máy móc hoạt động, đồng thời con người còn có thể cải tiến, mở
rộng các tính năng của nó. Do mối tương tác giữa phần kỹ thuật, con người, thông tin nên khi phần kỹ
thuật được nâng cấp, thì phần con người, phần thông tin cũng phải được nâng cấp tương ứng.
Trong công nghệ sản xuất, con người có hai chức năng: điều hành và hỗ trợ. Chức năng điều hành gồm:
vận hành máy móc, giám sát máy móc hoạt động. Chức năng hỗ trợ gồm bảo dưỡng, bảo đảm chất
lượng, sử dụng sản xuất. Sự phức tạp của con người không chỉ phụ thuộc vào kỹ năng làm việc mà còn ở
thái độ của từng cá nhân đối với công việc.
Con người quyết định mức độ hiệu quả của phần kỹ thuật. Điều này liên quan đến thông tin mà con
người được trang bị và hành vi của họ dưới sự điều hành của tổ chức. Do đó phần thông tin thường
được coi là “sức mạnh” của một công nghệ. Tuy nhiên “sức mạnh” của công nghệ lại phụ thuộc con

Footer Page 13 of 166.

13


Header Page 14 of 166.
người, bởi vì con người trong quá trình sử dụng sẽ bổ sung, cập nhật các thông tin của công nghệ. Mặt
khác, việc cập nhật thông tin của công nghệ để đáp ứng với sự tiến bộ không ngừng của khoa học.
Phần tổ chức đóng vai trò điều hoà, phối hợp ba thành phần trên của công nghệ để thực hiện hoạt động


Footer Page 14 of 166.

14


Header Page 15 of 166.
truyền thanh địa phương. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, hiện nay hệ
thống truyền thanh đang được thay thế chuyển từ hình thức truyền dẫn tín hiệu bằng dây dẫn kim loại
(hữu tuyến) sang sử dụng phát sóng ngắn hệ FM có chất lượng tín hiệu tốt, ít bị nhiễu tĩnh. Tuy nhiên,
thuật ngữ truyền thanh vẫn được dùng để chỉ chung cho hoạt động thu, tiếp, phát tín hiệu radio ở cấp
huyện, thị, xã, phường, thị trấn.
c. Một số đặc điểm của phát thanh
- So với truyền hình thì phát thanh thông tin nhanh hơn.
Khi có một sự kiện mới xảy ra, phát thanh chính là phương tiện để truyền tải thông tin một cách
nhanh nhất đến công chúng. Báo in bị giới hạn về diện tích trang báo, số câu chữ trong mỗi số báo, thời
gian in ấn. Báo hình (truyền hình) phải qua công đoạn quay, dựng, chỉnh sửa thì mới ra được sản phẩm.
Báo điện tử tuy nhanh hơn nhưng để cung cấp thông tin và bạn đọc tiếp cận được thông tin đó cần có
mạng Internet và thiết bị điện tử. Trong khi đó, với các địa phương, kể cả nơi có điều kiện kinh tế, xã hội
còn khó khăn, phát thanh có thể tổng hợp và đưa tin ngay sau khi xảy ra sự kiện hoặc có thể đưa tin trực
tiếp khi mà chương trình, sự kiện đó vẫn đang xảy ra.
- Độ phủ sóng rộng.
So với truyền hình, phát thanh có độ phủ sóng rộng, dễ tiếp nhận và có khả năng kích thích trí tưởng
tượng. Cho đến nay, chưa có nước nào trên thế giới, kể cả các nước phát triển nhanh như Mỹ, Anh, Pháp… từ bỏ
phát thanh cả.
- Có đối tượng thính giả nghe rộng rãi
Không chỉ ở thành thị, nơi có các nguồn thông tin phong phú và đa dạng mà ngay ở nông thôn,
những nơi có trình độ dân trí chưa cao, người dân vẫn hàng ngày gắn bó với các chương trình phát
thanh và xem đó như một người bạn thân thiết của họ. Những người không biết chữ, bị khuyết tật (trừ
thính giác) đều có thể nghe thông tin do phát thanh cung cấp. Những thông tin họ nghe trên đài, loa

telegraphy)[12] .
Với sự phát triển tôc độ như vũ bão nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, công nghệ phát
thanh, truyền thanh đã tạo ra một kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội. Ngày nay, phát
thanh, truyền thanh là phương tiện thiết yếu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dân tộc, trở thành công cụ
sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng. Ở
thập kỉ 50 của thế kỉ XX, phát thanh, truyền thanh cùng với truyền hình chỉ được sử dụng như là công cụ
giải trí, rồi thêm chức năng thông tin. Dần dần phát thanh, truyền thanh đã trực tiếp tham gia vào quá trình
sử dụng và giám sát xã hội, tạo lập và định hướng dư luận, giáo dục và phổ biến kiến thức, phát triển văn
hóa, quảng cáo và các dịch vụ khác. Sự ra đời của phát thanh, truyền thanh đã góp phần làm cho hệ thống
truyền thông đại chúng không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về chất lượng.
- Xét theo góc độ kỹ thuật truyền tải có sóng phát thanh, truyền thanh và phát thanh online.
- Xét dưới góc độ thương mại có phát thanh công cộng và phát thanh thương mại.
- Xét theo tiêu chí mục đích nội dung, người ta chia phát thanh, truyền thanh thành phát thanh giáo dục, phát
thanh giải trí,.. Xét theo góc độ kỹ thuật có phát thanh, truyền thanh tương tự (Analog Radio) và phát thanh số
(Digital Radio)
*Phát thanh sóng: ( Radio phát thanh )
Radio phát thanh được thực hiện theo nguyên tắc kỹ thuật như sau: âm thanh được mã hóa dưới dạng
các tín hiệu sóng và phát vào không trung. Các máy thu tiếp nhận các tín hiệu rồi giải mã nhằm tạo ra âm
thanh trên máy thu thanh. Còn sóng phát thanh là sóng mang nó là một bước sóng được xác định rõ
ràng. Bước sóng này tương ứng với một tần số. Bước sóng càng ngắn thì tần số càng cao. Đó là số lần
dao động mà sóng này thực hiện trong một giây. Sóng mang được sinh ra từ một tín hiệu điện từ dao

Footer Page 16 of 166.

16


Header Page 17 of 166.
động ở tần số đó trong ăng ten, thực hiện phát thẳng, vì thế ăngten thu khác với sóng truyền hình là
không bắt buộc phải ''nhìn thấy'' được ăngten máy phát và phải nằm trong vùng phủ sóng thì mới nhận

- Năng lực tiếp thị: là khả năng xủ l{ được các vấn đề về nhu cầu, xu thế của thị trường, nhu cầu của
khách hàng và các kỹ năng thu thập thông tin thị trường

Footer Page 17 of 166.

17


Header Page 18 of 166.
- Năng lực liên kết: là khả năng về mặt tổ chức trong chuyển giao công nghệ ở ba mức độ khác nhau:
trong nội bộ đơn vị, giữa các doanh nghiệp và giữa đơn vị và hệ thống hạ tầng khoa học và công nghệ
- Năng lực đổi mới lớn: là khả năng tạo ra công nghệ mới về mặt nguyên tắc, thiết kế các đặc tính
mới của sản phẩm và quy trình (bao gồm cả các ý tưỏng mới về sản phẩm), và khả năng ứng dụng các tri
thức khoa học trong việc đưa ra được các { tưỏng có thể đăng k{ (patent) được.
Những năng lực này tập trung vào các chức năng hoạt động của một đơn vị, và đã đi dần từ mức độ dễ
đến khó, đơn giản đến phức tạp, từ giai đoạn tiền đầu tư cho tới các hoạt động phổ biến và chuyển giao.
Việc tách riêng năng lực tiếp thị ra khỏi năng lực sản xuất đã nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động
này trong sự thành công của chuỗi hoạt động đổi mới công nghệ.
Đối với các nước đang phát triển, phát triển công nghệ chủ yếu tập trung vào nhập khẩu công nghệ
nước ngoài. Chuyển giao công nghệ trong tình hình như vậy làm phát sinh nhiều vấn đề: giá công nghệ
quá cao; công nghệ không phù hợp với nguồn lực, điều kiện và mục tiêu; phụ thuộc vào công nghệ nước
ngoài … dẫn đến việc sử dụng công nghệ kém hiệu quả. Từ thực tế như vậy, các nước đang phát triển
nhận thấy cần phải xây dựng và phát triển năng lực công nghệ quốc gia. Đây là nhiệm vụ cơ bản của các
nước đang phát triển, không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế, mà còn xuất phát từ quan điểm xã hội, vì
những tài sản phi vật chất như kỹ năng và kiến thức đóng góp đáng kể vào sự phát triển văn hoá – xã hội
của đất nước. Hơn nữa, người ta có thể khẳng định rằng có nguồn tài nguyên lớn mà năng lực công nghệ
yếu kém thì không thể đảm bảo cho quá trình phát triển.
- Theo Lall, “ Năng lực công nghệ quốc gia (ngành, cơ sở) là khả năng của một nước triển khai các công
nghệ hiện có một cách có hiệu quả và ứng phó được với những thay đổi công nghệ.”
Theo định nghĩa này có hai mức hoạt động phát triển công nghệ, cũng là hai cơ sở để phân tích năng lực

doanh, licence v.v...); khả năng đàm phán về giá cả, các điều kiện đi kèm trong hợp đồng chuyển giao
công nghệ; khả năng học tập, tiếp thu công nghệ mới được chuyển giao; khả năng triển khai nhanh công
nghệ đã tiếp nhận; khả năng tìm kiếm thị trường cho sản phẩm mới.
c. Năng lực hỗ trợ cho tiếp nhận công nghệ: Năng lực hỗ trợ tiếp nhận công nghệ của một cơ sở là khả
năng của cơ sở đó trong việc giao công nghệ cho một cơ sơ khác cùng trong lãnh thổ của một quốc gia.
Nó bao gồm các khía cạnh sau: khả năng tìm kiếm được đối tác thích hợp để giao công nghệ; khả năng
chủ trì dự án giao công nghệ; khả năng đào tạo nguồn nguồn nhân lực cho bên tiếp nhận công nghệ; khả
năng tìm kiếm nguồn tài chính và hình thức thanh toán thích hợp cho bên tiếp nhận công nghệ; khả
năng tìm kiếm thị trường để tiêu thu sản phẩm cho bên tiếp nhận công nghệ.
d. Năng lực đổi mới công nghệ bao gồm: khả năng thích nghi công nghệ đã tiếp nhận (có những thay
đổi nhỏ về sản phẩm, thay đổi nhỏ về thiết kế sản phẩm và nguyên liệu...); khả năng sao chép (làm lại
theo mẫu) có thể có những thay đổi nhỏ về quy trình công nghệ; khả năng thích nghi công nghệ được
chuyển giao bằng thay đổi cơ bản về quy trình công nghệ; khả năng tiến hành nghiên cứu và triển khai
thực sự, thiết kế quy trình công nghệ dựa trên kết quả nghiên cứu và triển khai; khả năng sáng tạo công
nghệ, tạo ra các sản phẩm hoàn toàn mới.

1.3. Định hướng phát triển phát thanh, truyền thanh

Định hướng phát triển thông tin thể hiện qua những điểm quan trọng sau đây:
- Hoạt động thông tin và các loại hình thông tin ở nước ta đặt dưới sự lãnh đạo của
Đảng, quản lý của Nhà nước và tuân thủ các quy định của pháp luật.
- Phát triển nhanh, mạnh, vững chắc hệ thống thông tin ở nước ta, đảm bảo
thông tin không chỉ phục vụ tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà còn là
lĩnh vực có khả năng tạo nguồn thu quan trọng, đóng góp vào ngân sách Nhà nước.

Footer Page 19 of 166.

19



20


Header Page 21 of 166.
- Phát triển thông tin phải đảm bảo an ninh thông tin. Bảo đảm an ninh thông
tin trước hết là giữ vững độc lập chủ quyền và định hướng xã hội chủ nghĩa của đất
nước, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi mưu đồ chống phá sự nghiệp cách
mạng và công cuộc đổi mới của nước ta.
Phát thanh, truyền thanh cơ sở là một lĩnh vực trong hoạt động thông tin báo chí,
có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác tư tưởng, thông tin tuyên truyền. Nghị
quyết Trung ương 5 (Khóa X) đã nêu rõ công tác tư tưởng, lý luận và báo chí là một bộ
phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng. Chính vì vậy,
tăng cường công tác quản lý, phát triển báo chí, phát thanh, truyền hình trong bối cảnh
đất nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới, với những nhiệm vụ cách mạng mới, là
yêu cầu hết sức cấp thiết.
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Phát triển
đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng. Báo chí, xuất bản... làm tốt
chức năng tuyên truyền thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước; phát hiện những nhân tố mới, cái hay, cái đẹp trong xã hội, giới thiệu
gương người tốt việc tốt, những điển hình tiên tiến, phê phán các hiện tượng tiêu
cực, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, đấu tranh với những quan điểm sai trái; coi
trọng nâng cao tính chân thật, tính giáo dục và tính chiến đấu của thông tin. Sử
dụng Internet đẩy mạnh thông tin đối ngoại, đồng thời hạn chế, ngăn chặn những
hoạt động tiêu cực qua mạng. Khắc phục khuynh hướng "thương mại hoá" trong
hoạt động báo chí, xuất bản. Nâng cao bản lĩnh chính trị, tư tưởng, ý thức trách
nhiệm, trình độ văn hoá và nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức của đội ngũ báo chí,
xuất bản”.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 cũng yêu cầu:
“Nâng cao chất lượng hệ thống thông tin, báo chí, Internet, xuất bản. Bảo đảm
quyền được thông tin và cơ hội tiếp cận thông tin của nhân dân, đặc biệt ở các

của hàng loạt trạm truyền thanh cấp xã, phường, thị trấn.
Có thể khẳng định, kể từ khi ra đời cho đến nay, hệ thống phát thanh, truyền thanh luôn là một bộ
phận hữu cơ trong hệ thống báo chí chính trị của cả nước. Riêng đối với khu vực nông thôn, vùng sâu,
vùng xa, miền núi, hải đảo - nơi mà số lượng khán giả chiếm đến 80% dân số cả nước - hệ thống này có
tầm quan trọng đặc biệt.

Hệ thống phát thanh, truyền thanh là phương tiện tuyên truyền hữu hiệu của địa

phương, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; là công cụ trực tiếp của Đảng,
chính quyền địa phương trong công tác chỉ đạo, quản lý, điều hành để phát triển kinh
tế, xã hội. Đây là cơ quan thông tin, tuyên truyền để giúp nhân dân nắm bắt các chủ
trương, chính sách của cấp trên và chính quyền địa phương. Trong sự phát triển mạnh mẽ

Footer Page 22 of 166.

22


Header Page 23 of 166.
của các loại hình báo chí hiện đại, hệ thống đài truyền thanh cơ sở vẫn luôn có chỗ đứng nhờ tính
hiệu quả của nó.
1.4.2. Chính sách nâng cao năng lực công nghệ phát thanh, truyền thanh
a. Khái niệm chính sách
Trong mục này, Luận văn sử dụng tài liệu của Vũ Cao Đàm *9+. Có nhiều cách tiếp cận để xem xét khái
niệm chính sách, trong đó có: tiếp cận chính trị học, tiếp cận nhân học và nhân học xã hội, tiếp cận tâm
l{ học, tiếp cận kinh tế học, tiếp cận đạo đức học, tiếp cận hệ thống, tiếp cận khoa học pháp l{, tiếp cận
tổng hợp.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phạm Tuấn Anh (2010). Thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và triển khai

11. Trần Thanh Lâm (2008). Quản trị công nghệ, Nhà xuất bản Văn hóa
12. Cao Anh Minh (2007). Đổi mới quản lý hoạt động công nghệ ngành
truyền hình Việt Nam. Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý KH&CN,
Trường Đại học KHXH&NV.
13. Vũ Bá Tâm (2007). Ứng dụng công nghệ số vào sản xuất, lưu trữ và phát
sóng chương trình phát thanh, truyền thanh tỉnh Hải Dương
14. Thủ tướng Chính phủ (2005): Quyết định 219/2005/QĐ-TTG của Thủ
tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010
15. Thủ tướng Chính phủ (2005): Quyết định 246/2005/QĐ-TTG của Thủ
tướng chính phủ Phê duyệt chiến lược phát triển công nghệ thông tin và
truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
16. Thủ tướng Chính phủ (2009): Quyết định số 22/2009/QĐ-TTG của Thủ tướng
Chính phủ: Phê duyệt Quy hoạch truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền thanh đến
năm 2020.

17. Thủ tướng Chính phủ (2009): Quyết định 1287/QÐ-TTg Về việc phê
duyệt Quy hoạch phát triển Đài Tiếng nói Việt Nam đến năm 2010. Quy
hoạch truyền dẫn phát sóng PTTH đến năm 2020
18. Thủ tướng Chính phủ (2013): Quyết định 1448/QĐ-TTg năm 2013 phê
duyệt Quy hoạch phát triển dịch vụ phát thanh, truyền thanh Việt Nam
đến năm 2020.
19. Đoàn Việt Trung (2005) Nghiên cứu ứng dụng công nghệ phát thanh số

Footer Page 24 of 166.

24


Header Page 25 of 166.
tại Việt Nam.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status