Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương thức làm mạ khác nhau đến sinh trưởng, phát triển của lúa Khang dân (LV thạc sĩ) - Pdf 41

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN THỊ THU HƯƠNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC
PHƯƠNG THỨC LÀM MẠ KHÁC NHAU
ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN
CỦA LÚA KHANG DÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC CÂY TRỒNG

THÁI NGUYÊN - 2015

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN THỊ THU HƯƠNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC
PHƯƠNG THỨC LÀM MẠ KHÁC NHAU
ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN
CỦA LÚA KHANG DÂN
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10



ii

LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự
quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, Phòng đào tạo, các thầy giáo, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp, cơ quan
và gia đình.
Trước tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.
TS. Hoàng Văn Phụ - người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi
trong quá trình hoàn thành luận văn này.
Đồng thời tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể các thầy, cô giáo trong
Phòng đào tạo, các thầy giáo, cô giáo giảng dạy chuyên ngành, Phòng thí
nghiệm trung tâm Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ hoàn
thiện bản luận văn này.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới tất cả bạn
bè, đồng nghiệp, cơ quan, gia đình và người thân đã quan tâm động viên tôi
trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn.
Tác giả luận văn

Trần Thị Thu Hương

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


iii


http://www.lrc.tnu.edu.vn


iv

2.4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu ............................................... 37
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................... 38

3.1. Điều kiện khí hậu tại Thái Nguyên ...................................................... 38
3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của phương thức làm mạ đến sinh trưởng
phát triển của cây mạ giống lúa Khang dân 18 ........................................... 39
3.2.1. Ảnh hưởng của phương thức làm mạ đến đặc điểm cây mạ
vụ mùa 2014 khi mạ được 10 ngày tại Phú Bình, Thái Nguyên ..... 40
3.2.2. Ảnh hưởng của phương thức làm mạ đến sinh trưởng, phát triển của
bộ rễ mạ vụ mùa 2014 khi mạ được 10 ngày tại Phú Bình, Thái Nguyên ...... 44
3.2.3. Ảnh hưởng của phương thức làm mạ đến trọng lượng rễ, thân mạ vụ
mùa 2014 khi mạ được 10 ngày tại Phú Bình, Thái Nguyên ......................... 46
3.2.4 Ảnh hưởng của phương thức làm mạ đến sức sống của mạ vụ
mùa 2014 khi mạ được 10 ngày tại Phú Bình, Thái Nguyên................ 48
3.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của chất lượng cây mạ đến sinh trưởng,
phát triển và năng suất lúa Khang dân 18 ................................................... 49
3.3.1. Ảnh hưởng của chất lượng mạ đến thời gian sinh trưởng của
giống lúa Khang dân 18 vụ mùa 2014 tại Phú Bình, Thái Nguyên ..... 49
3.3.2. Ảnh hưởng của chất lượng mạ đến chiều cao cây, khả
năng đẻ nhánh và tỷ lệ hữu hiệu của giống lúa Khang dân - vụ
mùa 2014 tại Phú Bình, Thái Nguyên ........................................... 51
3.3.3. Ảnh hưởng của chất lượng mạ đến sinh trưởng của bộ rễ lúa
Khang Dân tại Phú Bình, Thái Nguyên ............................................... 53
3.3.4. Ảnh hưởng của chất lượng mạ tới khả năng tích luỹ vật

: Đối chứng

FAO

: Tổ chức Nông nghiệp và lương thực Thế giới

IRRI

: Viện nghiên cứu lúa Quốc tế

NSLT

: Năng suất lý thuyết

NSTT

: Năng suất thực thu

TGST

: Thời gian sinh trưởng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


vii

DANH MỤC CÁC BẢNG


http://www.lrc.tnu.edu.vn


viii

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


ix

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Ảnh hưởng của chất lượng mạ đến đường kính rễ lúa ................... 54
Hình 3.2: Ảnh hưởng của chất lượng mạ đến chiều dài rễ/khóm ................... 55
Hình 3.3: Biểu đồ khả năng tích lũy chất khô rễ/khóm Khang Dân 18 giai
đoạn làm đòng vụ mùa 2014 ................................................................. 58
Hình 3.4. Biể u đồ ảnh hưởng của các phương thức làm mạ đế n năng suấ t
thực thu và năng suấ t lý thuyế t của giố ng lúa Khang dân 18 ............... 66

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


1

MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề


2

việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm tăng khả năng chịu đựng của cây trồng là
việc làm rất cần thiết.
Có rất nhiều các nghiên cứu về phân bón, chế độ nước tưới, mật độ…
Tuy nhiên trong thực tiễn sản xuất hiện nay vẫn còn tồn tại một số vấn đề về
kỹ thuật canh tác chưa thực sự phù hợp với từng loại giống, từng điều kiện cụ
thể vì thế hiệu quả sản xuất lúa của người dân chưa cao. Xuất phát từ tình
hình thực tiễn trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng
của các phương thức làm mạ khác nhau đến sinh trưởng, phát triển của
lúa Khang dân”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được ảnh hưởng của các phương thức làm mạ đến chất lượng
mạ và sinh trưởng, phát triển, năng suất của lúa Khang dân 18 để tìm ra
phương thức gieo mạ phù hợp nhất tại Phú Bình - Thái nguyên.
3. Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá được ảnh hưởng của các phương thức gieo mạ tới chất lượng
mạ, và xác định được sự ảnh hưởng của chất lượng mạ tới sinh trưởng phát
triển của lúa Khang Dân tại Phú Bình.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
4.1. Ý nghĩa khoa học
- Bước đầu nghiên cứu khả năng áp dụng hệ thống thâm canh lúa cải tiến
SRI đặc biệt là phương thức làm mạ phù hợp cho lúa Khang Dân và là cơ sở
cho biện pháp kỹ thuật về mặt khoa học.
- Kết quả thu được từ thực nghiệm là căn cứ khoa học để bổ sung, hoàn
thiện quy trình kỹ thuật thâm canh lúa cải tiến tại Phú Bình Thái nguyên.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Xác định được phương thức gieo mạ phù hợp
- Đề tài mang tính ứng dụng cao, khi ứng dụng vào thực tiễn sản xuất sẽ

mầm nhỏ bé, còi cọc.
* Không khí: Không khí cung cấp oxy, là yếu tố thiết yếu để nẩy mầm
bình thường. Không có không khí cây mạ không thể nẩy mầm được. Tuy
nhiên, cây lúa là cây có thể nẩy mầm khi hạt giống ngập trong nước, điều kiện
này cho thấy yêu cầu không khí với hạt lúa không cao. Khi nẩy mầm hạt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


4

giống thiếu không khí sẽ kém, hạt giống có mầm dài nhưng rễ lại ngắn, loại
mầm này không đạt yêu cầu. Ngược lại thừa không khí rễ phát triển mạnh,
còn mầm không phát triển. Nên khi ngâm ủ hạt giống cần đảo để lượng giống
bên trong và bên ngoài nhân không khí như nhau.
1.2. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới

Lúa gạo là cây lương thực trên thế giới. Hiện nay thế giới có trên 100 nước
trồng lúa ở hầu hết các châu lục. Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo vẫn tập trung chủ
yếu ở các nước châu Á nơi chiếm tới 90% diện tích gieo trồng và sản lượng [1].
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
trong những năm gần đây

1999

Diện tích
(triệu ha)
156,8


569,1

2003

148,5

39,39

585,1

2004

150,6

40,23

605,8

2005

154,9

40,78

632,2

2006

155,5


161,6

43,49

703,2

2011

163,6

44,30

724,9

2012

163,2

44,10

719,7

2013

165,1

44,90

740,9


(triệu tấn)

Ấn Độ

43,9

35,9

159,2

Trung Quốc

30,6

67,4

205,9

Indonesia

13,8

51,4

71,3

Bangladesh

11,6


2,4

47,9

11,5

Pakistan

2,7

34,8

9,4

Nhật Bản

1,6

67,4

10,7

Nước

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

Sản lượng

http://www.lrc.tnu.edu.vn



7

Bảng 1.3. Sản xuất lúa ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2014
Năm

Diện tích
(triệu ha)

Năng suất
( tạ/ha)

Sản lượng
(triệu tấn)

2000

7,7

42,4

32,5

2001

7,5

42,9

32,1


35,8

2006

7,3

48,9

35,8

2007

7,2

49,9

35,9

2008

7,4

52,3

38,7

2009

7,4


7,9

55,7

44,0

2014

7,8

57,6

44,9

(Nguồn : Theo tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc, 2014)
Diện tích lúa có xu hướng giảm nhưng sản lượng sẽ vẫn duy trì ở mức
ổn định và có thể tăng. Trong giai đoạn từ năm 2000 - 2007, tổng diện tích lúa
của cả năm có xu hướng giảm liên tục, trong khi đó sản lượng lại có biến
động tăng đạt mức cao nhất là 36,1 triệu tấn/năm vào năm 2004. Điều này thể
hiện trình độ thâm canh cây lúa của Việt Nam đã có những tiến bộ nhất định.
Năm 2008, sản xuất lúa đã tăng cả về diện tích và sản lượng. Diện tích lúa đã
tăng trở lại (gần 7,4 triệu ha), bằng mức của năm 2004 (hơn 7,4 triệu ha). Đây
cũng là năm được mùa về lúa gạo của Việt Nam. Sự quan tâm của nhà nước

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


9

SRI bắt đầu được nghiên cứu và đánh giá ở Trung Quốc từ năm 1999 2000 tại trường Đại học Nông nghiệp Nam Ninh của tiến sỹ Cao Weixing, và
trung tâm nghiên cứu và phát triển lúa lai bởi giáo sư Yuan Longping.
Chủ nhiệm khoa tài nguyên và môi trường trường đại học nông nghiệp
Trung Quốc tại Bắc Kinh đã thử nghiệm kỹ thuật SRI trên cả hai nền đất
trũng và đất cao đều đạt kết quả rất tốt. Trung tâm hội nhập và phát triển nôn
g nghiệp ở CAU đã làm một đánh giá về tính kinh tế, xã hội và chấp nhận của
SRI tại cộng đồng Shichuan. Vào năm 2003 chỉ có 7 nông dân ở làng
Xinsheng là sử dụng phương pháp của SRI, nhưng đến năm 2004 đã có 398
hộ áp dụng (chiếm 65% tổng số nông dân ở đó). Năm 2003 là một năm mà
hạn hán kéo dài, nhưng những ruộng lúa ứng dụng kỹ thuật SRI thì cho năng
suất cao hơn hẳn năng suất của vụ năm 2002 với phương pháp canh tác thông
thường. Trong khi đó với phương thức canh tác theo truyền thống năng suất
bị giảm đi 1/3. Điều này đã giải thích tại sao mà SRI được chấp nhận nhanh
đến vậy. Năm 2004, SRI đã làm tăng năng suất lên 35,2%, tiết kiệm nước tưới
tới 43,2%. Theo những người nông dân thì nét đặc biệt hấp dẫn của SRI là
giảm bớt được sức lao động theo cách cấy thông thường. Năng suất bình quân
của những ruộng lúa canh tác theo SRI đạt 10 tấn/ha, cao hơn so với phương
pháp sản xuất truyền thống (năng suất 6 -7,5 tấn/ha). Thậm chí với mô hình
trình diễn ở tỉnh Zhejing, canh tác theo phương thức của SRI đã làm tăng
năng suất lên 11,5 tấn/ha, những người nông dân ở đây đã cấy với khoảng
cách hàng cách hàng là 50 x 50cm, và họ đã giảm được 30-40% lượng nước
tưới, 70% sâu bệnh hại [11].
Học viện khoa học nông nghiệp Trung Quốc cũng đã thử nghiệm về SRI

tò mò muốn tìm hiểu về SRI. Mặc dù nhìn thấy kết quả của các biện pháp
SRI, họ vẫn nghĩ rằng những người nông dân làm thí nghiệm đã nhận được
những hạt giống đặc biệt, và nhiều nông dân quan tâm đã bắt đầu đặt hàng hạt
giống cho mùa tới [7].
Năm 2002, sau hai lượt thí nghiệm, một vào mùa mưa và một vào mùa
khô, CEDAC đã giành được sự tin tưởng của nông dân tham gia thí nghiệm
về SRI. Họ cũng đã sửa đổi các nguyên tắc canh tác của SRI cho phù hợp với
tập quán canh tác của nhiều địa phương khác nhau. Một cuốn sách nhỏ bằng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


11

tiếng Khmer về SRI, với những hình vẽ minh họa đã được xuất bản để phổ
biến tới nhiều nông dân [7].
Sau những thành công ban đầu của SRI, chính phủ Campuchia, đặc biệt
là ngài Bộ trưởng Bộ nông nghiệp Chan Sarun, đã chính thức ủng hộ và thúc
đẩy phát triển SRI trong năm 2005. Kể từ đó SRI đã được đẩy mạnh trong tất
cả các tỉnh của Campuchia. Theo báo cáo chính thức của MAFF (thư ký SRI),
tính đến cuối năm 2008, đã có 104.750 nông dân áp dụng SRI với 58.290 ha
diện tích canh tác. Năng suất trung bình của SRI là 3,53 tấn/ha, so với năng
suất lúa bình quân của cả nước là 2,62 tấn/ha. Nông dân đã bắt đầu thay đổi
hệ thống canh tác của họ, khi áp dụng SRI họ có thể tăng năng suất lên gấp
đôi hoặc gấp ba sản lượng. Sản lượng lúa tăng từ 1,5-1,8 tấn/ha lên 2,5-4
tấn/ha (tăng từ 50-150%), lượng hạt giống giảm từ 70-80%, phân bón hóa học
giảm 50% (từ 150kg/ha xuống còn 75 kg/ha) [9], [13].
Thử nghiệm SRI đã bắt đầu thực hiện ở Myanmar thông qua Quỹ phát
triển Metta (Metta Development Foundation). Trong năm 2000, Metta bắt đầu

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp thông báo về "Tăng cường năng suất lúa gạo
thông qua xúc tiến SRI tại các khu vực tưới tiêu", ngày 24 tháng 9 năm 2008.
Đến mùa khô 2008-2009, diện tích áp dụng SRI trong khu vực ước tính là hơn
1.277 ha/ 4.168 ha tổng số [13].
Thí nghiệm SRI đầu tiên tại MCC (Multiple Cropping Center) tại đại học
Chiangmai bằng việc thử nghiệm hai giống lúa nếp và ba giống lúa tẻ, với đặc
điểm sinh trưởng mẫn cảm với ánh sáng, đã được trồng theo phương pháp
canh tác truyền thống và theo chế độ quản lý của SRI, như cấy mạ non 17
ngày tuổi so với phương pháp canh tác truyền thống là cấy mạ già 34 ngày
tuổi. Cấy theo khoảng cách rộng 25 x 25 cm và cấy 1 dảnh/khóm. Một cuộc
hội thảo đầu bờ đã diễn ra ngày 10/5/2001, những người nông dân đã nhìn
thấy hiệu quả của việc mạ non và cấy 1 dảnh với năng suất đạt được là 5,11
tấn/ha so với phương pháp truyền thống chỉ đạt 4,3 tấn/ha.
Đội ngũ cán bộ nông nghiệp của MCC đã chia sẻ những báo cáo kinh
nghiệm có được về SRI từ Madagasca và Srilanka với các thành viên khác
của mạng lưới nông nghiệp bền vững miền bắc Thái Lan (Northern Thai
Sustainable Agriculture Network). Đội ngũ này cũng bắt đầu dự thảo một
cuốn sách giáo khoa nhỏ bằng tiếng Thái để phổ biến về SRI được dễ dàng.
Khi kỹ thuật SRI đã trở nên phổ biến thì những người nông dân địa phương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


13

đã quan tâm rất nhiều về các vấn đề như: nguồn cung cấp dinh dưỡng hữu cơ,
sâu bệnh hại, kiểm soát ốc bươu vàng..., đặc biệt người dân quan tâm đến chế
độ quản lý nước và diệt trừ cỏ dại [8], [13].
Ở Indonesia, những thử nghiệm đầu tiên về phương pháp SRI đã được

tác và điều kiện kinh tế.
Những lý do chính mà SRI được quan tâm ở Iran là:
- Sự phổ biến của trang trại nhỏ với những cánh đồng trồng lúa có diện

tích dưới 0,7ha.
- Giá phải trả cho công lao động ở đây là rất lớn.
- Nguồn nước tưới bị thiếu.
- Nhu cầu của mỗi địa phương là khác nhau, làm giảm sản lượng, và dễ

bị ảnh hưởng bởi sâu bệnh.
- Vấn đề về sức khỏe và ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất.

SRI bắt đầu được nghiên cứu và thực hành ở Iran vào năm 2004 với diện
tích thử nghiệm là 2ha, với 3 khoảng cách cấy là 25 x 25cm, 30 x 30cm, 40 x
40cm, sử dụng mạ non tuổi và chỉ cấy 1 dảnh, với 3 phương thức canh tác đó
là: Canh tác theo truyền thống của địa phương, theo SRI và phương thức canh
tác sử dụng lúa lai. Kết quả cho thấy canh tác theo phương pháp truyền thống
đạt sản lượng thấp nhất. Đặc biệt việc sử dụng mạ non tuổi, cấy 1 dảnh và
khoảng cách cấy hàng rộng đã làm tăng cường hoạt động của hệ vi sinh vật
đất, làm tăng khả năng thông thoáng của đất, từ đó làm cho bộ rễ cây khỏe,
lan xa và rộng, cây lúa có khả năng chống chịu với sâu bệnh tốt hơn.
Những công thức cấy với khoảng các h 25 x 25cm và 30 x 30cm cho
năng suất cao nhất, đạt từ 6,95 tấn/ha đến 7,03 tấn/ha. Lượng hạt giống đã
giảm từ 60-70 kg/ha xuống còn 10 kg/ha [7].
Timbuktu, vùng đất khô cằn giáp sa mạc Sahara này là một trong những
khu vực bất ổn lương thực nhất tại Mali. Lượng mưa trung bình hang năm chỉ
khoảng 150 - 200 mm. Vì thế sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào lưu
lượng nước của con sông Niger và lượng nước lũ lên theo mùa của các nhánh
sông và ao hồ. Sản lượng thường rất thấp, chưa đến 1 tấn/ha, tính cả lúa gạo và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status