NHỮNG YẾU TỐ TÂM LÝ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN TƯ TƯỞNG, VĂN HÓA LÃNH ĐẠO VIỆT NAM - Pdf 41

NHỮNG YẾU TỐ TÂM LÝ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG
ĐẾN TƯ TƯỞNG, VĂN HÓA LÃNH ĐẠO VIỆT NAM
TS. Nguyễn Viết Lộc*

Đặc trưng tư tưởng và văn hóa lãnh đạo, quản lý ở từng quốc gia, dân tộc
không thể thoát ly khỏi môi trường thể chế, kinh tế, văn hóa, xã hội của quốc gia,
dân tộc đó. Tư tưởng và văn hóa lãnh đạo Việt Nam là hệ yếu tố được cộng đồng
các nhà lãnh đạo Việt Nam chọn lọc, tiếp biến, sáng tạo và sử dụng trong quá trình
hoạt động của mình. Các yếu tố đó có khởi nguồn và chịu ảnh hưởng từ các yếu tố
thuộc về tư tưởng, văn hóa chung của nhân loại, của dân tộc và của đặc trưng nghề
nghiệp. Điều kiện tự nhiên, phương thức sản xuất, xã hội truyền thống và quá trình
giao lưu văn hóa của Việt Nam là những yếu tố cơ bản hình thành nên hệ tư tưởng,
nhân cách và văn hóa con người Việt Nam nói chung và tư tưởng, văn hóa lãnh đạo
nói riêng. Bài viết này phân tích các yếu tố thuộc về tâm lý - xã hội truyền thống có
tác động, ảnh hưởng đến tư tưởng, văn hóa lãnh đạo Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế ngày nay.
1. Các yếu tố tâm lý - xã hội có nguồn gốc từ điều kiện tự nhiên và
phương thức sản xuất.
Về vị trí địa lý, Việt Nam nằm ở đông nam lục địa châu Á, bắc giáp Trung
Quốc, tây giáp Lào và Cămpuchia, đông và nam giáp biển Thái Bình Dương. Môi
trường tự nhiên có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng lắm, mưa nhiều. Điều kiện khí
hậu nhiệt đới gió mùa cùng với đất đai khá phì nhiêu, màu mỡ là môi trường thuận
lợi cho kinh tế nông nghiệp trồng trọt, đặc biệt là trồng lúa nước. Các nhà nghiên
cứu tư tưởng, văn hóa cho rằng, Việt Nam có khí hậu nóng (dương), nền văn hóa
nông nghiệp lúa nước với những đặc trưng âm tính: sống thì muốn yên ổn ở một
*

Chánh Văn phòng ĐHQGHN, ĐT: 0912377116, email: [email protected].

1



2


Con người Việt Nam dung hợp trong tiếp nhận, mềm dẻo, linh hoạt, hiếu hóa
trong đối phó. Với đặc tính truyền thống này trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày
nay có thể khiến lãnh đạo Việt Nam có khả năng tiếp nhận nhanh những công
nghệ, thành tựu của thế giới, tiếp biến được các giá trị tư tưởng, văn hóa quốc tế để
rút ngắn khoảng cách về trình độ lãnh đạo, quản lý, điều hành với các nước phát
triển. Tính cách mềm dẻo, linh hoạt, hòa hiếu sẽ tạo lợi thế và phù hợp với tinh
thần phổ biến ngày nay trong ngoại giao, đàm phán, thương lượng là hài hòa, đôi
bên cùng có lợi (win-win).
Ngoài ra, tính linh hoạt, mềm dẻo cũng sẽ tạo cho lãnh đạo Việt Nam khả
năng thích ứng nhanh, khả năng đối phó tốt với những biến động của môi trường
cũng như sự thay đổi trong nội bộ tổ chức. Đây chính là yếu tố tạo dựng khả năng
quản trị rủi ro cho lãnh đạo.
Tuy nhiên, mặt trái của tính mềm dẻo, linh hoạt dễ dẫn đến tư duy không nhất
quán, thiếu nguyên tắc hay thói quen tùy tiện, co giãn giờ giấc, hay thay đổi lịch
làm việc, không thực hiện các cam kết, lời hứa - ảnh hưởng đến chữ "tín" trong
lãnh đạo, quản lý.
Một đặc tính tự nhiên khác, Việt Nam là một nước nông nghiệp, được hình
thành trên một hệ sinh thái phổ tạp mà đặc tính chung của nó là đa dạng sinh học,
chủng loại giống loài nhiều, nhưng số lượng mỗi loài rất ít, có ý nghĩa đảm bảo nhu
cầu tự cung, tự cấp trên một đơn vị sản xuất, cư trú, nhưng mặt khác lại hạn chế
đến nhu cầu trao đổi. Nó khác với nền kinh tế nông nghiệp hình thành trên hệ sinh
thái chuyên biệt, với đặc điểm chủng loại giống loài ít, nhưng số lượng mỗi giống
loài nhiều, đã thúc đẩy nhu cầu chuyên canh và trao đổi lẫn nhau giữa các vùng. Do
vậy, xã hội truyền thống Việt Nam là xã hội tiểu nông, tự cung tự cấp, có trao đổi
nhưng chỉ là trao đổi sản phẩm dư thừa của nền sản xuất tiểu nông (cân gạo, mớ
rau, mắm, muối...) thông qua chợ làng. Hay cũng có người gọi đó là kinh tế hàng

với thiên nhiên
chế ngự thiên nhiên
Thiên về tổng hợp và biện Thiên về phân tích và siêu
Lối nhận thức, tư duy
chứng (trọng quan hệ);
hình (trọng yếu tố);
chủ quan, cảm tính
khách quan, lý tính
và kinh nghiệm
và thực nghiệm
Nguyên tắc
Trọng tình, trọng đức
Trọng sức mạnh, trọng tài,
tổ chức cộng đồng
trọng văn, trọng nữ
trọng võ, trọng nam
Cách thức
Linh hoạt và dân chủ,
Nguyên tắc và quân chủ,
tổ chức cộng đồng
trọng cộng đồng
trọng cá nhân
Ứng xử với môi
Dung hợp trong tiếp nhận;
Độc tôn trong tiếp nhận;
trường xã hội
mềm dẻo, hòa hiếu
cứng rắn, hiếu thắng
trong đối phó
trong đối phó

hình thành trên nền tảng của phương thức sản xuất nông nghiệp và các cuộc chiến
tranh bảo vệ Tổ quốc kéo dài, chiếm hơn 2/3 lịch sử.
Theo các nhà nghiên cứu, xã hội truyền thống Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu
sắc nhất của thiết chế và giá trị xã hội thời kỳ đầu lập quốc - là thời kỳ mà nhiều
nhà nghiên cứu gọi là “lớp cơ tầng văn hóa bản địa”, biểu hiện qua bộ ba: nhà làng - nước.
- Nhà (gia đình, gia tộc, họ hàng) vừa là giá trị văn hóa trung tâm, và vừa là hệ
điều tiết trực tiếp và mạnh mẽ nhất hành vi vừa là mô thức tổ chức cộng đồng đối
với mọi người Việt Nam. Tổ chức nhân sự theo mô hình hộ gia đình, gia trưởng có
hiệu quả không chỉ trong lao động nông nghiệp mà còn trong cả hoạt động thương
mại, công nghiệp nhỏ. Nhưng vượt quá giới hạn, phạm vi tổ chức nhỏ thì quản trị
kiểu gia đình đã lộ ra nhiều bất cập hoặc tính ưu việt của nó không còn.
- Làng là một thiết chế xã hội và văn hóa truyền thống có ảnh hưởng sâu nặng
đến tư tưởng, lối sống cá nhân và cách thức tổ chức cộng đồng của các nhà lãnh
đạo, quản lý nước ta hiện nay. Lối sống làng xã là lối sống đề cao tính cộng đồng
và tình nghĩa, sự chia sẻ, đùm bọc giữa các thành viên. Tổ chức cộng đồng, xã hội
theo kiểu làng xã vừa có tính tự quản, tự trị (đối với bên ngoài và với cấp trên) vừa
5


có tính dân chủ sơ khai (giữa các thành viên trong cộng đồng) nên nó được hầu hết
dân ta chấp nhận, không chỉ riêng các giai cấp, tầng lớp lao động.
Nước - đất nước hay quốc gia có nguồn gốc từ sự liên kết từ nhiều bộ tộc, làng
xã mà thành. Người Việt Nam có tinh thần, chủ nghĩa yêu nước cao độ, nét bản sắc
này được các nhà nghiên cứu gọi là con người Tổ quốc luận4. Tinh thần yêu nước
là nguồn gốc của ý chí chống giặc, diệt giặc cứu nước, bảo vệ Tổ quốc và trải qua
lịch sử đấu tranh giữ nước đã tôi đúc nên con người Việt Nam sức chiến đấu bền bỉ,
dẻo dai, sự hy sinh thân mình cho Tổ quốc. Do vậy, "tinh thần yêu nước được đặt
lên hàng đầu trong bảng thang giá trị về con người Việt Nam"5.
Với mô thức tổ chức cộng đồng nêu trên, con người Việt Nam được coi là có
tinh thần cộng đồng cao độ - xuất phát từ tinh thần cộng đồng, đoàn kết để chống

phải xóa bỏ. Cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp có sự phù hợp trong
thời chiến nhưng đã thành rào cản đối với những người muốn thực hiện mục tiêu,
lý tưởng “dân giàu, nước mạnh” và xã hội dân chủ.
Hộp 2. Tác động của giao lưu văn hóa đối với sự phát triển
8

TS. Nguyễn Thế Kiệt: Ảnh hưởng của Đạo đức phong kiến trong cán bộ lãnh đạo quản lý của Việt Nam hiện nay,
Nxb. CTQG, Hà Nội, 2001, trang 89.

8


của con người Việt Nam
* Trong xã hội nông nghiệp cổ truyền, con người Việt Nam là con người nông dân, với
những đức tính nổi bật sau:
+ Mặt tích cực:
- Tình yêu lao động, cần cù, chăm chỉ, vật lộn với thiên nhiên để duy trì sự sống và tồn tại.
- Tình yêu thương con người, bao dung, độ lượng.
- Tình yêu thương quê hương, bản quán
- Tình yêu đất nước, bất khuất, kiên cường, dũng cảm, mưu trí, anh hùng.
- Giản dị, chất phác, chân thành khiêm tốn, nặng tình trong quan hệ người - người.
+ Mặt tiêu cực:
- Thiển cận, do phạm vi giao lưu hạn chế nên thiếu tầm nhìn xa, trông rộng, thấy trước mắt,
không thấy lâu dài, thấy bộ phận, không thấy toàn cục.
- Địa phương chủ nghĩa, cục bộ, bản vị, khép kín.
- Tùy tiện, thiếu kỷ luật, thiếu tổ chức, được chăng hay chớ, đánh trống bỏ dùi, ưa nhàn
nhã, thích hội hè, ít quý trọng thời gian.
- Bình quân chủ nghĩa, chia đều, hòa tan trong cộng đồng, dựa dẫm số đông, ít bộc lộ cá
tính, "xấu đều hơn tốt lõi", thiếu tranh nhiệm cá nhân.
* Cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trong thế kỷ XX ở Việt Nam đã hình thành và phát

3. Các yếu tố tâm lý - xã hội có nguồn gốc từ quá trình đấu tranh giành
độc lập và xây dựng chủ nghĩa xã hội
Về địa chính trị, Việt Nam nằm ở một trong những khu vực được coi là cái nôi
của loài người và cũng được coi là một trong những trung tâm phát sinh nông
nghiệp sớm với nền văn minh lúa nước, nơi đã từng trải qua các cuộc cách mạng đá
mới và cách mạng luyện kim. Trên nền tảng phát triển kinh tế - xã hội thời Đông
Sơn, trước những đòi hỏi của công cuộc trị thủy và chống xâm lăng, Nhà nước Văn
Lang - Nhà nước đầu tiên - đã ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VII trước Công
nguyên. Bằng sức lao động cần cù sáng tạo, cư dân Văn Lang, (sau đó là Âu Lạc)
đã tạo dựng nên một nền văn minh tỏa sáng khắp vùng Đông Nam Á. Đi cùng với
Nhà nước đầu tiên của lịch sử Việt Nam là một nền kinh tế phong phú, một nền văn
hóa cao mà mọi người biết đến với tên gọi là văn minh Sông Hồng (còn gọi là văn
minh Đông Sơn) với biểu tượng là trống đồng Đông Sơn - thể hiện sự kết tinh lối
sống, truyền thống và văn hóa của người Việt cổ.
Vừa dựng nước người Việt đã phải liên tiếp đương đầu với sự xâm lăng của
các thế lực bên ngoài. Độ dài thời gian và tần suất các cuộc kháng chiến, khởi
nghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam rất lớn. Kể từ cuộc kháng
chiến chống Tần (thế kỷ III trước Công nguyên) đến cuối thế kỷ XX, đã có tới 12
10


thế kỷ Việt Nam phải tiến hành hàng trăm cuộc chiến tranh giữ nước, khởi nghĩa và
chiến tranh giải phóng. Một điều đã trở thành tư tưởng ăn sâu trong các nhà quân
sự, lãnh đạo Việt Nam qua các thời kỳ đó là phải “lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch
nhiều, lấy yếu chống mạnh”.
Từ thế kỷ thứ II trước Công nguyên (kéo dài hơn 1.000 năm), Việt Nam bị các
triều đại phong kiến phương Bắc thay nhau đô hộ. Sự tồn vong của một dân tộc bị
thử thách suốt hơn nghìn năm đã sản sinh ra tinh thần bất khuất, kiên cường, bền bỉ
đấu tranh bảo tồn cuộc sống, giữ gìn và phát huy tinh hoa văn hóa, quyết giành lại
độc lập cho dân tộc của người dân Việt Nam.

đoạn đế quốc chủ nghĩa, ráo riết tìm kiếm thị trường, từng bước xâm chiếm thuộc
địa. Người Pháp, thông qua con đường truyền đạo, thương mại đã tiến hành thôn
tính Việt Nam. Đây là lần đầu tiên dân tộc Việt Nam phải đương đầu với họa xâm
lăng từ một nước công nghiệp phương Tây. Trong hoàn cảnh này, một số trí sĩ Việt
Nam đã nhận thức được yêu cầu bảo vệ độc lập phải gắn liền với cải cách, đưa đất
nước thoát khỏi tình trạng trì trệ của phương Đông. Họ đã đệ trình những đề nghị
canh tân đất nước, nhưng đều bị triều Nguyễn khước từ, đẩy đất nước vào tình
trạng lạc hậu, bế tắc và từ đó Việt Nam đã trở thành một nước thuộc địa nửa phong
kiến trong gần 100 năm (1858-1945).

Hộp 3. Tàn dự của xã hội phong kiến Việt Nam
- Mang nặng tính tôn ti, đẳng cấp, háo danh, háo địa vị; mâu thuẫn với chế độ bình đẳng,
dân chủ của xã hội mới. Giá trị con người được xét theo phẩm hàm, danh vọng, tôn ti, chạy theo
quyền thế, thích làm quan, học để làm quan.
- Bệnh hình thức chủ nghĩa, cá nhân chủ nghĩa. Biểu hiện là lối sống coi trọng lễ nghi, thủ
tục rườm rà, "nhiêu khê".
12


- Bệnh bảo thủ, trì trệ. Tồn dư từ học thuyết Nho - Phật - Lão giáo là khuôn xã hội vào
những luật lệ chuẩn mực, quy tắc xử sự hết sức cứng nhắc, dập khuôn, máy móc và bảo thủ.
- Bệnh giáo điều, xa rời thực tế, không thống nhất lý thuyết và thực hành, giữa nói và làm.
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ cuốn: Ảnh hưởng của đạo đức phong kiến trong cán bộ
lãnh đạo quản lý Việt Nam hiện nay (tác giả: TS. Nguyễn Thế Kiệt).

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930 là dấu mốc quan trọng
trong lịch sử Việt Nam. Tháng 8/1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam mà người đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã khởi
nghĩa giành chính quyền thành công, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
ngày 2/9/1945.

miền Nam và Bắc. Năm 1977, Việt Nam trở thành thành viên của Liên hợp quốc.
Trong 10 năm đầu của thời kỳ sau chiến tranh, nhiều mục tiêu kinh tế - xã hội
không thực hiện được do những nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nền kinh tế
Việt Nam rơi vào khủng hoảng, trì trệ, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.
Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã đề ra đường lối Đổi mới
với trọng tâm là đổi mới kinh tế. Đây là một mốc quan trọng trong quá trình phát
triển của dân tộc Việt Nam thời kỳ mới. Đường lối Đổi mới đã tiếp tục được Đảng
khẳng định và hoàn thiện qua các kỳ Đại hội sau đó. Trong hơn 20 năm qua, Việt
Nam từ một nước nhập khẩu lương thực đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ
hai thế giới, nhiều chủng loại hàng hóa được xuất khẩu và nhiều thương hiệu hàng
hóa được thế giới biết đến; kinh tế đạt tăng trưởng cao vào những năm cuối cùng
của thế kỷ XX và những năm đầu tiên của thế kỷ XXI, đời sống nhân dân ngày
càng được cải thiện và nâng cao, chính sách xã hội được chú trọng hơn hệ thống
pháp luật ngày càng được hoàn thiện, quản lý xã hội trên cơ sở luật pháp dần đi vào
nề nếp, an ninh quốc phòng được giữ vững, quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng và
đi vào chiều sâu.
14


Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam, điểm nổi
bật chiếm vị trí hàng đầu và trở thành chuẩn mực, tư tưởng, văn hóa và là đạo lý
Việt Nam là tinh thần yêu nước, ý chí tự lập, tự cường, truyền thống đoàn kết vì
đại nghĩa dân tộc. Cuộc sống lao động gian khổ đã tạo ra truyền thống lao động
cần cù, sáng tạo và kiên nhẫn; yêu cầu phải liên kết lại để đấu tranh với những khó
khăn, thách thức đã tạo ra sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên, giữa con
người với nhau trong mối quan hệ gia đình, láng giềng, dòng họ của người Việt.
Lịch sử cũng cho con người Việt Nam truyền thống tương thân tương ái, sống
có đạo lý, nhân nghĩa; khi gặp hoạn nạn thì đồng cam cộng khổ, cả nước một lòng;
tính thích nghi và hội nhập; lối ứng xử mềm mỏng và truyền thống hiếu học, trọng
nghĩa, khoan dung.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status