SKKN quản lý mầm non: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUA CÔNG TÁC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI GIÁO VIÊN - Pdf 41

A- ĐẶT VẤN ĐỀ:
Hội nghi trung ương 2 khoá VIII của Đảng đã xác định “Giáo dục là quốc sách
hàng đầu.....” Nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhận lực, bồi dưỡng nhân tài “Phát
huy nguồn lực của con người là khâu đột phá để tiến vào thời kỳ mới..”
Vì vậy nhiệm vụ của giáo dục đào tạo trong giai đoạn mới vô cùng quan
trọng nhưng cũng rất nặng nề, trước tình hình đó giáo dục phải xác định được rõ
vị trí, vai trò, nhiệm vụ của mình trong giai đoạn cách mạng mới, giai đoạn công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Để phục vụ cho nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ đòi hỏi người giáo
viên Mầm non phải có phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, trình độ năng
lực đề nâng cao lương tâm và nhân cách nhà giáo, lòng nhân ái tận tụy
thương yêu trẻ, thể hiện ở tinh thần tự học, tự bồi dưỡng, cải tiến nội dung
phương pháp chăm sóc giáo dục trẻ tham gia tích cực
Trong nhà trường nói chung, trường Mầm non nói riêng, quá trình dạy
học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo. Trong đó bài lên lớp
có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, có tính chất quyết định tốt chất lượng
dạy và học, trực tiếp ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển của nhà trường. Hiệu
quả của giờ lên lớp là do giáo viên trực tiếp giảng dạy. Nhưng vấn đề đặt ra là
quản lý như thế nào để giờ lên lớp của giáo viên đạt hiệu quả tốt nhất, đó là việc
làm thường xuyên trong công tác kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên nhằm
nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ. Đây là vấn đề cấp thiết, để đánh giá
đúng trình độ năng lực của mỗi giáo viên, đồng thời đảm bảo được tính công
bằng trong việc đánh giá năng lực giảng dạy của mỗi giáo viên trong nhà trường.
Làm thế nào để thực hiện được công việc kiểm tra đánh giá được thường
xuyên, công bằng trong mỗi nhà trường không phải là một công việc đơn giản,
dễ làm của một người quản lý, đó là một câu hỏi mà đòi hỏi người quản lý phải
suy nghĩ, đặt bút, bắt tay làm thực sự mới có thể trả lời được.
Chính vì vậy mà tôi đã mạnh dạn tìm ra, liệt kê ra, thực hành và trải
nghiệm một số biện pháp, giải pháp để bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo
viên của đơn vị mình bằng cách kiểm tra, đánh giá, xếp loại giáo viên. Đó cũng
là đề tài tôi áp dụng nghiên cứu trong năm học 2011-2012 là: “Một số biện pháp

Chính vì lý do trên là một cán bộ quản lý tôi đã xác định việc xây dựng
đội ngũ giáo viên là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà mình không
được phép sao nhãng, phải bằng mọi cách để xây dựng một đội ngũ có đủ
trình độ, năng lực, sức khỏe mẫu mực, có đủ khả năng chăm sóc giáo dục trẻ
theo yêu cầu hiện nay.
Tôi càng thấm nhuần sâu sắc câu: Đội ngũ giáo viên là nhân tố quyết
định chất lượng giáo dục.
II - THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ :
* Thực trạng chung nhà trường:
Trường mầm non xã Nga Tiến có truyền thống chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy
dỗ các cháu tốt, là trường nằm trong danh sách những trường đạt danh hiệu
trường chuẩn quốc gia đầu tiên trong huyện Nga Sơn. Chính vì vậy mà nhà
trường có nề nếp dạy và học đã đi vào ổn định. Ban giám hiệu luôn gương
mẫu, năng động, sáng tạo, xây dựng được tập thể sư phạm đoàn kết thống
nhất.

2


Mặt khác nhà trường luôn được sự quan tâm, giúp đỡ của các cấp lãnh đạo
như: Sở GD-ĐT, phòng giáo dục huyện Nga Sơn, Đảng uỷ, uỷ ban nhân dân xã
Nga Tiến, các cơ quan ban ngành đoàn thể trên địa bàn.
Bên cạnh những thuận lợi nhà trường cũng còn gặp phải một số khó
khăn như: Trường đóng trên địa bàn xã nghèo. Nga Tiến là một xã vùng ven
biển, là vùng có hoàn cảnh khó khăn, vì vậy sự huy động nguồn lực trong
việc phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường còn gặp nhiều khó khăn và trở
ngại.
* Thực trạng giáo viên:
Nhà trường có đội ngũ cán bộ, giáo viên trẻ, khoẻ, nhiệt tình, ham mê học
hỏi bồi dưỡng, chuyên môn, nghệp vụ trong công tác giáo dục, tập thể cán bộ,


Tổng
số
giáo
viên
21

Tốt
Số %
GV Số
28.
6
5

Kết quả
Khá
TB
GV Số
% Số
% GV
38.
23.
8
5
1
8

Yếu
GV


8

8

38.
1

6

28.
5

2

9.5

21

4

19.1

8

38.
1

7

33.3

Tốt
Số %
trẻ
10 25

73
69
95

24
22
30

Kết quả
Đạt
Khá
TB
Số %
Số %
trẻ
trẻ
12 30
14 35

32.9 25
31.9 22
31.6 31

34.2 18
31.9 19

động sư phạm, xác định kết quả giáo dục có phù hợp với mục tiêu, nội dung, kế
hoạch đã đề ra hay không. Đánh giá toàn bộ kế hoạch trong nhà trường nhằm
nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đưa nhà trường tiếp cận đến mục tiêu
giáo dục phù hợp.
Bản thân là hiệu phó phụ trách chuyên môn giáo dục, tôi là người đưa ra
các nội dung hoạt động chuyên môn trong một năm học. Do đó xếp loại giáo
viên đưa ra hoạt động kiểm tra, đánh giá tiến tới hiệu quả cao nhất.
Hiệu phó kiểm tra hoạt động chuyên môn trong nhà trường cũng chính là
kiểm tra hoạt động quản lý của chính mình. Làm hiệu phó tôi phải làm tốt công
tác kiểm tra, đánh giá đó là một chức năng quản lý, không kiểm tra xem như
không làm.

4


Trong nhà trường hoạt động chính là dạy và học, kết quả dạy và học có
đạt hiệu quả cao hay không là nhờ vào các giờ lên lớp. Vì vậy kiểm tra, xếp loại,
đánh giá giáo viên là một khoa học không phải ai cũng làm được. Do đó kiểm
tra đánh giá xếp loại giáo viên trước hết là phát huy ưu điểm, khắc phục nhược
điểm về chuyên môn, xử lý các thắc mắc, các mâu thuẫn, các khiếu nại, khắc
phục bệnh quan liêu đối với lãnh đạo.
Đứng dưới góc độ quản lý, kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên sẽ đánh
giá về nhiều mặt:
+ Về giáo viên: Thông qua kiểm tra đánh giá xếp loại người quản lý nắm
bắt được trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực tri thức của giáo viên, khả
năng chuyên sau, năng lực chuyên biệt về hoạt động nào đó trong chuyên môn.
Qua đó người quản lý cũng đánh giá được phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống
của người giáo viên đó là tinh thần trách nhiệm của cô giáo đối với trẻ. Xem giáo
viên đó chuẩn bị tốt, chu đáo những điều kiện cần thiết cho giờ dạy hay không,
có yêu thương trẻ không, đã quan tâm công bằng, đã thông cảm với mọi trẻ hay

phải xây dựng một qui trình thực hiện với 8 bước sau:
Bước1: Yêu cầu dự giờ, dự gìơ ai, dự lớp nào, mục đích gì? thời gian nào?
Bước 2: Bước chuẩn bị:
Nắm được mục đích của bài dạy, bài đó có đúng chương trình không, có
phù hợp với mục tiêu của lứa tuổi hay không, nội dung bài dạy cô giáo cần
truyền đạt những kiến thức gì, kiến thức ấy được vận hành trong hoạt động như
thế nào và tổ chức lực lượng giáo viên cùng dự thi.
Bước 3: Dự giờ
Chú ý quan sát, ghi chép các thông tin mà trong quá trình dự thấy được
ghi chép các sự việc diễn ra trong mối tương tác giữa cô và trẻ; với đồ dùng dạy
học, ghi chép các tình huống sản phẩm diễn ra, cách xử lý của giáo viên.
Bước 4: Phân tích so sánh
Căn cứ vào nội dung yêu cầu của bài dạy theo những tiêu chí khoa học để
so sánh, phân tích thành công hoặc thiếu sót theo 3 mặt:
+ Kiến thức
+ Kỹ năng
+ Thái độ
Bước 5: Đánh giá
Đánh giá dựa trên bảng chuẩn ( ba zem) một hoạt động
Bước 6: Nhận xét, góp ý.
Hiệu phó phải đưa ra những quan điểm của mình; khen chê một cách rõ
ràng, đúng mức để mọi người phấn đấu.
Bước 7: Kết luận
Hiệu phó đưa ra cho giáo viên những ý kiến kết luận đó là những qui định
của quản lý, có hai loại qui định:
+ Qui định chi tiết: Đó là những ý kiến nhỏ nhẹ về một vấn đề nào đó.
+ Qui định lớn: Có tính chất quyết định cả bài.
Bước 8: Lưu hồ sơ và yêu cầu kiểm tra lại
Đứng về góc độ quản lý việc xây dựng kế hoạch thực hiện trong một năm
học là việc làm cần thiết và vô cùng quan trọng, nó giúp cho các hoạt động

chứ không phải vì lý do cá nhân nào khác. Ngoài ra tôi còn gần gũi giáo viên, trò
chuyện, hỏi han, giải đáp thắc mắc về chuyên môn cho giáo viên vào mọi lúc,
mọi nơi như: Khi đi dự giờ, thăm lớp,…một cách nhỏ nhẹ, phân tích, giải thích
đơn giản rõ ràng cho giáo viên, đặc biệt là giáo viên cao tuổi. Vì vậy mà tình
cảm của tôi với giáo viên càng gần gũi, không còn sợ sệt, lo lắng, che dấu những
gì mình không biết.
Kết quả: Nhờ biện pháp trên mà tôi đã khắc phục được tâm lý của một số
giáo viên có trình độ chuyên môn chưa cao.
4. Tiến hành các biện pháp quản lý thanh tra, kiểm tra:
Biện pháp 1: Kiểm tra đánh giá theo định kỳ.
Duy trì hình thức kiểm tra đánh giá theo định kỳ là việc làm thường xuyên
của nhà trường trong năm học: Trước khi dự giờ tôi lên kế hoạch thông báo
trước về thời gian, địa điểm và đối tượng giúp cho giáo viên có sự chuẩn bị về
tâm lý, chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết cho hoạt động dạy học.
Học kỳ I năm 2011- 2012 nhà trường dự được 110 hoạt động đạt 64% kế
hoạch năm học, tăng gần 14% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó số hoạt động
được xếp loại giỏi là 45 hoạt động đạt 40,9%, số hoạt động xếp loại khá là 65
hoạt động đạt 59,1% .
7


Sau đây là danh sách giáo viên có hoạt động được xếp loại giỏi trong học
kỳ I năm học 2011- 2012.
TT
1
2
3
4
5
6

9 hoạt động
7 hoạt động
5 hoạt động
5 hoạt động
3 hoạt động
2 hoạt động
2 hoạt động
2 hoạt động
2 hoạt động
3 hoạt động

Biện pháp 2: Tiến hành kiểm tra đánh giá xếp loại đột xuất.
Xen vào các đợt kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên định kỳ, tôi thường
kết hợp kiểm tra, đánh giá, xếp loại đột xuất. Khi kiểm tra đột xuất không báo
trước chỉ khi đến giờ học tôi mới xuống lớp đề nghị giáo viên cho kiểm tra một
hoạt động bất kỳ, kiểm tra đột xuất để nắm bắt cụ thể khách quan chính xác về
sự chuẩn bị bài lên lớp và kết quả giảng dạy của giáo viên, khắc phục được tình
trạng đối phó, ỉ lại của một số giáo viên có tinh thần tự giác chưa cao. Bằng
phương pháp này tôi đã góp phần làm tăng tinh thần tự giác chủ động, tích cực
của giáo viên.
Học kỳ I năm học 2011- 2012 nhà trường đã kiểm tra đánh giá xếp loại
đột xuất 10 giáo viên/ 10 nhóm lớp, với số hoạt động là 18 hoạt động. Trong đó
hoạt động được xếp loại giỏi là 7 hoạt động đạt 38,8 %, hoạt động được xếp loại
khá là: 11 hoạt động đạt 61,2%
Kết quả kiểm tra đánh giá xếp loại đột xuất:
TT
1
2
3
4

2 hoạt động giỏi
2 hoạt động giỏi
1 hoạt động giỏi
2 hoạt động khá
2 hoạt động khá
1 hoạt động khá
2 hoạt động khá
2 hoạt động khá
8


10

Nguyễn Thị Sương

Nhóm trẻ 25- 36 tháng

2 hoạt động khá

Biện pháp 3: Kiểm tra đánh giá xếp loại giáo viên gián tiếp.
Ngoài các hình thức kiểm tra trên, tôi còn áp dụng kiểm tra đánh giá xếp
loại giáo viên gián tiếp bằng cách kiểm tra khảo sát chất lượng trẻ thông qua bài
tập khảo sát chất lượng theo 5 lĩnh vực phát triển của Mẫu giáo ( Lĩnh vực phát
triển thể chất, lĩnh vực phát triển nhận thức, lĩnh vực phát triển ngôn ngữ, lĩnh
vực phát triển tình cảm- quan hệ xã hội, lĩnh vực phát triển thẩm mỹ) , 4 lĩnh vực
phát triển của nhà trẻ (Lĩnh vực phát triển thể chất, lĩnh vực phát triển nhận thức,
lĩnh vực phát triển ngôn ngữ, lĩnh vực phát triển tình cảm, quan hệ xã hội và
thẩm mỹ ), riêng với lớp 5 tuổi còn kiểm tra khảo sát trẻ qua bộ công cụ chuẩn
mà nhà trường xây dựng 30 chỉ số. Chất lượng của trẻ đạt được có thể nói là kết
quả giáo dục của giáo viên. Vì vậy kết quả giờ dạy của giáo viên được thể hiện

Hoàng Thị Huân
Nguyễn Thị Hoa
Bùi Thị Lý
Nguyễn Thị Thảo
Phạm Thị Hiền
Mai Thị Thơm
Mai Thị Tuyết
Vũ Thị Minh
Trương Thị Thoa
Nguyễn Thị Sương

Số trẻ
5
5
5
5
5
5
5
5
5
5

Kết quả
Đạt
Chưa đạt
5
5
4
1

với các bậc cha mẹ các cháu.
Năm nay theo với kế hoạch cụ thể mà tôi đã xây dựng đầu năm học,
giáo viên đã xác định rõ tư tưởng, trách nhiệm của người giáo viên phải tổ
chức dược các hoạt động cho trẻ, phải hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học. Do
đó giáo viên đã chủ động tự học, nghiên cứu tài liệu, tham khảo những
phương pháp dạy học mới để tự tin khi tham gia hội thi.
Kết quả: Tổng số giáo viên tham gia dự thi cấp trường là 21 giáo viên.
Tổng số giáo viên xếp loại giỏi là 20/21= 95%.
Biện pháp 5: kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên theo chuyên đề.
Hàng năm thường có những chuyên đề mới, chuyên đề được chỉnh sửa
về nội dung, phương pháp. Trong những năm gần đây giáo dục mầm non có
một số chuyên đề sau:
+ Giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
+ Giáo dục bảo vệ môi trường.
+ Giáo dục kỹ năng sống.
+ Giáo dục an toàn giao thông.
+ Giáo dục tiết kiệm năng lượng.
+ Giáo dục phòng ngừa thảm hoạ, thiên tai....
Tôi đã chú ý, lên lịch kiểm tra, xếp loại giáo viên theo từng chuyên đề:
tháng 9-10 kiểm tra chuyên đề “Giáo dục kỹ năng sống”, tháng 11 kiểm tra
chuyên đề “ Giáo dục dinh dưỡng và VSATTP”, tháng 12 kiểm tra chuyên
đề “ Giáo dục và bảo vệ môi trường”, tháng 1 kiểm tra chuyên đề “ Phòng
ngừa thảm hoạ, thiên tai”, tháng 2 kiểm tra chuyên đề “ Tiết kiệm năng
lượng”, tháng 3 kiểm tra chuyên đề “ Giáo dục an toàn giao thông”. Bằng
cách làm này tôi nắm được tiến độ thực hiện yêu cầu của chuyên đề với mục
đích là đi sâu vào từng chuyên đề, từng hoạt động, giúp giáo viên được củng
cố khắc sâu thêm vấn đề mới của chuyên đề, tạo nên sự hoạt động đồng bộ
chuyên đề trên toàn trường.

10

4
5

Họ tên GV

Hoàng Thị Huân
Mai Thị Tuyết
Phạm Thị Hiền
Vũ Thị Minh
Nguyễn Thị Sương

GD dinh
dưỡng và
VSATTP

Giáo
dục bảo
vệ môi
trường

Giáo
dục kỹ
năng
sống

Tiết
kiệm
năng
lượng



Phòng
ngừa
thảm hoạ,
thiên tai

x
x
x
x

Theo sự kế hoạch chỉ đạo của Phòng giáo dục và Đào tạo năm học
2011- 2012 sẽ tổ chức hội thi “ Bé khoẻ- Bé ngoan”ở các cấp. Tôi đã phổ
biến cho tất cả các nhóm, lớp phải chú trọng hơn tới hai chuyên đề “ Giáo
11


dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm”, chuyên đề “Giáo dục và bảo
vệ môi trường”. Hai chuyên đề này ngoài cung cấp các kiến thức cơ bản
bằng lý thuyết thì giáo viên phải chuẩn bị, sưu tầm các tranh ảnh có hình ảnh
minh hoạ thật nhiều, phong phú, đa dạng cho trẻ quan sát. Đặc biệt đối với
chuyên đề “ Giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm” tôi yêu cầu
các nhóm, lớp, chuẩn bị đầy đủ các loại tranh thơ, chuyện và phải lồng ghép
cho trẻ được thực hành ở góc phân vai
Ví dụ: Góc “ Bé tập làm nội trợ” tôi yêu cầu phải có đầy đủ đồ dùng,
đồ chơi cho trẻ hoạt động thực hành chế biến món ăn, có đủ các loại tài liệu
sách, báo, tập san có hình ảnh hướng dẫn các bước, qui trình chế biến cho trẻ
quan sát học tập và tập làm theo.

( H1: Hình ảnh góc “Bé tập làm nội trợ” mà tôi đã chỉ đạo cho giáo viên

Năm học 2011-2012 để lập thành tích chào mừng kỉ niệm ngày thành
lập “Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam” tôi đã lên kế hoạch tổ chức thi chấm đồ
dùng dạy học và đồ chơi cấp trường.
Tôi xây dựng kế hoạch thi trên 10 nhóm lớp, với chủ đề thi là: “ Thi làm
đồ dùng, đồ chơi và thuyết trình về đồ dùng đồ chơi ở các góc bằng nguyên
vật liệu phế thải và vật liệu sẵn có ở địa phương”.
Kết quả: Hội thi tổ chức rất thành công và đạt được kết quả rất tốt so
với dự kiến đề ra.
+ 1 giải xuất sắc là cô Hoàng Thị Huân với bộ đồ dùng “Góc âm nhạc”
+ 2 giải nhì: Cô Phạm Thị Hiền lớp 3-4 tuổi bộ đồ chơi “Góc xây
dựng” và cô Nguyễn Thị Sương nhóm trẻ 25- 36 tháng với bộ đồ chơi “ Hoạt
động với đồ vật”.
+ 3 giải ba: Cô Nguyễn Thị Hoa lớp 5-6 tuổi bộ đồ chơi “ Góc tạo
hình” và cô Mai Thị Tuyết lớp 4-5 tuổi bộ đồ dùng, đồ chơi “Góc phân vai”;
13


cô Vũ Thị Minh nhóm 25-36 tháng tuổi bộ đồ dùng, đồ chơi “ Góc nghệ
thuật”....

( H.2: Hình ảnh tổ chức chấm thi đồ dùng đồ chơi trường Mầm non Nga
Tiến.)
Qua việc tổ chức hội thi theo chủ đề từng góc đã giúp cho các giáo
viên ở các nhóm lớp học hỏi lần nhau, vì thế mà bộ đồ dùng, đồ chơi ở các
góc trong trường tôi thêm đầy đủ và phong phú, đa dạng.
Ngoài việc đánh giá xếp loại giáo viên qua đợt tổ chức thi làm đồ
dùng, đồ chơi, hàng tháng tôi còn kiểm tra số lượng đồ dùng, đồ chơi và đồ
dùng dạy học theo từng chủ đề. Số lượng này tôi căn cứ vào kế hoạch nội
dung trọng tâm trong tháng của giáo viên đã lên trong “Sổ tổng hợp”. Sau đó
tôi ghi vào cuốn sổ tay ghi chép của mình và từng chủ đề tôi tổng hợp lại để

Ví dụ 1: Năm học 2011- 2012 có nội dung thay đổi về việc tổng hợp
báo cáo sức khoẻ cân đo theo định kỳ tôi triển khai cho giáo viên nội dung
chỉnh sửa so với năm trước là:
+ Những năm trước: trẻ mẫu giáo cân, đo 3 tháng 1 lần; nhà trẻ cân, đo
1 tháng 1 lần
+Năm 2011- 2012: Trẻ mẫu giáo cân 3 tháng 1 lần, đo 6 tháng 1 lần;
trẻ nhà trẻ 25- 36 tháng cần 3 tháng 1 lần, đo 3 tháng 1 lần, trẻ 18- 24 tháng
cân 1 tháng 1 lần, đo 1 tháng 1 lần.
Ví dụ 2: Năm học 2011-2012 còn có chuyên đề bổ sung về chương
trình giáo dục Mầm non mới như: cách xây dựng mục tiêu, mạng nội dung,
mạng hoạt động cho giáo viên, có một số thay đổi về tên gọi như:
+ Năm trước có tên gọi là “Hoạt động có chủ định” và mục đầu tiên
cho hoạt động này là “Mục đích yêu cầu”
+ Năm nay chuyển là “Hoạt động có chủ định” và gọi là “Mục đích”.
Hoặc: + Những năm trước khi xây dựng kế hoạch hoạt động cho từng chủ đề
giáo viên lên đã dầy đủ 5 lĩnh vực phát triển của Mẫu giáo, 4 lĩnh vực phát

15


triển cho nhà trẻ, nhưng mục tiêu của các lĩnh vực đang còn lên chung chung
chưa cụ thể rõ ràng.
+ Năm nay tôi hướng dẫn giáo viên xây dựng kế hoạch cũng dựa trên 5
lĩnh vực phát triển của Mẫu giáo, 4 lĩnh vực phát triển cho nhà trẻ nhưng cụ
thể, rõ ràng hơn
Ví dụ: Tôi hướng dẫn cho giáo viên xây dựng mục tiêu của chủ đề của
mẫu giáo phải xây dựng cụ thể theo bảng sau:
Các lĩnh vực
- Phát triển thể chất
- Phát triển nhận thức

ghi chép những mặt đã làm được và chưa làm được để có kế hoạch triển khai
vào buổi họp chuyên môn thường kỳ cho giáo viên.

16


Kết quả kiểm tra hồ sơ, sổ sách tôi cũng ghi chép lại để cuối học kỳ
tổng hợp và xếp loại giáo viên.
Kết quả xếp loại hồ sơ của giáo viên năm học 2011-2012 như sau:
TT Tên giáo viên
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

Hoàng Thị Huân
Nguyễn Thị Hoa
Bùi Thị Lý
Vũ Thị Minh
Phạm Thị Hiền
Mai Thị Thơm
Mai Thị Tuyết
Nguyễn Thị Sương
Trương Thị Thoa


III. KIỂM NGHIỆM:
Bằng những giải pháp, biện pháp chỉ đạo “ Công tác kiểm tra, đánh giá
xếp loại giáo viên” trên đây trường tôi đã bước đầu thu được những kết quả
sau:
* Kết quả giáo viên:
Khắc phục được tâm lý chung của đa số giáo viên là không còn lo
ngại, mặc cảm khi được kiểm tra.
Công tác kiểm tra đánh giá xếp loại giáo viên được tiến hành một cách
nhịp nhàng, chủ động không bị chồng chéo.
Duy trì được các hình thức kiểm tra, khắc phục được tình trạng đối
phó, ỉ lại, đảm bảo đánh giá chính xác, khách quan năng lực của từng giáo
viên.
Nâng cao chất lượng giờ lên lớp, hiệu quả chăm sóc- nuôi dạy các
cháu ngày được nâng lên.
Số các cháu thi Huyện hàng năm đều được giải cao.
Nâng cao hiệu quả tự làm đồ dùng dạy học và đồ chơi cho trẻ. Số
lượng đồ dùng, đồ chơi các lớp nhiều hơn, đa dạng, phong phú hơn.
Chất lượng chuyên môn của giáo viên ngày được nâng lên.
17


Công tác quản lý hồ sơ sổ sách được dễ dàng, thực hiện nghiêm túc
đều đặn hơn.
Việc lồng ghép các chuyên đề của giáo viên trong các chủ đề cũng
được thực hiện đầy đủ.
* Kết quả trẻ:
Chất lượng trẻ cũng được nâng lên rõ rệt và được thể hiện qua các
bảng tổng hợp sau.
* Khảo sát chất lượng giáo viên cuối năm:

Khá
TB
GV Số
% Số
% GV

Yếu
GV

%

21

10

47.6

8

38.
1

3

14.3

0

0


3

14.3

0

0

21

9

42.9

8

38.
1

4

19

0

0

* Kết quả khảo sát chất lượng trẻ cuối năm:

TT

trẻ
trẻ
19 29.7 22 35.3 20 31.3 3
4.7

73
69
95

25
23
31

34.2 25
33.3 23
32.6 32

34.2 19
33.3 19
33.7 29

26.1 4
27.5 4
30. 3
5

5.5
5.8
3.2


Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân về “ Một số biện pháp nâng cao
chất lượng qua công tác kiểm tra đánh gía xếp loại giáo viên”, rất mong được sự
đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo, hội đồng khoa học ngành, để phát huy
sáng kiến của mình góp phần nhỏ bé vào công cuộc chăm sóc - giáo dục, vì sự
phồn vinh của đất nước
2. Đề xuất:
Là một phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn giáo dục tôi tấy tài liệu cho
giáo viên tham khảo về chương trình giáo dục Mầm non đang còn ít, vậy mong
Phòng GD huyện Nga Sơn, quan tâm đến việc cung cấp thêm tài liệu cho các nhà
trường, các giáo viên để có tài liệu học tập, cập nhật những kiến thức về chương
trình giáo dục mầm non mới, để có kiến thức giáo dục phù hợp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
19


Nga Tiến;Ngày 15 tháng 4 năm 2012
Người viết sáng kiến
Phạm Thị Phương

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status