MỤC LỤC:
ơ
Trang
A. MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài:
II. Mục đích nghiên cứu:
III. Đối tượng nghiên cứu:
IV. Phương pháp nghiên cứu:
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
II. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
III. Rèn luyện kĩ năng vận dụng và phát triển tư duy cho học sinh lớp
6 qua tiết Bài tập Lịch sử - tiết 23 ở trường THCS Nga Thiện - Nga
Sơn.
1. Định hướng về yêu cầu cần và đủ để xây dựng giáo án bài tập lịch
sử lớp 6 - tiết 23.
2. Tổ chức rèn luyện kĩ năng vận dụng và phát triển tư duy cho học
sinh lớp 6 qua tiết Bài tập Lịch sử - tiết 23 ở trường THCS Nga Thiện
- Nga Sơn.
IV. Hiệu quả của việc tổ chức rèn luyện kĩ năng vận dụng và phát
triển tư duy cho học sinh lớp 6 qua tiết Bài tập Lịch sử - tiết 23 ở
trường THCS Nga Thiện - Nga Sơn.
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận.
II. Kiến nghị.
2
2
2
riêng trong phân phối chương trình. Do vậy việc rèn luyện các kĩ năng Lịch sử
cho học sinh sẽ bị hạn chế.
Hiện nay với yêu cầu phát triển đất nước, nội dung chương trình và
phương pháp giảng dạy ở Trường Trung học cơ sở (THCS) đã và đang được đổi
mới. Trong phân phối chương trình dạy học Lịch sử hiện nay đã có tiết dạy học:
Bài tập Lịch sử (lớp 6 có 2 tiết (tiết 23, 34), lớp 7 có 5 tiết (tiết 10, 32, 44, 56,
65), lớp 8 có 3 tiết (tiết 13, 30, 45), lớp 9 không có), thường được cấu trúc sau
khi đã dạy học xong một phần (hoặc một chương). Tuy nhiên tiết Bài tập không
được trình bày như các tiết dạy trong sách giáo khoa (khó khăn hơn là không có
một tài liệu nào gợi ý hoặc định hướng cụ thể) mà chính giáo viên giảng dạy
phải có kế hoạch cụ thể ngay khi dạy một bài, một chương, để sau đó tiến hành
soạn giảng và chọn phương pháp tổ chức hoạt động dạy học có hiệu quả cao ở
tiết Bài tập Lịch sử.
Xuất phát quan điểm đổi mới giáo dục của Đảng ta và yêu cầu đạo tạo thế
hệ trẻ có kĩ năng thực hành giỏi đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước trong thời
kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tôi mạnh viết Sáng kiến kinh nghiệm
"Rèn luyện kĩ năng vận dụng và phát triển tư duy cho học sinh lớp 6 qua tiết
Bài tập Lịch sử - tiết 23 ở trường THCS Nga Thiện - Nga Sơn" để góp phần
phát huy tính chủ động sáng tạo cho học sinh trong học tập lịch sử.
II. Mục đích nghiên cứu:
- Điều tra hứng thú học tập lịch sử và hiệu quả học tập lịch sử qua tiết Bài tập
lịch sử của học sinh lớp 6 qua các năm học ở trường THCS Nga Thiện - Nga
Sơn nhằm theo dõi hiệu lực học tập của học sinh để có giải pháp và biện pháp
nâng cao chất lượng giảng dạy các dạng bài học lịch sử khác nhau.
- Tăng khả năng áp dụng phương pháp mới, công nghệ mới trong dạy học lịch
sử cấp THCS của giáo viên.
- Đưa ra các biện pháp khác nhau để học sinh nắm vững kiến thức lịch sử và
tăng hứng thú học tập lịch sử trong và sau tiết Bài tập lịch sử. Giúp học sinh có
2
tuổi) cũng phải được giáo viên tính đến trong việc tạo hứng thú học tập lịch sử
cho học sinh. Việc dạy học lịch sử có hiệu quả hay không cốt là giáo viên tạo
được sự chú ý, gây được hứng thú học tập cho học sinh. Các tiết Bài tập lịch sử
đã giải quyết các vấn đề trên.
2. Cơ sở sử học trong dạy học lịch sử:
Lịch sử là môn khoa học mà người học có thể tiếp nhận tri thức thông qua
các hình thức học tập ở mọi thời điểm, địa điểm khác nhau: ở trường (qua bài
học), ở nhà (qua các câu chuyện kể của ông bà, cha, mẹ...). Qua đó học sinh có
điều kiện rèn luyện kĩ năng liên hệ thực tế, biết đánh gía các sự kiện lịch sử.
Các tiết Bài tập lịch sử trong phân phối chương trình THCS đưa ra chưa
một định hướng cụ thể đòi hỏi giáo phải có óc tổng quát để khắc sâu kiến thức
ngay từng bài, từng chương, từ đó tư duy để soạn tiết Bài tập lịch sử đảm bảo về
kiến thức, đặc biệt chú trọng rèn luyện khả năng tư duy và kĩ năng làm bài tập
của học sinh.
II. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
1. Thực trạng:
1. 1. Thuận lợi:
- Thuận lợi từ giáo viên: Nhà trường có 2 giáo viên chuyên sử (trong đó
có một giáo viên có trình độ Đại học). Đây là những giáo viên trẻ, tốt nghiệp
trường Sư phạm chuyên nghiệp, đã được tiếp cận với việc đổi mới nội dung và
phương pháp dạy học Lịch sử, cùng với sự nhiệt huyết nghề nghiệp nên chất
lượng dạy học môn Lịch sử ở trường Nga Thiện không ngừng được nâng cao.
- Thuận lợi từ việc học của học sinh: năm học 2015 - 2016, trường THCS
Nga Thiện có 245 học sinh, trong đó có 52 học sinh lớp 6. Nhìn chung các em
có thái độ học tập tốt (chuẩn bị bài ở nhà chu đáo, tích cực xây dựng bài trên
lớp...).
- Sách giáo khoa, tài liệu tham khảo và thiết bị dạy học:
Trong chương trình dạy học Lịch sử hiện nay, hệ thống kiến thức ở các
bài học đã được giảm tải phù hợp hơn với đối tượng nhận thức (học sinh lớp 6),
có sự lôgic. Ở mỗi bài học đề có câu hỏi gợi ý và kênh hình hỗ trợ. Đặc biệt
tận dụng triệt để những thuận lợi, đồng thời khắc phục những khó khăn trên.
2. Kết quả thực trạng:
Từ thực tế giảng dạy của bản thân (từ năm học 2011- 2012 đến năm 20152016) việc dạy và học Lịch sử ở trường THCS Nga Thiện - Nga Sơn, đặc biệt
với những tiết Bài tập Lịch sử đã và đang thu được kết quả tích cực, cụ thể:
a. Hứng thú học tập lịch sử:
Lớp đối chứng: 6A
Lớp thực nghiệm: 6B
Năm học
Tỷ lệ đạt yêu cầu
Tỷ lệ đạt yêu cầu
Sĩ số
Sĩ số
(%)
(%)
2013 - 2014
33
70
35
79
2014 - 2015
38
86.8
37
86.4
b. Kết quả học tập (thu được qua phiếu học tập sau khi tiến hành dạy
tiết 23: Bài tập Lịch sử):
Lớp đối chứng: 6A
Lớp thực nghiệm: 6B
Năm học
Tỷ lệ đạt yêu cầu
từng bài, từng chương. Học sinh phải nắm được kiến thức lịch sử dựa trên các
hình thức tổ chức dạy học khác nhau (toàn lớp, nhóm, cá nhân...), từ đó giáo dục
tư tưởng, tình cảm, rèn luyện kĩ năng, dần tạo cho học sinh làm quen với các
hình thức học tập mới.
Ví dụ:
Bài 17 – tiết 19: Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40)
* Kiến thức cơ bản được xác định như sau:
- Sau thất bại của An Dương Vương, đất nước ta bị phong kiến phương
Bắc thống trị, sử gọi là bắt đầu thời kì Bắc thuộc. Ách thống trị tàn bạo của thế
lực phong kiến phương Bắc đối với nước ta là nguyên nhân dẫn tới cuộc khởi
nghĩa Hai Bà Trưng.
- Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng được toàn thể nhân dân ủng hộ, nên đã
nhanh chóng thành công. Ách thống trị tàn bạo của thế lực phong kiến phương
Bắc (nhà Hán) bị lật đổ, đất nước ta giành lại được độc lập dân tộc.
1.2. Ở đầu mỗi tiết dạy, giáo viên nhận báo cáo của học sinh chịu trách
nhiệm chính về môn Sử của lớp (như đã phân công) về số lượng học sinh không
làm Bài tập lịch sử theo câu hỏi trong SGK và chuyển danh sách này cho giáo
viên chủ nhiệm có biện pháp phối hợp giáo dục ý thức học tập lịch sử của học
sinh. Đồng thời giáo viên Lịch sử thu 3 đến 4 cuốn vở Bài tập để kiểm tra rồi
phát vấn học sinh dựa vào câu hỏi đã có trong sách giáo khoa. Giáo viên phải có
những gợi ý, hướng dẫn học sinh trả lời những câu hỏi khó.
1.3. Giáo viên Lịch sử phải tăng cường kiểm tra bài cũ trước hoặc trong
quá trình giảng dạy bài mới vì các bài học Lịch sử có quan hệ mật thiết với
nhau.
Ví dụ:
Khi dạy Bài 18 – tiết 20: Trưng Vương và cuộc kháng chiến chống
quân xâm lược Hán có liên quan mật thiết với Bài 17 – tiết 19: Cuộc khởi
nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40)
* Ở thế kỉ I, vùng đất Âu Lạc diễn ra cuộc khởi nghĩa nào? (TL:... khởi
nghĩa Hai Bà Trưng, năm 40).
Ví dụ: Áp dụng cho Bài 18 – tiết 20: Trưng Vương và cuộc kháng chiến
chống quân xâm lược Hán.
* Qua tìm hiểu diễn biến của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Hán
(năm 42-43) em có nhận xét gì về tinh thần chiến đấu của quân và dân Âu Lạc?
(Hs bày tỏ thái độ).
1.5. Ở mức độ khó, giáo viên sử dụng các câu trích để đặt câu hỏi. Với
dạng câu hỏi này học sinh rèn luyện khả năng nhận định, phân tích, so sánh, liên
hệ thực tế về các tri thức lịch sử có liên quan.
Ví dụ: Áp dụng cho Bài 17 – tiết 19: Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng
(năm 40)
* Bốn câu thơ dưới đây nói về ai?
“Đố ai nêu lá quốc kì
Mê Linh đất cũ còn ghi muôn đời
Yếm, khăn, đội đá vá trời
Giặc Tô mất vía, rụng rời thoát thân”.
Hoặc:
“Ngàn năm trang sử còn ghi
Mê Linh, sông Hát chỉ vì non sông
7
Chị em một dạ một lòng
Đuổi quân Tô Định khỏi vùng biên cương”.
Đáp án: Hai Bà Trưng.
* Em biết gì về Hai Bà Trưng?
* Nhân dân Nga Thiện có những đóng góp gì trong cuộc khởi nghĩa Hai
Bà Trưng? (HS liên hệ thực tế: Bà Lê Thị Hoa cùng nhân dân quận Cửu Chân
(trong đó có nhân dân Nga Thiện-Nga Sơn) đã tham gia tích cực trong cuộc
khởi nghĩa Hai Bà Trưng).
1.6. Cuối mỗi bài giảng, giáo viên giành 5 đến 7 phút để kiểm tra kiến
C. Bà Triệu
D. Lý Bí
b. Mùa xuân năm 40, Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa ở đâu?
A. Hát Môn (Hà Tây)
B. Mê Linh (Vĩnh Phúc)
C. Cổ Loa (Hà Nội ngày nay) D. Chu Diên (Hà Nội ngày nay)
Bài tập 3: Em có nhận xét gì về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm
40)?
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
8
Giáo viên hướng dẫn học làm trực tiếp vào phiếu học tập hoặc ra giấy
(ví dụ Bài tập 2a: đáp án B).
Nếu thời gian không cho phép giáo viên hướng dẫn học sinh về nhà làm
ra giấy trắng, sau một ngày lớp phó học tập thu và nộp lại cho giáo viên dạy.
1.7. Sau khi học sinh tiếp nhận kiến thức Lịch sử từ bài 17 đến bài 20 (từ
tiết 19 đến tiết 22), giáo viên Lịch sử sử dụng 15 phút cuối tiết sinh hoạt lớp
(cuối tuần) để hướng dẫn học sinh làm dạng bài tập điền ô chữ.
Giáo viên treo bảng phụ có khung ô chữ như sau:
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
Rồi giáo viên lần lượt đưa ra các câu hỏi:
(1) Đây là địa điểm Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa trong cuộc khởi
N
L
E
N
H
(2)
M E
L
I
N
H
(3)
R
E
N
S
A
T
(4)
C
H
A
N
Đ
O
N
G
(5)
* Đáp án từ khóa: ÂU LẠC
1.8. Theo phân phối chương trình thì tiết Bài tập Lịch sử được cấu trúc
- Chuyện kể về Hai Bà Trưng và Bà Triệu.
- Ảnh: Đền thờ Hai Bà Trưng và Lăng Bà Triệu.
- Máy chiếu đa năng.
C. Hoạt động dạy học:
I. Kiểm tra bài cũ: Gv sẽ kiểm tra trong quá trình làm Bài tập Lịch sử.
II. Hướng dẫn học sinh làm Bài tập Lịch sử:
Hoạt động của GV- HS
Nội dung kiến thức cần đạt
Gv đưa ra các dạng Bài tập lịch sử (theo mục tiêu của tiết Bài tập lịch sử) và
hướng dẫn học sinh làm bài tập theo nhóm hoặc theo cá nhân:
* Câu 1a: Gv viết nội dung Bài tập lên
bảng phụ hoặc phát lên máy chiếu và
hướng dẫn học sinh làm bài tập.
- Gv phát cho mỗi bàn 1 bảng con và
phấn. Mỗi bàn là 1 tổ.
Câu 1: Hãy khoanh tròn vào
câu trả lời đúng nhất theo các
nội dung sau:
a) Mùa xuân năm 40, Hai Bà
Trưng dựng cờ khởi nghĩa ở
đâu?
- Hs chỉ viết vào bảng con chữ cái đầu câu A. Hát Môn (Hà Tây)
10
đúng nhất.
B. Mê Linh (Vĩnh Phúc)
- Các tổ nhận xét kết quả của tổ bạn.
C. Cổ Loa (Hà Nội ngày nay)
tranh.
Phật giáo
Khuyên mọi người hãy yêu thương nhau, làm điều lành,
tránh điều ác....
* Câu 3:
Câu 3: Trưng Trắc và Trưng Nhị
a. Cho bốn câu thơ:
“Đố ai nêu lá quốc kì
Mê Linh đất cũ còn ghi muôn đời
Yếm, khăn, đội đá vá trời
Giặc Tô mất vía, rụng rời thoát thân”.
* Bốn câu thơ trên nói về ai? (Trưng
Trắc và Trưng Nhị).
* Em biết gì về Hai Bà Trưng?
* Nhân dân Nga Thiện có những đóng
góp gì trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà - Là những người lãnh đạo cuộc khởi
Trưng?
nghĩa Hai Bà Trưng chống quân xâm
lược Hán năm 40.
b. Em có suy nghĩ gì về lời nhận xét
của Lê Văn Hưu: ”Trưng Trắc, Trưng
11
Nh l ph n, hụ mt ting m cỏc
qun Giao Ch, Cu Chõn, Nht Nam,
Hp Ph cựng 65 thnh Lnh ngoi
u hng ng, vic dng nc xng
vng d nh tr bn tay, cú th thy
hỡnh th t Vit ta dng c
* Câu 5: Gv hướng dẫn Hs làm lại một số
Bài tập khó trong SGK lịch sử 6
+ (Bài tập 1-Bài 17, trang 49, SGK Ls6)
Đất nước và nhân dân Âu Lạc dưới thời
thuộc Hán có gì thay đổi?
Câu 5: Đất nước và nhân dân Âu
Lạc dưới thời thuộc Hán:
- Về hành chính: chia lại và gộp
với 6 quận của Trung Quốc =>
Châu Giao
- Về kinh tế: Nộp thuế; cống nạp;
vơ vét của cải
* Câu 6: Gv tổ chức kiểm tra việc làm Bài - Về chính trị: Đồng hoá dân tộc
tập lịch sử của học sinh qua vở Bài tập Câu 6:
lịch sử.
III. Giáo viên củng cố bài: Gv nhấn mạnh một số kỹ năng làm Bài tập
lịch sử.
2.2. Hình thức tổ chức rèn luyện kĩ năng vận dụng và phát triển tư duy cho
học sinh lớp 6 qua tiết Bài tập Lịch sử - tiết 23 ở trường THCS Nga Thiện.
Trên cơ sở của giáo án thực nghiệm, tôi xin trình bày các bước cơ bản về
phương pháp truyền tải kiến thức trong tiết Bài tập Lịch sử. Vì đây là tiết dạy
học có lượng kiến thức lớn, đòi hỏi giáo viên phải tiến hành với tốc độ nhanh
nhất, mức độ cao nhất và hiệu quả nhất. Giáo viên tổ chức rèn luyện kĩ năng vận
dụng và phát triển tư duy cho học sinh các dạng (hình thức) bài tập khác nhau:
2.2.1. Dạng bài tập trắc nghiệm đúng/sai:
- Giáo viên chép nội dung câu hỏi lên bảng hoặc chép trước vào bảng phụ hoặc
soạn trước trên Sile / Powerpoit.
Ví dụ: Hãy khoanh tròn vào câu trả lời đúng nhất theo các nội dung
sau:
Giáo viên cho học sinh/các nhóm nhận xét, sau đó giáo viên nhận xét bổ
sung và kết luận.
2.2.3. Dạng câu hỏi nhận biết, miêu tả, tường thuật, xác định địa điểm, xác
định nhân vật lịch sử....(giáo viên sử dụng đồ dùng trực quan hoặc hình ảnh
trực quan tương ứng để đặt câu hỏi).
- Ở câu hỏi 3a (theo giáo án): Cho bốn câu thơ:
“Đố ai nêu lá quốc kì
Mê Linh đất cũ còn ghi muôn đời
Yếm, khăn, đội đá vá trời
Giặc Tô mất vía, rụng rời thoát thân”.
Bốn câu thơ trên nói về ai?
Trường hợp học sinh không trả lời được giáo viên sử dụng câu hỏi gợi ý:
Bà quê ở Mê Linh.
- Ở câu hỏi 4 (theo giáo án): Trình bày diễn biến cuộc khởi nghĩa Bà Triệu năm
248.
Giáo viên phải cung cấp lược đồ Khởi nghĩa Bà Triệu năm 248 (giáo viên
tự vẽ hoặc tự thiết kế trên Powerpoit), hướng dẫn học sinh các nội dung trên
lược đồ theo phần chú giải và học sinh phải biết được không gian lịch sử. Sau đó
giáo viên cho 4 đến 5 học sinh lần lượt tường thuật.
2.2.4. Dạng câu hỏi nhận định/nhận xét:
- Ở câu hỏi 3b (theo giáo án):
14
”Trưng Trắc, Trưng Nhị là phụ nữ, hô một tiếng mà các quận Giao Chỉ,
Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố cùng 65 thành ở Lĩnh ngoại đều hưởng ứng,
việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, có thể thấy hình thế đất Việt ta
đủ dựng được nghiệp bá vương”.
Lê Văn Hưu
(Nhà sử học thế kỉ XIII)
* Hứng thú học tập lịch sử:
Năm học
2014 - 2015
2015 - 2016
Lớp đối chứng: 6A
Tỷ lệ đạt yêu cầu
Sĩ số
(%)
38
86.8
27
88.8
Lớp thực nghiệm: 6B
Tỷ lệ đạt yêu cầu
Sĩ số
(%)
37
86.4
25
92.0
15
* Kết quả học tập (thu được qua phiếu học tập sau khi tiến hành dạy tiết
23: Bài tập Lịch sử):
Lớp đối chứng: 6A
Lớp thực nghiệm: 6B
Năm học
Để đảm bảo yêu cầu đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục, người
giáo viên phải là người luôn tìm tòi, sáng tạo, chủ động truyền tải kiến thức theo
hướng tích cực trên cơ sở “lấy học sinh làm trung tâm”, bằng cách đa dạng hoá
các hình thức tổ chức học tập cho học sinh. Thực trạng về việc soạn và dạy tiết
bài tập lịch sử ở cấp THCS nói chung và lớp 6 nói riêng, người thực hiện đề tài
đã mạnh dạn đưa ra những giải pháp và những ý kiến đề xuất trên. Rất mong
được sự quan tâm, giúp đỡ của các ngành có liên quan để giáo viên dạy học lịch
sử hoàn thành tốt nhiệm vụ.
II. Kiến nghị:
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung chương trình SGK và phương pháp
giáo dục:
- Giáo viên lịch sử phải tăng cường đa dạng hoá các hình thức dạy học để
truyền tải tri thức lịch sử có hiệu quả trên cơ sở mục tiêu dạy học, trình độ tiếp
thu kiến thức của học sinh và cả quy mô tổ chức (đối với bài ngoại khoá, làm bài
tập lịch sử dưới dạng trò chơi....).
- Giáo viên trong trường và liên trường phải thường xuyên trao đổi kinh
nghiệm về việc xây dựng giáo án và dạy tiết Bài tập Lịch sử.
- Đối với đồ dùng trực quan (lược đồ, kênh hình trong sách giáo khoa...),
ban biên tập sách giáo khoa cần thể hiện có hiệu quả hơn về nội dung bằng kết
cấu các gam màu khác nhau.
- Nhà trường cần thiết phải xây dựng được phòng học lịch sử với đầy đủ
các yếu tố sau: dụng cụ bằng gỗ, các phương tiện kĩ thuật, đồ dùng học tập, tài
liệu học tập, giảng dạy.
- Đặc biệt các ngành chức năng có liên quan đến giáo dục cần soạn thảo
và cung cấp tài liệu nhằm định hướng rõ ràng, cụ thể, mang tính thống nhất về
cách soạn và dạy tiết Bài tập Lịch sử.
Nga Sơn, ngày 26 tháng 4 năm 2016
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Chức vụ: Giáo viên
Giáo viên trường: Trường THCS Nga Thiện
SKKN thuộc môn: Lịch Sử
18
NGA SƠN NĂM 2016