Tiểu luận quản trị kinh doanh bảo hiểm giải pháp hoàn thiện tính cạnh tranh của trung tâm đào tạo nghề giao thông vận tải quảng nam - Pdf 41

BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH & XÃ HỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI (CS II)
KHOA BẢO HIỂM
--------------------

TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ KINH
DOANH BẢO HIỂM
ĐỀ TÀI: “Giải pháp hoàn thiện tính cạnh tranh của
Trung tâm đào tạo nghề Giao thông vận tải
Quảng Nam ”
Giáo viên hướng dẫn: TS. Tôn Thất Viên
Sinh viên thực hiện: Diệp Hải Bình
Lớp: Đ14BH1


Ngành: Bảo hiểm

Tp. Hồ Chí Minh, Tháng 10 Năm 2016


CÁC DANH MỤC VIẾT TẮT


GTVT
DN

Giao thông vận tải
Doanh nghiệp

SXKD


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1 Tổng quan về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh, năng lực cạnh tranh
1.1.2. Phân loại cạnh tranh


1.1.3. Các công cụ cạnh tranh cơ bản
1.2 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh đối với DN
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp
1.3.1. Môi trường ngành
1.3.3. Môi trường nội bộ
1.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TRUNG TÂM
ĐÀO TẠO NGHỀ GTVT QUẢNG NAM
2.1 Tổng quan về Trung tâm đào tạo nghề GTVT Quảng Nam
2.1.1. Các quy định của pháp luật
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển Trung tâm đào tạo nghề GTVT
Quảng Nam
2.1.3. Chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động của Trung tâm
2.1.4. Bộ máy tổ chức của Trung tâm
2.1.5. Một số kết quả đạt được qua các năm gần đây.
2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của Trung tâm Đào tạo nghề GTVT Quảng
Nam
2.2.1. Chất lượng đào tạo
2.2.2. Nguồn nhân lực
2.2.3. Doanh thu và lợi nhuận
2.3 Đánh giá năng lực cạnh tranh của Trung tâm đào tạo nghề GTVT Quảng Nam
2.3.1. Điểm mạnh
2.3.2. Điểm yếu

- xã hội.
Cạnh tranh trong lĩnh vực đào tạo đang là một vấn đề nghiên cứu mới ở Việt Nam
cả về mặt lý luận và thực tiễn. Mặc dù trên thực tế, hiện tượng cạnh tranh gay gắt trong
lĩnh vực đào tạo ngày một phổ biến và mang tính tất yếu. Tại các trường dạy nghề nói
chung và đào tạo nghề lái xe nói riêng cũng đang nỗ lực để chuyển mình, tồn tại và phát
triển. Các cơ sở đào tạo lái xe muốn tồn tại trong thị trường đào tạo phải luôn vận động,
biến đổi, tạo cho mình một uy tín về chất lượng dịch vụ nhằm chiếm lĩnh những thị phần
nhất định. Chính sự cạnh tranh gay gắt đã đòi hỏi họ phải có các giải pháp hiệu quả nhằm
đứng vững và không ngừng phát triển.


Trung tâm đào tạo nghề GTVT Quảng Nam, thuộc Công ty cổ phần Giao thông
vận tải Quảng Nam, được thành lập theo Quyết định số 355/QĐ-HĐQT ngày 11/08/2005
của Hội đồng quản trị công ty, sau khi được sự thống nhất cho phép của Sở Lao động –
Thương Binh & Xã hội và Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam.
Trung tâm ra đời với định hướng đào tạo nghề lái xe cơ giới đường bộ, vận hành
xe máy thi công, xe máy chuyên dung, đảm nhiệm các chức danh thuyền viên trên
phương tiện đường thủy nội địa.
Hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Nam có bảy (07) cơ sở đào tại lái xe thuộc sở hữu
của Nhà nước và tư nhân. Mặc dù, vẫn là Trung tâm đào tạo nghề GTVT uy tín, chất
lượng hang đầu của tỉnh nhưng trong những năm trở lại đây, Trung tâm đào tạo nghề
GTVT Quảng Nam đã dần đánh mất đi những lợi thế và và thị phần của mình.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Giải pháp hoàn thiện tính cạnh
tranh của Trung tâm đào tạo nghề GTVT Quảng Nam” làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Để giữ vững vị trí và năng lực cạnh tranh hiện tại và chuẩn bị các điều kiện, nguồn
lực để đáp ứng trước bối cảnh mới về áp lực cạnh tranh, thông qua việc đánh giá thực
trạng năng lực cạnh tranh của Trung tâm Đào tạo nghề Lái xe Quảng Ninh trong giai
đoạn vừa qua (2005-2016), đề tài đề xuất một số giải pháp tăng cường năng lực cạnh
tranh của Trung tâm Đào tạo nghề Lái xe Quảng Ninh. Nhiệm vụ nghiên cứu là:

nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Chương 2. Thực trạng năng lực cạnh tranh của Trung tâm Đào tạo nghề GTVT
Quảng Nam.
Chương 3. Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Trung tâm Đào tạo
nghề GTVT Quảng Nam.


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1 Tổng quan về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh
Thuật ngữ “Cạnh tranh” có nguồn gốc từ tiếng Latinh với nghĩa chủ yếu là sự đấu
tranh, ganh đua, giữa các đối tượng cùng phẩm chất, cùng loại, đồng giá trị nhằm đạt
được những lợi thế, ưu thế, mục tiêu xác định. Ngày nay, thuật ngữ này được sử dụng rất
phổ biến trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, thể thao…
Cạnh tranh nói chung và cạnh tranh trong kinh tế nói riêng, nhất là trong nền kinh tế thị
trường là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau bởi đứng trên quan điểm của các
chủ thể kinh tế khác nhau thì mục đích cạnh tranh là khác nhau.
Theo K.Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư
bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa
để thu được lợi nhuận siêu ngạch”.
Theo kinh tế chính trị học: “Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ
thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản
xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuất với người tiêu dùng (người sản xuất
muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa người tiêu dùng với nhau để mua
được hàng rẻ hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản
xuất và tiêu thụ.”
Theo cuốn kinh tế học của P. Samueson và W.D.Nordhaus: “Cạnh tranh là sự kình

có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững.”
1.1.2 Phân loại cạnh tranh.
Có 3 cách để phân loại cạnh tranh:

a. Dựa vào chủ thể thị trường:
Cạnh tranh giữa người bán với người mua
Đây là cuộc cạnh tranh diễn ra theo “luật” mua rẻ bán đắt. Người mua luôn muốn


được mua rẻ, ngược lại người bán luôn muốn được bán đắt. Sự cạnh tranh được diễn ra
trong quá trình mặc cả, cuối cùng giá cả được hình thành và hành động mua - bán được
thực hiện.
Cạnh tranh giữa người mua với người mua
Đây là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật cung cầu. Khi một loại hàng hóa, dịch
vụ nào đó trên thị trường có mức cung nhỏ hơn nhu cầu tiêu dùng thì cạnh tranh trở lên
khốc liệt, giá cả của hàng hóa và dịch vụ sẽ được đẩy lên. Kết quả là người bán sẽ thu
đươc lợi nhuận cao, còn người mua thì mất nhiều tiền hơn. Đây là cuộc cạnh tranh mà
người mua tự làm hại chính mình.
Cạnh tranh giữa người bán với người bán
Đây là cuộc cạnh tranh khốc liệt nhất trên thị trường, nó có ý nghĩa quyết định đến
sự sống còn của bất cứ DN nào. Khi nền kinh tế phát triển, số lượng người bán cũng tăng
lên thì cạnh tranh càng trở lên gay gắt, DN nào cũng muốn giành lấy lợi thế, chiếm lĩnh
thị phần, làm hài lòng khách hàng để từ đó tăng lợi nhuận. Trong cuộc chạy đua này, DN
nào không có được chiến lược kinh doanh hợp lý sẽ bị “đánh bật” khỏi thị trường nhưng
đồng thời nó cũng giúp cho các DN có chiến lược kinh doanh phù hợp để tiếp tục phát
triển hơn nữa.
b. Dựa vào tính cất cạnh tranh:
Cạnh tranh hoàn hảo
Là hình thức cạnh tranh trên thị trường có nhiều người bán và nhiều người mua, tuy
nhiên trong số không có người bán hay người mua nào đủ khả năng khống chế được thị

Cạnh tranh giữa các ngành
Là cuộc cạnh tranh giữa các DN trong các ngành kinh tế với nhau nhằm thu được
lợi nhuận cao nhất. Trong quá trình cạnh tranh có sự dịch chuyển nguồn vốn đầu tư từ
ngành có lợi nhuận thấp sang ngành có lợi nhuận cao. Kết quả là sau một thời gian nhất
định sẽ hình thành nên một sự phân phối vốn hợp lý giữa các ngành sản xuất, giảm được
sự đầu tư không hợp lý trong nền kinh tế.
1.1.3. Các công cụ cạnh tranh cơ bản.
a. Giá cả:
Giá cả là phạm trù trung tâm của kinh tế hàng hóa của cơ chế thị trường, là biểu
hiện bằng tiền của sản phẩm mà người bán có thể dự tính nhận được từ người mua thông
qua sự trao đổi giữa các sản phẩm đó trên thị trường. Đây là một công cụ quan trọng để
cạnh tranh. Giá cả phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Các yếu tố kiểm soát được như: chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, chi phí lưu thông, chi


phí cho việc xúc tiến bán hàng…
- Các yếu tố không kiểm soát được như: quan hệ cung cầu trên thị trường, sự cạnh tranh,
khả năng chấp nhận và tâm lý khách hàng hay sự điều tiết của Nhà nước.
Ngày nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế, mức sống của người dân không
ngừng nâng cao, giá cả không còn là công cụ cạnh tranh quan trọng nhất của DN nữa
nhưng nếu DN biết kết hợp công cụ giá với các công cụ khác thì kết quả thu được sẽ rất
to lớn.
b. Chất lượng của sản phẩm:
Chất lượng là tập hợp các thuộc tính của sản phẩm trong điều kiện nhất định về
kinh tế, kỹ thuật. Chất lượng là một chỉ tiêu tổng hợp thể hiện ở nhiều mặt khác nhau
như: tính cơ lý hóa, hình dáng, màu sắc…Ngoài ra chất lượng còn thể hiện ở sự khác biệt
hóa của sản phẩm về mẫu mã, tính năng. Để chất lượng sản phẩm trở thành công cụ cạnh
tranh của DN thì sản phẩm đó phải đảm bảo cả về thông số kĩ thuật lẫn kinh tế. Nâng cao
chất lượng sản phẩm có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc tăng năng lực cạnh
tranh, thể hiện trên các góc độ:

của
VHDN như: gây dựng chữ Tín, tổ chức và điều hành hoạt động kinh doanh theo một quy
tắc chuẩn mực chung, chú ý đến hoàn thiện sản phẩm hướng đến phục vụ ngày càng tốt
hơn nhu cầu của khác hàng và thân thiện với môi trường…
- Càng ngày khách hàng của DN sẽ ngày càng khó tính và có nhiều đòi hỏi cao hơn, và
tất nhiên họ cũng có nhiều lựa chọn hơn trong việc cùng đáp ứng nhu cầu của mình. Lúc
này đây, thương hiệu và sản phẩm hàm chứa thông điệp văn hoá và mang bản sắc văn
hoá riêng của DN sẽ được khách hàng lựa chọn nhiều hơn.
- Một DN có nền tảng văn hoá bền vững đồng nghĩa với việc họ giữ được khách hàng và
có thêm nhiều cơ hội thu hút thêm những khách hàng mới. Hơn nữa, DN có văn hoá góp
phần khẳng định văn hoá kinh doanh của quốc gia, nâng cao uy tín, thương hiệu quốc gia
trên thị trường quốc tế.
1.2 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Một là, doanh nghiệp cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại.
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản, cho nên bất kỳ
một DN nào khi tham gia thị trường đều phải chấp nhận bởi cạnh tranh sẽ tạo môi trường
kinh doanh khốc liệt, kết quả là loại bỏ những DN làm ăn kém hiệu quả, năng suất chất
lượng thấp và ngược lại thúc đẩy những DN có phương pháp kinh doanh hợp lý. Do đó,
chỉ có nâng cao năng lực cạnh tranh thì DN mới có cơ hội tồn tại đứng vững trên thị


trường.
Hai là, nâng cao năng lực cạnh tranh giúp DN phát triển.
Quy luật cạnh tranh tạo động lực để thúc đẩy phát triển sản xuất nhằm đáp ứng tốt
hơn nhu cầu của khách hàng. Do đó nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ thúc đẩy tiến trình
phát triển của DN bởi năng lực cạnh tranh của DN tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển của
DN. Mặt khác, khi DN đứng vững và phát triển sẽ tạo điều kiện ngược lại để nâng cao
hơn nữa năng lực cạnh tranh của mình. Bởi những thành tựu qua sự phát triển sẽ giúp DN
có thêm nhiều cơ hội kinh doanh, có đủ khả năng về nguồn lực để tiếp cận những tiến bộ
khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, về tổ chức quản lý SXKD.

sự tác động của môi trường ngành ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của các DN là điều
không thể phủ nhận.
1.3.2. Môi trường nội bộ:
Khả năng cạnh tranh của DN là tổng hợp sức mạnh từ các nguồn lực hiện có và có
thể huy động được của DN như nguồn nhân lực, nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính,
cơ cấu tổ chức, kinh nghiệm…
1.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.4.1. Chất lượng sản phẩm:
Đối với bất kì một DN nào thì chất lượng sản phẩm cũng đóng một vai trò vô cùng
quan trọng. Nó không chỉ là yếu tố thu hút khách hàng mà còn là yếu tố thể hiện văn hóa
kinh doanh.
1.4.2. Tình hình sử dụng nguồn nhân lực:
Ta có thể đánh giá chất lượng của đội ngũ lao động và đội ngũ quản lý thông qua
các tiêu chí như sau: Trình độ chuyên môn, trình độ chính trị và phẩm chất đạo đức, các
kỹ năng về quản trị, ….
1.4.3. Quy mô vốn:
Bao gồm: Vốn chủ sở hữu và vốn vay. Quy mô vốn có ảnh hưởng rất lớn đến quy
mô của DN ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của một DN.
1.4.4. Thị phần:
Là phần thị trường mà doanh nghiệp chiếm lĩnh.
1.4.5. Giá cả
1.4.6. Doanh thu và lợi nhuận.


CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TRUNG TÂM
ĐÀO TẠO NGHỀ GTVT QUẢNG NAM
2.1 Tổng quan về Trung tâm đào tạo nghề GTVT Quảng Nam:
2.1.1 Các quy định của pháp luật:
Cơ sở đào tạo lái xe là cơ sở dạy nghề do cơ quan có thẩm quyền thành lập, có
chức năng đào tạo lái xe, có đủ các điều kiện tiêu chuẩn kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn

phép đào tạo thuyền viên, người lái phương tiện thủy nội địa, thuyền trưởng, máy trưởng
tàu sông hạng 3; Sở Giao Thông vận Tải giao nhiệm vụ đào tạo chứng chỉ chuyên môn
phương tiện thủy nội địa tốc độ cao loại 1. Tiếp tục những bước đi vững chãi, mới đây,
Sở Lao Động - Thương Binh & Xã Hội đã kiểm tra năng lực, cấp giấy chứng nhận đăng
ký hoạt động dạy nghề cho đơn vị, bổ sung thêm nghề đào tạo vận hành xe máy thi công.
Đặc điểm của cơ sở đào tạo lái xe trong nền kinh tế hiện nay:
- Một là, cơ sở đào tạo nghề lái xe là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trên thị
trường giáo dục;
- Hai là, cơ sở đào tạo lái xe chịu sự giám sát chặt chẽ và thường xuyên của Bộ Giao
thông
Vận tải và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ;


- Ba là, sản phẩm của cơ sỏ đào tạo lái xe là sản phẩm dịch vụ vô hình.
2.1.3 Chức năng và nhiệm vụ của Trung tâm đào tạo nghề GTVT Quảng Nam:
Chức năng:
Trung tâm đào tạo nghề GTVT Quảng Nam có chức năng chính là đào tạo, nâng
hạng lái xe cơ giới đường bộ cho tất cả ác đối tượng có nhu cầu học nghề lái xe và
phương tiện thuye nội địa. Chương trình đào tạo theo đúng quy trình của Bộ Giao thông
Vận tải và Tổng cục dạy nghề - Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội.
Nhiệm vụ:
Tổ chức tuyển sinh theo hạng GPLX được phép đào tạo (A1,A2,B1,B2,C,D,E,
thuyền trưởng hạng 3), bảo đảm các điều kiện quy định với người học về độ tuổi, sức
khỏe, thâm niên và số kilomet lái xe an toàn đối cới đào tạo nâng hạng lái xe.
Ký và thanh lý hợp đồng đào tạo với người học và tổ chức liên kết đào tạo lái xe
ô tô.
Công khai qui chế tuyển sinh và quản lý đào tạo để cán bộ, giáo viên, nhân viên
Trung tâm và người học biết, thực hiện.
Tổ chức đào tạo mới và đào tạo nâng hạng GPLX theo lưu lượng, thời hạn, địa
điểm, hạng GPLX ghi trong giấy phép đào tạo lái xe và chương trình, giáo trình đúng quy

Tổ Dịch vụ - Bảo vệ
Tổ đào tạo hạng B và C
Tổ đào tạo hạng D và E
Tổ đào tạo đường thủy nội địa
D, E, F
Tổ quản lý sửa chữa
phương tiện

2.1.5. Một số kết quả hoạt động đạt được qua các năm gần đây:

Năm

Tổng


STT

Các hạng lái xe

1

Lái xe ô tô hạng B2

2

Lái xe ôtô hạng C
Cộng

2011


(nguồn: Phòng Đào tạo)

Năm

Các hạng lái xe
STT
1
2
3

2011
đào tạo
Lái xe ô tô hạng D,E
107
Lái xe ô tô hạng Fc
84
Lái xe môtô hạng A1 11.074
Cộng
11.265

2012
135
76
12.288

12.499

Tổng

2013

trong một khoảng thời gian dài đã bùng phát về nhu cầu đào tạo khi có sự gia tăng quản
lý nhà nước trong lĩnh vực thực thi Luật Giao thông đường bộ. Với nỗ lực của mình,
Trung tâm Đào tạo nghề GTVT Quảng Nam trong thời gian qua cơ bản đã đáp ứng được
nhu cầu của xã hội, sự đa dạng về các loại hình đào tạo đã thu hút được lượng người học
đông đảo góp phần kiềm chế và giảm thiểu tai nạn giao thông.
2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của Trung tâm Đào tạo nghề GTVT
Quảng Nam
Hiện nay trên địa bàn Quảng Nam có 7 cơ sở đào tạo nhưng năng lực chỉ có Công
ty Cổ phần Minh Sơn vad Trường Cao đẳng Nghề Quảng Nam là cạnh tranh thị phần với
Trung tâm đào tạo nghề GTVT Quảng Nam. Vì năng lực, cơ cấu quản lý, nguồn vốn các
cơ sở kia còn lạc hậu và không đổi mới nên ta chỉ tập trung phân tích lợi thế của Trung
tâm so với 2 đối thủ còn lại.
2.2.1. Chất lượng đào tạo:


Chất lượng đào tạo là yếu tố quyết định sự sống còn của bất cứ cơ sở đào tạo nghề
lái xe nào nhất là trong giai đoạn hiện nay, thị trường đào tạo nghề có sự cạnh tranh quyết
liệt giữa các cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong đó có Trung tâm Đào tạo
nghề GTVT Quảng Nam. Việc nâng cao chất lượng đào tạo, gắn đào tạo với yêu cầu ngày
càng cao của xã hội, của doanh nghiệp tuyển dụng lao động là vấn đề then chốt để Trung
tâm tồn tại và phát triển.
Mối quan hệ giữa đào tạo nghề lái xe với nhu cầu xã hội là quan hệ “Cung- Cầu”.
Nhiệm vụ chủ yếu của đào tạo nghề lái xe là cung cấp nhân lực trực tiếp cho nhu cầu
phát triển kinh tế xã hội, đội ngũ này phải đáp ứng cả về chất, về lượng cũng như cơ cấu
trình độ phù hợp với yêu cầu tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội của đất nước trong
từng giai đoạn.
Sản phẩm đào tạo lái xe là loại sản phẩm dịch vụ. Chất lượng dịch vụ là mức độ
hài lòng của khách hàng trong quá trình cảm nhận tiêu dùng dịch vụ. Chất lượng đào tạo
lái xe là yếu tố rất quan trọng góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông chính vì vậy những
yêu cầu về chất lượng đào tạo lái xe đòi hỏi rất cao ở nhiều tiêu chí mang tính đặc thù.


GVLT+TH

Tổng

1

Thạc sỹ

2

2

2

Đại học

1

4

14

8

27

3

Cao đẳng


Lao động phổ thông

4

Tổng số

9

38

38
4

8

62

13

92

(nguồn: phòng Nghiệp vụ - Tổng hợp)
100% giáo viên đủ tiêu chuẩn theo qui định của Bộ GTVT như có phẩm chất, tư
cách đạo đức tốt; có đủ sức khoẻ theo qui định; trình độ văn hoá tốt nghiệp trung học phổ
thông trở lên; có chứng chỉ đào tạo sư phạm.
Trình độ giáo viên dạy lý thuyết: 57% đại học; 19% cao đẳng; 24% trung cấp và
bậc thợ tay nghề cao; hiện tại có 3 giáo viên đang theo học thạc sỹ. 100% giáo viên dạy
lý thuyết có trình độ A về tin học đáp ứng yêu cầu dạy môn Luật giao thông đường bộ
trên máy vi tính. Tuy nhiên trong đó mới có 60% số giáo viên đáp ứng được yêu cầu soạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status