Vai trò của PR trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam - Pdf 41

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NTD: Người tiêu dùng
DN: Doanh nghiệp
PR: Public Relations (Quan hệ công chúng)
FPT: Công ty cổ phần đầu tư phát triển công nghệ FPT
RSS: Really Simple Syndication (là một chuẩn tựa XML dành cho việc
phân tán và khai thác nội dung thông tin Web, ví dụ như các tiêu đề tin
tức)
ACB: Asia Commercial Bank (Ngân hàng Á Châu)

Đoàn Thanh Hải

1

Lớp A1- K42A-KTNT


LỜI MỞ ĐẦU
“Nếu công ty này bị chia cắt, tôi sẽ giao cho bạn toàn bộ tài sản, nhà
máy, thiết bị, tôi chỉ giữ lại thương hiệu và nhãn hiệu đăng ký, đảm bảo một
thời gian sau tôi sẽ kinh doanh tốt hơn bạn.” - Đó là lời khẳng định của vị
giám đốc điều hành công ty kinh doanh thực phẩm Quaker nổi tiếng của Mỹ1.
Vai trò của thương hiệu ngày càng đặc biệt quan trọng đối với các
doanh nghiệp phát triển mạnh trong xu thế cạnh tranh gay gắt. Hầu hết các
nhà lãnh đạo doanh nghiệp thành công đều tin tưởng rằng, việc xây dựng
được một thương hiệu tốt là yếu tố quyết định thành công trong kinh doanh
hiện đại.
Tuy nhiên, việc xây dựng và phát triển thương hiệu của các doanh
nghiệp Việt Nam hiện nay đang còn nhiều bất cập, do các doanh nghiệp chưa
nhận thức hết tầm quan trọng cũng như quy trình xây dựng thương hiệu. Hiện
nay, phần lớn các doanh nghiệp coi xây dựng thương hiệu (cùng với quảng

ba chương:
Chương 1: Tổng quan về PR trong việc xây dựng thương hiệu
Chương 2: Thực trạng sử dụng PR trong việc xây dựng và phát triển
thương hiệu ở các doanh nghiệp Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động PR trong việc xây
dựng và phát triển thương hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Phó Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn
Trung Vãn, người đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này. Em cũng
xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và các bạn đã giúp đỡ em trong việc
thu thập tài liệu để hoàn thành khóa luận này. Do trình độ và thời gian có hạn,
khóa luận này khó tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy em rất mong nhận được
sự chỉ dẫn tận tình của các thầy cô giáo và sự góp ý của đông đảo độc giả.

Đoàn Thanh Hải

3

Lớp A1- K42A-KTNT


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ PR TRONG VIỆC XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU
1.1. THƯƠNG HIỆU VÀ XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU

1.1.1. Những khái niệm chủ yếu
1.1.1.1. Thương hiệu
Từ lâu, thuật ngữ thương hiệu đã được sử dụng để phân biệt hàng hoá
của nhà sản xuất này với hàng hoá của nhà sản xuất khác. Nó xuất phát từ
ngôn ngữ Na Uy cổ “brandr”, nghĩa là “đóng dấu bằng sắt nung” - những
người chủ của các con vật nuôi đánh dấu lên các con vật của mình để nhận ra

Như vậy, tuy có nhiều cách định nghĩa thương hiệu, nhưng chúng đều
thống nhất ở những điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, thương hiệu là một khái niệm trừu tượng, là tập hợp nhận
thức trong tâm trí người tiêu dùng. Chính điều này mới làm cho giá trị của
thương hiệu vượt xa giá trị của các yếu tố hữu hình gắn liền với nó.
Thứ hai, thương hiệu thường được biểu hiện thông qua các yếu tố hữu
hình như tên, biểu tượng, khẩu hiệu. Chúng là một phần của thương hiệu chứ
không phải là toàn bộ thương hiệu.
1.1.1.2. Xây dựng thương hiệu
Theo giáo trình Marketing quốc tế, xây dựng thương hiệu (Branding) là
quá trình phát triển sản phẩm (hàng hóa và dịch vụ) theo định hướng chiến
lược thương hiệu để đảm bảo hiệu quả tối ưu [4].
Theo từ điển marketing của trang www.suasionresource.com: “Xây
dựng thương hiệu là quá trình phát triển và truyền tải những thuộc tính và bản
sắc thương hiệu tới thị trường để người tiêu dùng biết đến và chấp nhận, nhờ
đó đạt được mục tiêu doanh số”
Tóm lại, nếu thương hiệu sống trong tâm trí khách hàng , thì “xây dựng
thương hiệu chính là quá trình xây dựng những tập hợp nhận thức tích cực
trong tâm trí người tiêu dùng” [9]-TR.22. Tích cực có nghĩa là nhận thức đó
phải đúng đắn và gắn liền với những định hướng chiến lược mà công ty xây
dựng cho thương hiệu của mình. Ngoài ra, thương hiệu cũng chính là “một
dạng tài sản”[6]-TR 8, để xây dựng và phát triển tài sản đó, doanh nghiệp
nhất thiết phải có sự đầu tư.
Đoàn Thanh Hải

5

Lớp A1- K42A-KTNT



chúng hướng đến. Tuy nhiên, những thương hiệu thành công không bao giờ
biến đổi nhiều đến mức đánh mất thị trường của chính mình. Sự linh hoạt
chính là thương hiệu khả năng thể hiện mình theo nhiều cách khác nhau.
 Sự ấn tượng

Đoàn Thanh Hải

7

Lớp A1- K42A-KTNT


Bề ngoài của bạn cũng ít nhiều khiến người khác cảm nhận về con
người của bạn. Đó là lý do tại sao các thương hiệu thành công lại để tâm đến
vẻ bề ngoài nhiều đến vậy. Một thương hiệu tốt là thương hiệu được thiết kế
sao cho thật nổi bật trong số đông, tạo ra được một ấn tượng hợp lý và phải
giữ được điều đó cùng với thời gian.

1.1.2. Ý nghĩa của thương hiệu
1.1.2.1. Đối với doanh nghiệp
a. Thương hiệu là tài sản có giá trị của doanh nghiệp
Giá trị thương hiệu là một khái niệm mới xuất hiện và ngày càng trở
nên phổ biến trong lĩnh vực quản trị marketing - thương hiệu. Có rất nhiều
quan điểm và cách đánh giá khác nhau về giá trị thương hiệu nhưng nhìn
chung giá trị thương hiệu đều được phân tích và đánh giá từ góc độ người tiêu
dùng (NTD). Trong số rất nhiều quan điểm khác nhau đó thì quan điểm của
David Aaker (1991) khá phổ biến và được nhiều học giả và các nhà quản trị
tán đồng. Theo ông, “Giá trị thương hiệu là một tập hợp các tài sản mang
tính vô hình gắn liền với tên và biểu tượng của một thương hiệu, nó góp phần
làm tăng thêm giá trị sản phẩm đối với công ty và các khách hàng của công

Chất lượng được cảm nhận là những gì NTD cảm nhận về thương hiệu,
từ chất lượng thực tế của sản phẩm, cách thức phục vụ của nhân viên tại cửa
hàng cho đến dịch vụ hậu mãi. Chất lượng được cảm nhận là một yếu tố liên
hệ thương hiệu, nó được nâng lên thành một tài sản của thương hiệu bởi
những lý do sau:
Thứ nhất, trong số các yếu tố liên hệ thương hiệu, chỉ có yếu tố chất
lượng được cảm nhận là có liên quan tới kết quả tài chính. Trên thực tế, chất
lượng được cảm nhận góp phần làm ra lợi nhuận thông qua việc củng cố giá
cả và thị phần. Đồng thời, nó cũng ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập trên vốn
đầu tư (ROI), một chỉ tiêu được coi là đáng tin cậy nhất trong đánh giá tài
chính.
Thứ hai, chất lượng được cảm nhận luôn là một sức ép chiến lược lớn
đối với công việc kinh doanh. Những chương trình quản lý chất lượng mà các
DN áp dụng như quản lý chất lượng toàn diện (TQM),...đều nhằm mục đích
là tạo ra chất lượng được cảm nhận.
Cuối cùng, chất lượng được cảm nhận là thước đo sự tinh tế của thương
hiệu. Chất lượng được cảm nhận là lý do chủ yếu khi khách hàng chọn mua
sản phẩm. Khi quy mô của chất lượng cảm nhận được cải thiện thì các nhân tố
khác liên quan tới nhận biết của khách hàng về thương hiệu cũng được tăng theo.
Đoàn Thanh Hải

9

Lớp A1- K42A-KTNT


 Sự trung thành đối với thương hiệu
Sự trung thành với thương hiệu là thành phần tài sản thứ ba của thương
hiệu. Nó là một yếu tố thường được cân nhắc kỹ lưỡng khi xem xét giá trị một
thương hiệu được chuyển nhượng bởi vì có thể dễ dàng dự tính được rằng một


Lớp A1- K42A-KTNT


Thứ hai, lợi ích là công dụng thực tế mà khách hàng cảm nhận được khi
tiêu dùng sản phẩm. Có ba loại lợi ích: lợi ích chức năng thường gắn chặt với
thuộc tính của sản phẩm và dịch vụ; lợi ích biểu tượng thường không gắn chặt
với việc tiêu dùng, với thuộc tính của sản phẩm mà liên quan đến những nhu
cầu tiềm ẩn dồng thời khiến cho khách hàng thể hiện tính cách, quan điểm và
mong ước của mình; lợi ích kinh nghiệm liên quan đến cảm giác thích thú khi
sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ. Lợi ích này đáp ứng những nhu cầu thông
qua các giác quan (nhìn, nếm, nghe, ngửi hoặc tiếp xúc).
Mức độ cao nhất của liên hệ thương hiệu là thái độ. Thái độ đối với
một thương hiệu thể hiện sự đánh giá tổng thể của khách hàng về một thương
hiệu. Thái độ với thương hiệu đóng một vai trò quan trọng vì nó thường quyết
định hành vi mua hàng (lựa chọn thương hiệu). Thái độ của khách hàng về
thương hiệu thường dựa trên những đánh giá và cân nhắc cụ thể về thuộc tính
và lợi ích của thương hiệu
b. Thương hiệu là một sự bảo hiểm tốt
Tạo ra thương hiệu mạnh không những có lợi cho kinh doanh mà còn là
sự bảo hiểm tốt. Đó cũng là lý do tại sao người lãnh đạo phải tạo ra thương
hiệu mạnh. Mọi doanh nghiệp đều có bước thăng trầm của mình. Hãng Intel
bị khắp nơi chỉ trích vì cho ra đời hàng triệu con chip vi tính không chính xác.
Vài lọ thuốc trị nhức đầu Tylenol phổ biến bị giả mạo đã làm cho một số
người dân Mỹ trở bệnh. Những người nghiện Coca cola phẫn nộ khi người ta
cho thêm vị ngọt vào loại nước giải khát này và đổi tên nó thành New Coke.
Những sự cố như thế được lan truyền khắp nơi và ảnh hưởng tới cá doanh số
và giá chứng khoán. Tuy nhiên những thương hiệu này được phục hồi lại
trong thời gian tương đối ngắn vì họ lập được hình ảnh thương hiệu mạnh với
người tiêu dùng.

hiệu nổi tiếng sẽ đảm bảo cho NTD tránh được những rủi ro trên.
Cuối cùng, thương hiệu có thể xem như một công cụ biểu tượng để
khách hàng tự khẳng định giá trị bản thân. Một số thương hiệu được gắn liền
với một con người hoặc một mẫu người nào đó để phản ánh những giá trị
khác nhau hoặc những nét khác nhau. Do vậy, tiêu thụ sản phẩm được gắn với
những thương hiệu này là một cách để NTD có thể giao tiếp với những người

Đoàn Thanh Hải

12

Lớp A1- K42A-KTNT


khác - hoặc thậm chí với chính bản thân họ - tuýp người mà họ đang hoặc
muốn trở thành.

1.1.3. Phân loại
1.1.3.1. Theo cấp độ thị trường
Theo P.Cateora, trong cuốn “International Marketing”, xét theo cấp độ
thị trường, đã chia thương hiệu ra làm ba loại:
 Thương hiệu địa phương (Local Brands): chỉ thương hiệu sản phẩm
tiêu thụ ở trị trường nội địa hoặc thị trường ở một vài nước ngoài
 Thương hiệu khu vực (Regional Brands): còn gọi là thương hiệu đa
quốc gia, được áp dụng khi tiêu thụ sản phẩm mở rộng ở thị trường hàng loạt
nước ngoài theo phạm vi từng châu lục
 Thương hiệu toàn cầu (Global Brands): thường là những thương hiệu
nổi tiếng của các công ty toàn cầu đối với những sản phẩm được tiêu thụ ở
hầu khắp các nước thuộc các khu vực trên cấp độ thị trường toàn cầu. [4]
1.1.3.2. Theo mối quan hệ giữa các thương hiệu [2]

trái tim và tâm hồn của một thương hiệu. Vậy bản sắc thương hiệu chính xác là
gì?
Bản sắc thương hiệu là một tập hợp khác biệt độc đáo của các liên hệ
thương hiệu mà các nhà chiến lược mong muốn tạo ra và duy trì. Những liên
hệ này thể hiện những gì mà thương hiệu tượng trưng cho, đồng thời bao hàm
một lời hứa của tổ chức với khách hàng.
Bằng việc cho ra đời một lợi ích thương hiệu (Value proposition) mang
tới cho khách hàng những lợi ích có tính chức năng, lợi ích thuộc về cảm xúc
hay khả năng tự thể hiện, bản sắc thương hiệu sẽ giúp tạo dựng mối quan hệ
giữa thương hiệu và khách hàng.
Cần phân biệt bản sắc thương hiệu (brand identity) với hình ảnh thương
hiệu (brand image), và với định vị thương hiệu (brand positioning)
Brand image- Hình ảnh

Brand identity- Bản sắc

Brand positioning- Định

thương hiệu

thương hiệu

vị thương hiệu

Hiện nay thương hiệu Các nhà chiến lược Là một phần của bản sắc
đang được cảm nhận muốn thương hiệu sẽ thương

hiệu



hoạt động xây dựng thương hiệu, ví như sự kiện nào doanh nghiệp sẽ tài trợ,
chương trình quảng cáo nào tốt hơn, hay trưng bày cửa hàng như thế nào sẽ
hỗ trợ hình ảnh thương hiệu. Thực tế cần phải có một bản sắc thương hiệu đầy
đủ và có chiều sâu hơn, để biết thương hiệu đại diện cho điều gì.
 Xây dựng bản sắc thương hiệu như thế nào?
Để xây dựng bản sắc thương hiệu, doanh nghiệp có thể lựa chọn một
trong số bốn cách sau:
Cách 1: Coi thương hiệu như sản phẩm và xây dựng các mối liên hệ với
sản phẩm. Tức là thương hiệu trong tâm trí khách hàng có liên hệ với những
sản phẩm hay đặc tính nào liên quan? Ví dụ thương hiệu Visa được liên hệ
ngay với thẻ tín dụng, Compaq khiến người ta nghĩ ngay đến máy tính. Tuy
nhiên, mục tiêu của sự liên hệ thương hiệu này không phải là gợi cho khách
hàng nhớ đến sản phẩm khi nhắc đến thương hiệu, mà ngược lại, thương hiệu
thành công vì nó xuất hiện trong đầu khách hàng khi sản phẩm được nhắc
đến. Honda là một ví dụ, cứ nhắc đến xe máy là người ta nghĩ đến thương
Đoàn Thanh Hải

15

Lớp A1- K42A-KTNT


hiệu này, thậm chí người ta còn gọi xe Honda thay cho xe gắn máy. Trong
trường hợp của thương hiệu Gillette, nó xây dựng bản sắc là dòng sản phẩm
dao cạo dùng một lần tốt nhất, và câu định vị là : “The Best A Man Can Get”.
Bản sắc thương hiệu của Starbucks được xây dựng một cách toàn vẹn và nhất
quán là cung cấp cà phê hảo hạng nhất trên thế giới.
Cách thứ 2 là coi thương hiệu như một tổ chức, ví như: một tổ chức
luôn đổi mới, tổ chức quan tâm đến môi trường… Có thể xác định bản sắc của
một tổ chức thông qua đặc điểm riêng về con người, văn hóa doanh nghiệp,

thỏ của Energizer là biểu trưng cho tuổi thọ của pin. Một di sản có ý nghĩa và
sức sống cũng có thể trở thành biểu tượng, như cà phê Starbucks có mối liên
hệ với nhà hàng cà phê đầu tiên ở chợ Pike Place của bang Seatle.
Như vậy xây dựng bản sắc thương hiệu là bước đầu tiên, mang tính
chiến lược, không thể bỏ qua trong quá trình xây dựng thương hiệu.

Đoàn Thanh Hải

17

Lớp A1- K42A-KTNT


b. Xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu [2],[5]
Hệ thống nhận diện thương hiệu gồm có: tên thương hiệu, logo, khẩu
hiệu, nhạc hiệu, bao bì sản phẩm, màu sắc thương hiệu, kiểu chữ của thương
hiệu,… Các yếu tổ để tạo nên một hệ thống nhận diện thương hiệu tốt sẽ được
nêu rõ sau đây:
 Tên thương hiệu
Tên thương hiệu được xem là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất của một
thương hiệu và cũng là yếu tố trung tâm của sự liên hệ giữa sản phẩm với
khách hàng. Tên thương hiệu là một công cụ giao tiếp ngắn gọn, đơn giản
nhưng có hiệu quả cao nhất. Các chương trình truyền thông, quảng cáo có thể
kéo dài từ vài phút (trên truyền hình), hay thậm chí kéo dài hàng giờ thì tên
thương hiệu là yếu tố có thể được khách hàng nhận biết và ghi nhớ vào tâm trí
rất nhanh, chỉ trong vài giây. Một khi tên thương hiệu đã được khách hàng ghi
nhớ thì nó là yếu tố rất khó thay đổi.
 Logo và biểu tượng đặc trưng
Logo và biểu tượng đặc trưng, là những yếu tố mang tính đồ hoạ, cũng
đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên giá trị thương hiệu, đặc biệt

Nhạc hiệu là một yếu tố cấu thành thương hiệu được thể hiện bằng âm
nhạc. Nhạc hiệu thường có sức thu hút người nghe và làm cho mục quảng
cáo trở nên hấp dẫn và sinh động. Thực chất nhạc hiệu là một hình thức mở
rộng của câu khẩu hiệu. Mặc dù nhạc hiệu cũng có thể truyền tải những lợi
ích của thương hiệu nhưng chỉ có thể dưới hình thức gián tiếp và trừu tượng.
Nhạc hiệu cũng không thể bổ sung cho logo hay biểu tượng, nó cũng không
thể được gắn lên các bao bì sản phẩm hay các pa nô, áp phích quảng cáo.
 Bao bì sản phẩm
Bao bì cũng là một yếu tố quan trọng tạo dựng nên giá trị thương hiệu
của công ty. Thông thường, sự liên hệ mạnh nhất của khách hàng đối với sản
phẩm chính là thông qua bao bì của nó. Những sản phẩm có bao bì được thiết
kế với kiểu dáng và hình thức bắt mắt sẽ thu hút và lôi cuốn khách hàng, đặc
biệt là trong những năm gần đây, khi mà xu hướng mua sắm trong những cửa
hàng tổng hợp hoặc siêu thị - nơi trưng bày hàng trăm nghìn loại sản phẩm ngày càng trở nên phổ biến.
 Màu sắc thương hiệu:
Đoàn Thanh Hải

19

Lớp A1- K42A-KTNT


Màu sắc giúp cho cho thương hiệu tìm được một vị trí cố định trong
tâm trí của bạn. Qua nhiều năm, các nhà tâm lý học nhận biết những cảm giác
khác nhau gắn liền với từng màu, do đó hãy ghi nhớ thương hiệu trong tâm trí
khi quyết định chọn màu sắc thương hiệu. Nếu thương hiệu của bạn xuất hiện
trên thương trường quốc tế, bạn còn phải luôn nhớ rằng, trong những nền văn
hóa khác nhau thì sự liên tưởng cảm giác với màu sắc thường thay đổi.
 Kiểu chữ của thương hiệu
Việc lựa chọn một hoặc hai kiểu chữ để sử dụng nhất quán trong truyền

lý, để đề phòng trường hợp bị ăn cắp thương hiệu. Tình trạng hàng giả, hàng
nhái, hay đặt tên sản phẩm tương tự để lợi dụng uy tín của thương hiệu đang
tràn lan và trở thành vấn nạn trong nhiều ngành.
Về tên miền trên mạng Internet, nhiều doanh nghiệp đã sớm có ý thức
trong việc đăng ký và bảo vệ, nhưng riêng đối với sở hữu thương hiệu và
nhãn hiệu thì vấn đề rắc rối hơn nhiều, nhất là với các thương hiệu uy tín, bởi
thương hiệu là một trong những yếu tố kinh doanh quan trọng bậc nhất, không
thể thay đổi một sớm một chiều được.
b. Quảng bá thương hiệu
Để quảng bá thương hiệu, DN sử dụng chiến lược truyền thông gồm rất
nhiều các phương thức giao tiếp marketing. Có thể kể đến 4 phương thức giao
tiếp chủ yếu, đó là: quảng cáo, quan hệ công chúng, bán hàng trực tiếp,
khuyến mại. Ta sẽ tìm hiểu 4 phương thức này trong mối liên hệ với việc
quảng bá thương hiệu.
Thứ nhất, quảng cáo là hoạt động quan trọng trong các hoạt động
quảng bá thương hiệu không chỉ trong giai đoạn đầu thâm nhập thị trường mà
nó còn góp phần từng bước duy trì nhận thức của NTD về thương hiệu trong
suốt quá trình phát triển của DN. Có 4 loại quảng cáo chủ yếu gồm: quảng
cáo bằng các phương tiện truyền thông đại chúng (truyền hình, truyền thanh,
báo, tạp chí); quảng cáo qua hình thức phản hồi trực tiếp (thư, điện thoại, tờ
rơi, email, internet, gửi cataloge, hàng hoá qua bưu điện...); quảng cáo tại chỗ
(băng rôn, pano, áp phích, phương tiện giao thông, bảng đèn điện tử,...);
quảng cáo tại điểm mua hàng.
Thứ hai, các hoạt động xúc tiến bán hàng là những biện pháp khuyến
khích mang tính ngắn hạn cho việc dùng thử hay sử dụng một sản phẩm hay
Đoàn Thanh Hải

21

Lớp A1- K42A-KTNT

Đoàn Thanh Hải

22

Lớp A1- K42A-KTNT


mắc của khách hàng và đảm bảo khách hàng hài lòng với sản phẩm. Nhược
điểm chính của hình thức bán hàng này là chi phí cao và thiếu độ mở rộng, vì
vậy không thích hợp đối với các sản phẩm được tiêu dùng với số lượng lớn
như các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu. Để bán được hàng tốt hơn, các DN cần
nâng cao kỹ năng cho các đại diện bán hàng của mình, họ phải là những
người thấu hiểu khách hàng và có khả năng giải quyết các dịch vụ bán hàng.
Đây chính là một trong những điểm tiếp xúc thực tế của khách hàng với
thương hiệu, ảnh hưởng lớn đến hình ảnh thương hiệu trong mắt khách hàng.
c. Củng cố và mở rộng thương hiệu
Việc mở rộng thương hiệu rất cần thiết (cả về loại sản phẩm lẫn tính
cách đứng sau các thương hiệu đó), vì điều đó nghĩa là doanh nghiệp càng
linh hoạt hơn trong việc cung cấp sản phẩm cho thị trường. Tuy nhiên, khi mở
rộng thương hiệu của mình, bạn có nguy cơ làm lu mờ hình ảnh của thương
hiệu. Các nhà chiến lược thương hiệu đã sử dụng Dải Quan hệ của thương
hiệu trải từ những sản phẩm liên quan cùng tính cách thương hiệu cho đến
một chùm thương hiệu trong đó các thương hiệu chẳng có liên quan chút nào
với nhau[3].
 Họ thương hiệu: loại quan hệ này thường đặt tên những thương hiệu
nhánh gần giống nhau để tạo ra ấn tượng tối đa cho bản sắc thương hiệu mẹ.
Dòng sản phẩm mì gà, mì bò,… của Vifon là một ví dụ.
 Thương hiệu nhánh: loại quan hệ thương hiệu này có thể bao gồm
những thương hiệu nhánh đôi chút độc đáo, thường nhắm vào những phân
đoạn thị trường mới nhưng có liên quan chặt chẽ với nhau. Các thương hiệu

riêng của họ về bạn.
Philip R. Cateora, một chuyên gia marketing, đưa ra một định nghĩa về
công chúng như sau: “Công chúng là bất cứ nhóm nguời nào có mối quan tâm
hay ảnh hưởng hiện tại hoặc tiềm năng đến khả năng đạt mục tiêu của doanh
nghiệp”. Đây là một định nghĩa khá đầy đủ về công chúng của một doanh
nghiệp. Họ là tất cả những tổ chức và cá nhân có ảnh hưởng đến sự thành
công hay thất bại của doanh nghiệp đó, là khách hàng, cơ quan chính phủ,
cộng đồng dân cư, nhà đầu tư, và tổ chức khác. Ngay cả nhân viên cũng là
những công chúng nội bộ, cũng có khả năng cản trở việc đạt được các mục
tiêu của doanh nghiệp nếu như không xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp với
họ.

Đoàn Thanh Hải

24

Lớp A1- K42A-KTNT


Điều này cũng có nghĩa là hoạt động PR không phát những thông điệp
hướng đến một thị trường rộng lớn mà nhắm đến các nhóm công chúng có sự
sàng lọc, nhằm gia tăng khả năng thành công trong việc chuyển tải thông
điệp, đồng thời giảm bớt chi phí.
b. Quan hệ công chúng
Định nghĩa của Institute of Public Relation (IPR- Viện quan hệ công
chúng của Anh) như sau: “PR là một nỗ lực được lên kế hoạch và kéo dài liên
tục để thiết lập và duy trì sự tín nhiệm và hiểu biết lẫn nhau giữa một tổ chức
và công chúng”. Định nghĩa này nhấn mạnh hoạt động PR được tổ chức thành
một chiến dịch hay chương trình và là một hoạt động liên tục, nó không thể
không có kế hoạch.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status