BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TẠ VĂN SƠN
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT
VÀ NHU CẦU GIỐNG THỦY SẢN NƯỚC NGỌT
TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TẠ VĂN SƠN
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT
VÀ NHU CẦU GIỐNG THỦY SẢN NƯỚC NGỌT
TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngành:
Nuôi trồng thủy sản
Mã số:
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn này được hoàn thành dựa trên kết quả nghiên cứu
của bản thân tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung
thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào
khác. Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2016
Tác giả luận văn
Tạ Văn Sơn
iii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo TS. Lê Anh Tuấn và
TS. Nguyễn Thanh Tùng đã tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ, tạo điều
kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới chi cục trưởng Chi cục Thủy sản Hà Nội ông
Hoàng Tiến Minh và toàn thể cán bộ công nhân viên chi cục, phòng kinh tế các
huyện của thành phố Hà Nội, các trại sản xuất giống và hộ nuôi trồng thủy sản
đã giúp đỡ tôi trong việc thu thập tài liệu.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo cô giáo trường Đại học Nha
Trang đã luôn giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Với lòng biết ơn chân thành nhất, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn
bè đã luôn động viên và giúp đỡ tôi để hoàn thành luận văn này.
iv
Tình hình nghiên cứu và phát triển công nghệ sản xuất giống cá nước ngọt
trên thế giới. ......................................................................................................... ...4
1.2.Tình hình sản xuất giống thủy sản nước ngọt tại Việt Nam và tại Hà Nội...........6
1.2.1. Tình hình sản xuất giống thủy sản tại Việt Nam..............................................6
1.2.2. Tình hình sản xuất giống thủy sản tại Hà Nội……………………..........…....8
1.3. Tiềm năng và hiện trạng NTTS thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 –
2015.............................................................................................................................8
1.3.1. Tiềm năng mặt nước nuôi trồng thuỷ sản..........................................................8
1.3.2. Tình hình phát triển nuôi trồng thuỷ sản…………………………….........…...9
1.4. Đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và tiềm năng phát triển NTTS của
thành phố Hà Nội................................................................................................... 11
1.4.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên..................................................................... 11
1.4.2. Tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt ..................................... 13
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP ........................................................14
2.1.
Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu........................................... 14
2.1.1. Thời gian nghiên cứu.................................................................................... 14
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu .................................................................................... 14
2.1.3. Đối tượng nghiên cứu................................................................................... 14
2.2.
Phương pháp nghiên cứu ......................................................................... 14
v
3.3.3. Năng suất nuôi ............................................................................................. 35
3.3.4. Sản lượng nuôi ............................................................................................. 36
3.3.5. Kỹ thuật NTTS nước ngọt ở cấp độ hộ gia đình............................................ 36
3.4.
Đánh giá những thành tựu, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong hoạt động
sản xuất giống thủy sản nước ngọt ......................................................................... 38
3.4.1. Thành tựu của hoạt động sản xuất giống thủy sản nước ngọt............................ 38
3.4.2. Những tồn tại và hạn chế chưa đạt được ....................................................... 39
3.4.3. Những nguyên nhân của sự tồn tại, hạn chế.................................................. 39
3.5.
Dự báo nhu cầu giống thủy sản nước ngọt ở thành phố Hà Nội trong thời
gian tới.......................................................................................................................40
3.5.1. Về chính sách liên quan đến phát triển giống thủy sản.................................. 40
3.5.2. . Những nhân tố ảnh hưởng đến nguồn cung cá giống của Thành phố trong thời
gian tới .................................................................................................................. 41
vi
3.5.3. Khả năng đáp ứng nguồn giống trong thời gian tới ....................................... 42
3.6.
Giải pháp để góp phần nâng cao chất lượng con giống thủy sản nước ngọt tại
thành phố Hà Nội................................................................................................... 43
3.6.1. Nhóm giải pháp về tổ chức sản xuất ............................................................. 43
Diễn giải nghĩa
1
ĐBSH
Đồng bằng Sông Hồng
2
KH-KT
Khoa học kỹ thuật
3
KT- XH
Kinh tế - xã hội
4
NN&PTNT
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
5
NTTS
Bảng 3. 9: Các chỉ tiêu môi trường trung bình ở một số trại giống trong tháng 3,
4, 5 năm 2016................................................................................................33
Bảng 3. 10: Diện tích, năng suất và sản lượng nuôi trồng thuỷ sản của thành phố
Hà Nội qua một số năm.................................................................................35
Bảng 3.11: Mật độ nuôi trung bình tại Hà Nội qua các năm……………..…..42
ix
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3. 1: Sản lượng con giống thuỷ sản được sản xuất qua các năm............27
Hình 3. 2: Cơ cấu đối tượng thủy sản nước ngọt được sản xuất năm 2015......35
x
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2016, tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đánh
giá hiện trạng sản xuất và nhu cầu giống thủy sản nước ngọt tại thành phố Hà
Nội”. Đề tài tiến hành điều tra toàn bộ các trại sản xuất giống thủy sản nước ngọt trên
địa bàn Thành phố, các hộ ương giống thủy sản nước ngọt và các hộ dân tham gia
NTTS nước ngọt trên địa bàn Thành phố. Trên cơ sở đánh giá được hiện trạng sản xuất
giống của các trại giống, ương giống và nuôi thủy sản ở thành phố Hà Nội, xây dựng
các luận chứng khoa học nhằm góp phần nâng cao chất lượng sản xuất giống đáp ứng
nhu cầu phát triển NTTS, phục vụ quy hoạch hệ thống sản xuất giống của thành phố
Hà Nội.
Nội dung cụ thể của đề tài gồm: đánh giá khái quát điều kiện tự nhiên - môi
trường- kinh tế- xã hội tại Hà Nội; đánh giá hiện trạng NTTS nước ngọt của thành phố
sở hạ tầng, trang bị kỹ thuật lạc hậu, xuống cấp. Tuy nhiên, trong những năm gần đây
đã được quan tâm, chỉ đạo của các cấp đã chú trọng đến việc cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ
tầng và trang thiết bị cho các trại sản xuất nhằm nâng cao chất lượng con giống. Một số
cơ sở sản xuất giống trên địa bàn Thành phố đã làm chủ được công nghệ trong sản xuất
giống cá chép V1, rô phi đơn tính (bằng phương pháp sử lý hoá chất).
Để NTTS Hà Nội phát triển, cần tạo điều kiện mở rộng diện tích, hỗ trợ đầu tư
hệ thống cơ sở hạ tầng, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, hỗ trợ đàn cá bố mẹ
cho các trại giống để các trại này nâng cao chất lượng con giống phục vụ cho NTTS.
Tăng cường sản xuất giống các đối tượng có giá trị kinh tế và nhu cầu con giống cao
trong thời gian tới như: cá rô phi đơn tính theo phương pháp lai xa, cá chép V1.
Cần áp dụng và thực hiệc tổng hợp các giải pháp đã đề xuất vào phát triển NTTS
trên địa bàn Thành phố. Thành phố cần quan tâm đến công tác đào tạo, tập huấn kỹ
thuật cho các cơ sở sản xuất giống; xây dựng mô hình NTTS tốt (VietGAP) để bảo vệ
môi trường sinh thái, hạn chế dịch bệnh, đảm bảo an toàn thực phẩm, nâng cao chất
lượng sản phẩm, hướng tới phát triển bền vững.
Nhà nước cấn tiếp hỗ cho các cơ sở nghiên cứu, sản xuất giống sạch bệnh; tăng
cường công tác quản lý sản xuất con giống, kiểm soát nguồn cung cấp cá giống an
toàn cho nuôi thương phẩm, tránh tình trạng mua giống không rõ nguồn gốc, không
qua kiểm dịch về nuôi.
Từ khóa: sản xuất giống, nuôi trồng thủy sản, trại giống, cá giống, Hà Nội.
xii
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, thủy sản là một trong những hướng phát triển kinh tế quan trọng của
thành phố Hà Nội, góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập và cung cấp nguồn thực
phẩm tươi sống cho người dân. Theo Chi cục Thủy sản Hà Nội, tổng diện tích tiềm năng
có thể phát triển NTTS hiện nay của Thành phố Hà Nội là 30.840 ha (lớn nhất so với các
Hiện nay, nguồn con giống sản xuất tại chỗ trên địa bàn và con giống của các
tỉnh khác lưu thông trên địa bàn Thành phố chưa được kiểm tra, kiểm soát tốt về chất
lượng, chưa làm tốt công tác kiểm dịch con giống do địa bàn rộng, lực lượng cán bộ
chuyên ngành thủy sản cấp thành phố ít, cấp huyện hầu như không có; các chủ cơ sở
sản xuất giống cũng như nuôi thương phẩm chưa chấp hành tốt quy định,...
Từ lâu nay, việc báo cáo tình hình sản xuất, kinh doanh và nhu cầu con giống
thủy sản trên địa bàn Thành phố chủ yếu thông qua báo cáo từ các phòng ban trực
thuộc cấp huyện (phòng kinh tế) không có chuyên môn sâu về thủy sản. Công tác điều
tra, đánh giá hiện trạng sản xuất, kinh doanh cũng như nhu cầu giống của người nuôi
trồng trên địa bàn thành phố Hà Nội vẫn chưa được triển khai. Vì vậy để có những
đánh giá khách quan, cụ thể, chính xác tìm ra những nguyên nhân, hạn chế, khó khăn
trong sản xuất giống, nhu cầu giống của người NTTS; đồng thời đề xuất giải pháp phát
triển giống thủy sản góp phần thực hiện mục tiêu của thành phố Hà Nội đã đề ra về
phát triển thủy sản đến năm 2020 tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đánh giá hiện
trạng sản xuất và nhu cầu giống thủy sản nước ngọt tại thành phố Hà Nội”.
1.2. Mục tiêu đề tài
1.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá được hiện trạng sản xuất giống của các trại giống, ương giống
và nuôi thủy sản ở thành phố Hà Nội, xây dựng các luận chứng khoa học nhằm góp
phần nâng cao chất lượng sản xuất giống đáp ứng nhu cầu phát triển NTTS, phục vụ
quy hoạch hệ thống sản xuất giống của thành phố Hà Nội.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá hiện trạng sản xuất giống và ương nuôi thuỷ sản nước ngọt tại thành
phố Hà Nội.
- Đánh giá hiện trạng NTTS và nhu cầu về giống NTTS nước ngọt của thành phố
Hà Nội.
- Làm rõ các nguyên nhân và các nhân tố ảnh hưởng đến hiện trạng, đề xuất một
số giải pháp cơ bản để góp phần nâng cao chất lượng sản xuất giống đáp ứng nhu cầu
phát triển NTTS, phục vụ quy hoạch hệ thống sản xuất giống của thành phố Hà Nội.
ngọt, xác định được nhu cầu giống và đưa ra một số giải pháp. Đây có thể là cơ sở để tiến
hành xây dựng quy hoạch phát triển giống thuỷ sản nước ngọt nói riêng và quy hoạch phát
triển giống thuỷ sản tại thành phố Hà Nội nói chung nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế về
điều kiện tự nhiên để nghiên cứu và sản xuất giống, đáp ứng được nhu cầu về số lượng
giống có chất lượng cao phục vụ cho NTTS của Thành phố và cung cấp cho các tỉnh khác
trong vùng.
3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu và phát triển công nghệ sản xuất giống cá nước ngọt
trên thế giới
Theo sổ sách thì nghề nuôi cá đã có từ lâu trước công nguyên. Trước công
nguyên 2000 năm, dân vùng Sumer (nam Babylon, địa phận Irắc ngày nay) đã biết
nuôi cá thịt trong ao. Năm 1800 trước công nguyên, vua nước Ai cập là Maeris đã nuôi
được 20 loài cá khác nhau để giải trí. Ở Trung quốc, người ta đã biết đến nuôi cá từ
cuối đời nhà Ân, khoảng 1000 năm trước công nguyên [13].
Năm 460 trước công nguyên, Phạm Nãi, đại thần nước Việt có viết quyển
“phép nuôi cá”, trong đó mô tả cách cho cá chép đẻ trong ao. Ông viết: ao rộng 6 mẫu
( 1 mẫu Trung Quốc bằng 1/15 ha) chia làm 9 ô, thả nhiều cỏ nước, bắt 20 con cá
chửa, dài khoảng 60 cm, 4 con chép đực dài 3 thước, ngày 7 tháng 2 cho nước vào, để
yên tĩnh cá sẽ sinh con. Đó là tài liệu hướng dẫn đầu tiên về kỹ thuật sản xuất giống
cá.Trong một thời gian dài, hàng chục thế kỷ không thấy có tài liệu nào về nuôi và sản
xuất giống cá.
Mãi đến thế kỷ thứ 19, năm 2854 Mongudi đã công bố bài miêu tả những thí
nghiệm của tu sỹ Pháp là Penshon thực hiện từ năm 1420. Penshon đã làm những cái
thùng hẹp bằng gỗ, đáy thừng được phủ một lớp cát thô, thành được làm bằng cành
liễu hoặc lau, sậy. Xếp ở đáy thùng là “trứng cá đã được thụ tinh từ trước”. Tài liệu
không nói rõ thế nào là “trứng cá đã được thụ tinh từ trước”, có phải trứng đã được vớt
Để tạo ra giống những loài cá vốn không đẻ tự nhiên trong ao, song song với
những nghiên cứu về sinh thái học nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển tuyến sinh dục
và đẻ trong điều kiện nhân tạo, người ta nghiên cứu kích thích sự sinh sản của cá bằng
cách tiêm cho chúng những hoạt chất khác nhau. Đầu thế kỷ 20 người ta phát minh ra
kích dục tố trên động vật có vú. Kích dục tố là hormon do tuyến yên (trong sinh sản
nhân tạo cá thường gọi là não thùy) của động vật có xương sống tiết ra, có ảnh hưởng
đến sự phát triển của tuyến sinh dục và sự sinh sản nói chung.
Khi nghề nuôi cá chuyển sang chủ động kích thích cá bằng những hoạt chất từ
ngoài thì cũng thực sự đứng trước một vấn đề cấp bách. Đó là việc cung cấp chất kích
thích sinh sản cá cho nghề nuôi cá. Não thùy ngày càng trở nên khan hiếm trước quy
mô của việc sản xuất giống cá ngày càng mở rộng. Năm 1936 Morozova đã thành
công khi kích thích cá Perca rụng trứng bằng nước tiểu phụ nữ có thai và HCG. Năm
1958, Trung quốc đã cho các loài cá mè trắng, mè hoa đẻ thành công bằng HCG (13).
Ngoài ra, ngày nay người ta dùng phổ biến GnRH (hormon gây tiết kích dục tố)
hoặc còn gọi là LH-RH, FSH-RH, Luliberine hay những tên khác có nghĩa tương tự.
5
Trong các công trình thực nghiệm người ta đã tìm được nhiều chất khác có khả năng
gây chín và rụng trứng cho cá.
Ngoài những thành tựu về những chất kích thích sinh sản, trong nghiên cứu
phục vụ sản xuất giống cá còn có những tiến bộ quan trọng như điều khiển giới tính,
mẫu sinh nhân tạo, đa bội thể nhân tạo,...
Hiện nay, những thành tựu quan trọng trong sản xuất giống trên thế giới có thể kể
đến là công nghệ điều khiển giới tính (tạo đàn giống đa bội thể, toàn đực, toàn cái) sử
dụng các biện pháp kỹ thuật (sinh hóa, sinh lý, sinh học) để tạo ra các đàn giống đơn
tính hoặc thay đổi nhiễm sắc thể có khả năng sinh sản hạn chế, có tốc độ tăng trưởng
nhanh, kích thước lớn. Công nghệ này đang được áp dụng trong sản xuất giống cá hồi
ở Na Uy, hàu ở Mỹ, Úc, cá rô phi, tôm càng xanh ở Israel, Ai Cập, Đài Loan (Trung
Những thành công trong việc nghiên cứu và sản xuất nhân tạo giống thuỷ sản đã
đóng góp một phần rất lớn vào sự phát triển của nghề NTTS nói chung và sản xuất
giống thuỷ sản nói riêng:
+ Trong lĩnh vực di giống và thuần hoá: Chúng ta đã nhập, nuôi khảo nghiệm,
sinh sản nhân tạo thành công và đưa vào sản xuất một cách có hiệu quả một số đối
tượng mới có giá trị kinh tế cao như: cá rô phi được nhập từ Indonesia năm 1953, cá
mè hoa, cá trắm cỏ từ Trung quốc năm 1958, cá tai tượng từ các nước Đông Nam Á
vào miền Nam năm 1962, cá rô phi vằn năm 1972, cá chép Hungari năm 1972, cá rô
hu, mrigan từ Ấn Độ năm 1982 và gần đây là cá chim trắng từ Trung Quốc. Ngoài ra,
chúng ta đã di nhập thành công một số đối tượng có giá trị kinh tế cao như: cá hồi vân
từ Phần Lan, cá tầm từ Nga. Sau ngày giải phóng Miền Nam, ngoài việc nhập nội,
chúng ta còn tổ chức việc di giống thuần hoá nội lãnh thổ một số loài cá rất hiệu quả,
đặc biệt như một số loài cá thuộc khu hệ cá đồng bằng sông Hồng được đưa vào nuôi ở
Đồng bằng sông Cửu Long và ngược lại. Những thành tựu trong lĩnh vực này đã làm
cho tập đoàn giống thuỷ sản nước ngọt đang được nuôi hiện nay thêm đa dạng và
phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tận dụng tiềm năng diện tích các loại mặt
nước và nâng cao hiệu quả nuôi trồng.
+ Trong lĩnh vực lai tạo và chọn giống: đã tiến hành lai tạo để tận dụng ưu thế lai và
chọn giống một số loài cá có giá trị kinh tế cao như cá chép, cá trê rất có hiệu quả. Bằng con
đường lai tạo và chọn lọc đã thành công trong việc tạo được giống cá chép lai ba màu, cá trê
lai có tốc độ sinh trưởng nhanh, thịt thơm ngon.
+ Những năm gần đây, Viện nghiên cứu NTTS I đã thành công công nghệ sản
xuất cá rô phi đơn tính đực bằng phương pháp lai xa khác loài đạt tỷ lệ giới tính đực
>95%. Cá rô phi đơn tính đực được sản xuất bằng phương pháp này có thể cạnh tranh
7
được so với cá rô phi đơn tính đực sản xuất bằng phương pháp sử dụng hormone, đưa
ra thị trường sản phẩm mới và được người tiêu dùng chấp nhận; đồng thời chú ý tới
Ruộng trũng: 19.807ha.
Ngoài ra, còn một số con sông có khả năng phát triển nuôi cá lồng bè như sông
Đà, sông Hồng, sông Tích, sông Bùi, sông Đáy…Các vùng NTTS tập trung tại một số
huyện: Phú Xuyên, Ứng Hoà, Mỹ Đức, Chương Mỹ, Ba Vì, Thanh Trì, Thanh Oai,
Sóc Sơn,...
8
1.3.2. Tình hình phát triển nuôi trồng thuỷ sản
1.3.2.1. Diện tích NTTS
Theo cục thống kê thành phố Hà Nội thì diện tích mặt nước đưa vào NTTS tính
đến năm 2015 (21.131,6 ha) so với năm 2010 (18.700 ha) tăng 13% (diện tích đưa
vào NTTS năm 2011: 20.550 ha; năm 2012: 20.700 ha; năm 2013: 20.838 ha) [31].
Phần lớn ao hồ nhỏ đều gần khu dân cư, hiện đang bị ô nhiễm, diện tích bị thu
hẹp dần do phải chuyển một phần sang các dự án xây dựng giao thông, khu đô thị…
Diện tích NTTS giai đoạn 2010 – 2014 tăng bình quân 3,1 % năm do đã chuyển đổi
ruộng trũng cấy lúa kém hiệu quả sang NTTS [8].
Về nuôi cá lồng trên một số hồ chứa, sông năm 2010 là 162 lồng, năm 2015 là
315 lồng, tập trung chủ yếu ở các huyện như: Mỹ Đức, Chương Mỹ, Phúc Thọ,…
Hiện tại, hồ chứa mặt nước lớn (4.327ha) chiếm 14% tổng diện tích tiềm năng,
song nhiệm vụ chính của các hồ chứa là giữ nước phục vụ công tác thuỷ nông và một
phần kết hợp du lịch, dịch vụ như hồ Quan Sơn, hồ Suối Hai, hồ Đồng Mô, hồ Tây, hồ
Đồng Sương, hồ Văn Sơn,…vì vậy khả năng khai thác về NTTS hạn chế.
1.3.2.2. Năng suất nuôi trồng thuỷ sản
Năng suất nuôi bình quân: năm 2010 đạt 3,25 tấn/ha, năm 2011 đạt 3,07
tấn/ha, năm 2012 là 3,40 tấn/ha, năm 2013 đạt 3,77 tấn/ha, năm 2015 đạt 4,74 tấn/ha;
năng suất năm 2014 so với năm 2010 tăng 31,5%. Năng suất tại các loại hình mặt
đối với cá truyền thống năng suất đạt từ 8 - 10 tấn, Rô phi đạt 15- 20 tấn/ha.
1.3.2.3. Sản lượng
- Về sản lượng: năm 2010 đạt 60.800 tấn, năm 2011 đạt 63.200 tấn, năm 2012
đạt 70.488 tấn, năm 2013 đạt 78.635 tấn và năm 2015 đạt 100.261 tấn.
1.3.2.4. Về thức ăn, thuốc thú y thuỷ sản
* Về thức ăn: khoảng 20% diện tích NTTS của Hà Nội sử dụng thức ăn công
nghiệp (20.000 tấn), 80% diện tích sử dụng các sản phẩm phụ nông nghiệp làm thức
ăn. Nguồn thức ăn công nghiệp chủ yếu do một số công ty lớn sản xuất, cung ứng cho
các cơ sở NTTS thông qua các đại lý [9].
* Về thuốc thú y thuỷ sản
- Hiện tại, trên địa bàn Hà Nội có một số công ty và đại lý cung ứng các loại
thuốc phòng, trị bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản, song một số hộ nuôi thâm canh thuỷ
sản ít nên việc sử dụng thuốc thú y thuỷ sản chưa nhiều.
- Quản lý thuốc thú y thuỷ sản: hiện nay trên địa bàn Hà Nội chưa có các cửa
hàng chuyên kinh doanh thuốc thú y thuỷ sản, chủ yếu là kết hợp với thuốc thú y trong
chăn nuôi nên việc quản lý gặp nhiều khó khăn.
1.3.2.5. Môi trường và dịch bệnh
* Về môi trường:
Theo số liệu nghiên cứu của Sở Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội, lượng
nước thải của Thành Phố đang tăng cả về lưu lượng và nồng độ chất ô nhiễm. Lượng
nước thải đổ thẳng ra sông, hồ năm 2015 là 510.000m3/ngày. Môi trường nước ở các
con sông như sông Nhuệ, sông Đáy và một số hồ ở Hà Nội đã bị ô nhiễm tới mức báo
động nhất là ô nhiễm các chất hữu cơ gây ra nước sông bốc mùi hôi thối.Bên cạnh đó
ảnh hưởng chất thải từ sản xuất Nông Nghiệp như thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ dẫn đến
nguồn nước trong nuôi trồng thuỷ sản bị ô nhiễm. Hàm lượng amoni trong nước các ao
hồ dao động thấp nhất là 0,58mg/l và cao nhất là 51,5mg/l, trong khi tiêu chuẩn cho
phép là 1mg/l; hàm lượng BOD dao động trong khoảng 13mg/l - 68mg/l, trong khi tiêu
chuẩn là 25mg/l.
Theo Tổng Cục thống kê Việt Nam, mỗi ngày, cư dân Hà Nội thải ra khoảng
600.000m3 nước thải sinh hoạt với khoảng 250 tấn ra các sông. Thêm vào đó là một
thuỷ sản đầu mới lớn về mua bán sản phẩm thuỷ sản như chợ cá Yên Sở,…Hiện tại
trên địa bàn thành phố Hà Nội chưa có cơ sở chế biến sản phẩm thuỷ sản nước ngọt.
1.4. Đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và tiềm năng phát triển NTTS
của thành phố Hà Nội
1.4.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Thành phố Hà Nội là Thủ đô của Việt Nam, có vị trí địa lý chính trị quan trọng, có
ưu thế đặc biệt so với các địa phương khác trong cả nước. Hà Nội là trung tâm chính trị -
11
hàng chính - kinh tế - văn hóa của cả nước. Sau khi mở rộng địa giới hành chính vào
tháng 8 năm 2008 Hà Nội có diện tích 3.328,89 km2 với 30 quận, huyện, thị xã [32].
Hà Nội nằm ở trung tâm vùng đồng bằng Bắc Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên
và tỉnh Vĩnh Phúc; phía Nam giáp tỉnh Hà Nam và tỉnh Hòa Bình; phía Đông giáp các
tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên; phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình và tỉnh Phú Thọ.
Hà Nội còn là một cực động lực của tam giác phát triển (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng
Ninh) thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, có vai trò tác động tích cực đối với tăng
trưởng kinh tế, xã hội không chỉ của khu vực Bắc Bộ mà còn trên phạm vi cả nước,...
Đó là những yếu tố gắn bó chặt chẽ Hà Nội với các trung tâm trong cả nước và tạo
điều kiện thuận lợi để Hà Nội phát triển mạnh giao lưu buôn bán với nước ngoài, tiếp
nhận kịp thời các thông tin, thành tựu khoa học và kỹ thuật của thế giới; tham gia vào quá
trình phân công lao động quốc tế, khu vực và cùng hội nhập và quá trình phát triển năng
động của khu vực Đông Á - Thái Bình Dương.
Trong vùng Thủ đô, Hà Nội được khẳng định là thành phố trung tâm của vùng với
mô hình chùm đô thị có hệ thống trung tâm hiện đại, đầu mối giao thông chính, trung tâm
nghiên cứu, dịch vụ tài chính, thương mại, văn hoá, du lịch và dịch vụ hạ tầng xã hội
mang tầm khu vực Đông Nam Á.
Hà Nội có địa hình đa dạng, bao gồm: vùng núi cao, vùng đồi thấp và vùng
đồng bằng; Thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, thể hiện rõ hướng dòng