ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƢỜNG ĐẠI HỌC
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------***-----TRẦN THANH HƢƠNG
ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦA THƢƠNG BỆNH BINH
VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI.
(NGHIÊN CỨU TẠI HUYỆN NGHĨA HƢNG –TỈNH
NAM ĐỊNH)
Chuyên ngành Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Kim
Hoa
HÀ NỘI –2016
MỤC LỤCDANH MỤC
BẢNG.........................................................................................................6
PHẦN
MỞĐẦU................................................................................................................7
1. Lý do chọn đềtài:7
2. Tổng quan nghiên cứu:10
3. Ý nghĩa của nghiên cứu:19
3.1. Ý nghĩa khoa học:193.2. Ý nghĩa thực tiễn:19
4. Mục đích và nhiệm vụnghiên cứu:19
4.1. Mục đích nghiên cứu:19
4.2. Nhiệm vụnghiên cứu:20
5. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu:20
5.1. Đối tƣợng nghiên cứu:20
5.2. Khách thểnghiên cứu:20
5.3. Phạm vi nghiên cứu:20
6. Câu hỏi nghiên cứu:21
1.3. Chính sách ƣu đãi xã hội với thƣơng bệnh binh:Error! Bookmark not
defined.
1.4. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu:Error! Bookmark not defined.
1.4.1 Đặc điểm kinh tế-xã hội của huyện:Error!
Bookmark
not defined.
1.4.2. Đặc điểm kinh tế-xã hội 3 xã nghiên cứu:Error! Bookmark not defined
.CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG KINH TẾCỦATHƢƠNG,BỆNH
BINH...................................................................................Error! Bookmark not
defined.
2.1. Quy mô, cơ cấu đối tƣợng thƣơng bệnh binh:Error! Bookmark not defined.
2.1.1. Quy mô:Error! Bookmark not defined.
2.1.2. Đặc điểm, cơ cấu của thƣơng, bệnh binh trên địa bàn huyện Nghĩa
Hƣng:Error! Bookmark not defined.
2.2. Thực trạng thu nhập, việc làm, mức sống và sức khỏe của các thƣơng,
bệnh binh:Error! Bookmark not defined.
2.2.1. Thực trạng vềthu nhập:Error! Bookmark not defined.
2.2.2. Thực trạng vềviệc làmError! Bookmark not defined.
2.2.3. Thực trạng vềmức sống:Error! Bookmark not defined.
CHƢƠNG 3: CÁC CHƢƠNG TRÌNH CHĂM SÓC THƢƠNG, BỆNH BINH
VÀ VAI TRÕ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘIError! Bookmark not
defined.
3.1. Các chƣơng trình, mô hình chăm sóc, trợgiúp đối với thƣơng bệnh binh:Error!
Bookmark not defined.
3.1.1. Chƣơng trình xây dựng quỹĐền ơn đáp nghĩa:Error! Bookmark not defined.
defined.
3.2.4. Đẩy mạnh phong trào xã, phƣờng làm tốt công tác chăm sóc đời sống
thƣơng bệnh binh:Error! Bookmark not defined.
3.2.5. Tăng cƣờng công tác lãnh đạo của các cấp chính quyền địa phƣơng đối với
việc chăm sóc đời sống thƣơng bệnh binh:Error! Bookmark not defined.
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Error! Bookmark not defined.
1. Kết luận:Error! Bookmark not defined.
2. Kiến nghị:Error! Bookmark not defined.
2.1. Kiến nghịvới phòng Lao động thƣơng binh và xã hội huyện:Error!
Bookmark not defined.
2.2. Kiến nghịvới UBND huyện:Error! Bookmark not defined.
2.3. Kiến nghịđối với bản thân thƣơng bệnh binh:Error! Bookmark not
defined.TÀI
LIỆUTHAMKHAO............................................................................................27
DANH MỤC TỪVIẾT TẮT
STTTừviết tắtDiễn giải1
NCCVCMNgƣời có công với cách mạng
2NCCNgƣời có công
3CMCách mạng
4UBNDỦy ban nhân dân
5LĐTB&XHLao động thƣơng binh và xã hội
6BHBảo hiểm
7TB,BBThƣơng binh, bệnh binh
1.
Lý do chọn đề tài:Lịch sửViệt Nam trải qua hàng nghìn năm chống giặc
ngoại xâm đểdựng nƣớc và giữnƣớc. Trong các cuộc đấu tranh ấy có biết
bao ngƣời con đất Việt đã anh dũng chiến đấu không quản gian khó, hi sinh
một phần xƣơng máu thậm chí là cảcuộc đời mình đểviết nên những trang
sửhào hùng của dân tộc. Các cuộc chiến tranh bảo vệđất nƣớc đã dần lùi xa
nhƣng hậu quảđểlại cho đất nƣớc, cho ngƣời dân Việt Nam là quá lớn.
Chúng không chỉtàn phá nặng nềnền kinh tếvốn đã nghèo nàn lạc hậu của
nƣớc ta, mà những vết tích của chiến tranh vẫn còn theo mãi những ngƣời
con ƣu tú của dân tộc.
Đó là những thƣơngtật, bệnh tật mà họsẽphải sống, phải mang trên mình suốt
đời còn lại, nó ảnh hƣởng đến mọi khía cạnh đời sống của những ngƣời có
công. Tuy nhiên, những tổn hại vềkinh tế-xã hội vẫn có thểvực dậy sau chiến
tranh, nhƣng nỗi đau của con ngƣời thì không gì có thểbù đắp hết. Bởi nhiều
gia đình khó khăn nay lại càng khó khăn hơn khi mất đi ngƣời thân, ngƣời
trụcột trong gia đình, họra đi và mãi mãi không bao giờcó thểtrởlại. Còn nỗi đau
nào hơn khi hàng ngày phải chứng kiến những đứa con thân yêu quằn quại
trong nỗi đau thểxác, đó là những đứa trẻbịtật nguyền dịdạng, dịtạt, những nạn
nhân chất độc màu da cam... Công lao của những ngƣời đã quên mình vì nƣớc
ấy sẽmãi mãi đƣợc lƣu danh, ghi nhớ. Bởi vậy, chăm lo mọi mặt đời sống cho
ngƣời có công với cách mạng và gia đình họvừa là trách nhiệm, nghĩa vụcủa
Đảng và Nhà nƣớc, vừa là trách nhiệm, tình cảm của Nhân dân ta. Các thƣơng
binh, bệnh binh là một trong nhóm đối tƣợng ngƣời có công ởnƣớc ta và chiếm
tỷlệlớn. Trởvềsau chiến tranh, những thƣơng binh, bệnh binh là một trong
nhóm đối tƣợng ngƣời có công ởnƣớc ta và chiếm tỷlệkhá lớn. Sau chiến tranh
trởvề, những thƣơng, bệnh binh mang trong mình nhiều thƣơng tật và di chứng
đãi xã hộinhằm đáp ứng nhu cầu của ngƣời dân trong điều kiện mới, phát triểnkinh
tếthịtrƣờng định hƣớng xã hội chủnghĩa và hội nhập quốc tế.Công tác xã hội hóa
chăm sóc cho ngƣời và gia đình thƣơng, bệnh binhcùng với nguồn kinh phí của
Nhà nƣớc, các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” với 5 chƣơng trình cụthể: Chƣơng
trình xây dựng nhà tình nghĩa; tặng sổtiết kiệm tình nghĩa; chăm sóc bố,
mẹ, vợliệt sỹgià yếu , con liệt sỹmồcôi không nơi nƣơng tựa; xây dựng quỹđền ơn
đápnghĩa, và chƣơng trình ổn định đời sống thƣơng bệnh binh đã tạo đƣợc sựđồng
thuận cao trong xã hội. cảnƣớc đã cùng chia sẻvới những khó khăn chung của
những Thƣơng, bệnh binhđạt nhiều hiệu quả, hàng năm “Quỹđền ơn đáp nghĩa”
đƣợc đóng góp, xây dựng hàng tỷđồng, hàng nghìn sổtiết kiệm đã đƣợc trao tặng
cho các gia đình chính sách còn khó khăn, hàng trăm ngôi nhà tình nghĩa đƣợc xây
mới, sửa chữa... Những việc làm tình nghĩa đó đã phần nào bù đặp những mất mát
hy sinh, góp phần cải thiện chất lƣợng đời sống cho ngƣời và gia đình Thƣơng,
bệnh binhtốt hơnNghĩa Hƣng là một trong 10 huyện, thành phốcủa tỉnh Nam
Định với sốlƣợng dân cƣ tập trung tƣơng đối đông là 205.280ngƣời (năm 2015).
Ngƣời dân nơi đây không chỉkiên cƣờng, anh dũng trong đấu tranh giải phóng dân
tộc bảo vệTổquốc mà còn giàu truyền thống cần cù, chịu khó, biết đoàn kết, yêu
thƣơng, đùm bọc lẫn nhau, có tinh nghĩa thủy chung, biết ơn những ngƣời đã “Vì
nƣớc quên thân, vì dân phục vụ”.Trong những năm gần đây, kinh tếcủa huyện phát
triển ổn định, tăng trƣởng bình quân 15%/ năm, thu nhập đầu ngƣời đạt 23,2 triệu
đồng(năm 2015), đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân đƣợc cải thiện; an ninh
chính trị, trật tựan toàn xã hội đƣợc đảm bảo, tỷlệhộnghèo giảm còn 1,87% theo
tiêu chí mới [33]. Theo sốliệu của phòng LĐTBXH huyện Nghĩa Hƣng, toàn
huyện hiện có 2.516thƣơng bệnh binh thuộc diện hƣởng trợcấp ƣu đãi xã hội hàng
tháng [34]. Đó là những ngƣời đã cống hiến một phần xƣơng máu của mình
đểdành lại cuộc sống hòa bình cho đất nƣớc ngày hôm nay, cuộc sống của
họhiện còn gặp nhiều khó khăn rất cần đƣợc sựtrợgúp của xã hội đểổn định cuộc
sống và tham gia các hoạt động của cộng đồng đểcùng phát triển. đƣợc sựhƣớng
tếxã hội và liên quan đến đời sống hàng ngày của NCC. Những năm qua đã và
đang có nhiều Pháp lệnh, Thông tƣ, Nghịđịnh, kếhoạch, chƣơng trình, đềán đƣợc
Chính phủvà các Sở, ban ngành liên quan vềthống kế, khảo sát vềchất lƣợng cuộc
sống củacác đối tƣợng ngƣời có công cũng nhƣ nhu cầu và đánh giá mức độhài
lòng của họvới thụhƣởng chính sách... Đi kèm theo đó là những nghiên cứu, báo
cáo, đềxuất chính sách đƣợc thực hiện một cách cụthể, chi tiết nhằm nâng cao hơn
nữa hiệu quảcủa cácchính sách ƣu đãi xã hội với thƣơng bệnh binh nói riêng và
đối tƣợng ngƣời có công nói chung.
Ngay từnhững ngày đầu non trẻcủa chính quyền cách mạng, Chủtịch HồChí
Minh đã khởi xƣớng và nêu lên những quan điểm cơ bản vềƣu đãi ngƣời có
côngvới cách mạng, hình thành chính sách ƣu đãi thƣơng binh, bệnh binh, gia
đình liệt sỹ. Theo Ngƣời, thƣơng binh, bệnh binh, gia đình quân nhân, gia đình liệt
sỹlà những ngƣời có công với Tổquốc,với nhân dân. Cho nên, bổn phận của chúng
ta là biết ơn, phải thƣơng yêu và giúp đỡhọ. Với truyền thống gắn bó, đoàn kết,
chung lƣng đấu cật chống thiên tai, địch họa trong hàng ngàn năm lịch sửdựng
nƣớc và giữnƣớc của dân tộc ta, đạo lý nhân ái thủy chung, “uống nƣớc
nhớnguồn” đã trởthành lẽsống, là nét đẹp trong đời sống của cộng đồng dân tộc
Việt Nam. Đạo lý tôn thờ, hậu đãi ngƣời có công với đất nƣớc, với dân tộc của cha
ông đã đƣợc kếthừa và phát huy trong thời đại HồChí Minh và là nền tảng sức
mạnh đểđất nƣớc ta “nởhoa độc lập, kết quảtựdo”, thống nhất non sông vềmột dải
với những chiến thắng hào hùng ghi sâu trong lịch sửdân tộc và nhân loại.Chính
sách đối với ngƣời có công là một trong những chính sách ƣu tiên, xuyên suốt
quá trình cách mạng của Đảng và Nhà nƣớc ta. Văn bản pháp luật đầu tiên vềƣu
đãi Thƣơng, bệnh binhlà Sắc lệnh số20/SL do Chủtịch nƣớc Việt Nam Dân
chủCộng hòa ký ngày 16/2/1947, sau đó đƣợc bổsung bằng Sắc lệnh số242/SL
ngày 12/10/1948, quy định tiêu chuẩn xác nhận thƣơng binh, truy tặng “tửsỹ”,
thực hiện chếđộ“lƣơng hƣu thƣơng tật” đối với thƣơng binh, chếđộ“tiền tuất”
đối với gia đình liệt sỹ.
Đểchỉđạo công tác thƣơng binh tửsĩ trong cảnƣớc, ngày 26 tháng 2 năm 1947,
Phòng thƣơng binh thuộc Cục Chính trị, quân đội quốc gia Việt Nam đƣợc thành
của đất nƣớc khi thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, công tác ƣu đãi
thƣơng, bệnh binhcủa Đảng, Nhà nƣớc ta đặc biệt quan tâm.
Văn kiện các Đại hội Đảng toàn quốc lần thứVI, VII, VIII trong thời kỳđổi mới
của đất nƣớc đã xác định rõ: Coi phát triển kinh tếlà cơ sởvà tiền đềđểthực hiện
các chính sách xã hội
thực hiện tốt chính sách xã hộilà động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, và quan tâm
chăm sóc thƣơng binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹvà NCC... vừa là trách nhiệm của
Nhà nƣớc vừa là trách nhiệm của nhân dân.Vấn đềƣu đãi và gia đình có công với
cách mạng đã trởthành nguyên tắc Hiến định và đƣợc ghi nhận trang trọng
ởChƣơng V, Điều 67 của Hiến pháp năm 1992: “Thƣơng binh, bệnh binh, gia
đình liệt sỹđƣợc hƣởng các chính sách ƣu đãi của Nhà nƣớc. Thƣơng binh đƣợc
tạo điều kiện phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khỏe và
đời sống ổn định. Những ngƣời và gia đình có công với nƣớc đƣợc khen thƣởng,
chăm sóc”.Nguyên tắc này đã đƣợc thểchếtrong Pháp lệnh ƣu đãi ngƣời hoạt
động cách mạng, liệt sỹ, thƣơng binh, bệnh binh, ngƣời hoạt động kháng chiến,
ngƣời có công giúp đỡcách mạng (gọi tắt là Pháp lệnh ƣu đãi ngƣời có công với
cách mạng) so Ủy ban Thƣờng vụQuốc hội ban hành ngày 10/9/1994, và đƣợc
quy định cụthểtại Nghịđịnh số28/CP ngày 29/4/1995 của Chính phủ. Đây là một
bƣớc tiến dài trong việc pháp điền hóa pháp luật ƣu đãi ngƣời có công với cách
mạng, là sựkếthừa, chọn lọc và phát triển những bài học của nửa thếkỷqua với
một hệthống trên 1.400 văn bản quy định vềchính sách ƣu đãi đối với thƣơng,
bệnh binh.Với việc ban hành Pháp lệnh Ƣu đãi NCC, nhiều vấn đềcòn tồn tại
trong chính sách ƣu đãi trƣớc đây đƣợc điều chỉnh phù hợp với tình hình mới,
nhƣ việc áp dụng thống nhất mức trợcấp giữa thƣơng binh hƣởng lƣơng và
thƣơng binh hƣởng sinh hoạt phí khi bịthƣơng, giữa thƣơng binh đang công tác
hay nghỉhƣu với thƣơng binh vềđịa phƣơng có cùng tỷlệthƣơng tật; thực hiện
công bằng trong chính sách giữa NCC thoát ly và không thoát ly, căn bản tách
chếđộƣu đãi tồn tại từmấy chục năm trong chính sách bảo hiểm xã hội chuyển
Pháp lệnh số04/2012/UBTVQH13 sửa đổi bổsung, một sốđiều pháp lệnh ƣu đãi
ngƣời có công với cách mang. Ngày 09/4/2013, Chính phủđãban hành Nghịđịnh
số31/2013/NĐ-CP quy định, chi tiết hƣớng dẫn thi hành một sốđiều của Pháp
lệnh ƣu đãi ngƣời có công với
cách mạng; Ngày 09/4/2013, Chính phủđã ban hành Nghịđịnh số31/2013/NĐ-CP
quy định, chi tiết hƣớng dẫn thi hành một sốđiều của Pháp lệnh ƣu đãi ngƣời
có công với cách mạng; Ngày 15/5/2013, BộLao động –Thƣơng binh và xã hội
ban hành, thông tƣ số05/2013/TT-BLĐTBXH hƣớng dẫn vềthủtục nộp hồsơ, quản
lý hồsơ, thực hiện chếđộƣu đãi ngƣời có công với cách mạng và thân nhân. Các
văn bản trên đã đi vào cuộc sống và đạt đƣợc những kết quảđáng khích lệtrên
cảnƣớc.Đi đôi với đó là những nghiên cứu, những bài viết vềcông tác chăm sóc
những thƣơng, bệnh binhđã đƣợc những nhà nghiên cứu và độgiảhết sức quan
tâm, với một sựbiết ơn sâu sắc cùng với lòng mong muốn những ngƣời thƣơng
binh, bà mẹViệt Nam anh hùng, lão thành cáchmạng... có chất lƣợng cuộcsống
ngày càng cao hơn, những phẩm chất anh hùng, yêu nƣớc đƣợc truyền lại cho
thếhệtrẻhôm nay. Đã cónhiều đềtài,công trìnhnghiên cứu cũng nhƣ sách, báo, tạp
chí viết vềvấn đềnày. Một trong những cuốn sách đầu tiên phải kểđến là Quan
niệm vềcông tác thương binh và tửsỹdo BộThƣơng binh Cựu binh xuất bản năm
1952, cuốn sách đềcập đến vấn đềthƣơng binh và tửsỹtại các nƣớc đếquốc, vấn
đềthƣơng binh và tửsỹtại các nƣớc dân chủnhân dân và xã hội chủnghĩa; từđó đềra
nhiệm vụ, phƣơng châm và nội dung công tác đối với thƣơng binh và tửsỹởViệt
Nam[40].Năm 1993, NXB Chính trịQuốc gia Hà Nội đã xuất bản cuốn Một sốvấn
đềchính sách xã hội ởnước ta hiện naycủa tác giảHoàng Chí Bảo[4]Trong bài viết
Pháp lệnh ưu đãi đối với người có công –Một đòi hỏi bức thiết của cuộc sống, của
tác giảNguyễn Đình Liêu đăng trên tạp chí Lao động xã hội, số91 tháng 9/1994
tácgiảđã đềcập đến những vấn đềchung nhất vềƣu đãi xã hội ởnƣớc ta, chỉta
những mặt tích cực cũng nhƣ những hạn chếcòn tồn tại trong chính sách ƣu đãi
ngƣời có công với cách mạng của Nhà nƣớc ta[24].Năm 1997, nhà xuất bản Chính
trịQuốc gia Hà Nội đã xuất bản cuốn Những điều cần biết vềchính sách với người
BộQuốc phòng. Tác giảhệthống một cách khái lƣợc những quan điểm, chủtrƣơng
cách mạng; Ngày 09/4/2013, Chính phủđã ban hành Nghịđịnh số31/2013/NĐ-CP
quy định, chi tiết hƣớng dẫn thi hành một sốđiều của Pháp lệnh ƣu đãi ngƣời
có công với cách mạng; Ngày 15/5/2013, BộLao động –Thƣơng binh và xã hội
ban hành, thông tƣ số05/2013/TT-BLĐTBXH hƣớng dẫn vềthủtục nộp hồsơ, quản
lý hồsơ, thực hiện chếđộƣu đãi ngƣời có công với cách mạng và thân nhân. Các
văn bản trên đã đi vào cuộc sống và đạt đƣợc những kết quảđáng khích lệtrên
cảnƣớc.Đi đôi với đó là những nghiên cứu, những bài viết vềcông tác chăm sóc
những thƣơng, bệnh binhđã đƣợc những nhà nghiên cứu và độgiảhết sức quan
tâm, với một sựbiết ơn sâu sắc cùng với lòng mong muốn những ngƣời thƣơng
binh, bà mẹViệt Nam anh hùng, lão thành cáchmạng... có chất lƣợng cuộcsống
ngày càng cao hơn, những phẩm chất anh hùng, yêu nƣớc đƣợc truyền lại cho
thếhệtrẻhôm nay. Đã cónhiều đềtài,công trìnhnghiên cứu cũng nhƣ sách, báo, tạp
chí viết vềvấn đềnày. Một trong những cuốn sách đầu tiên phải kểđến là Quan
niệm vềcông tác thương binh và tửsỹdo BộThƣơng binh Cựu binh xuất bản năm
1952, cuốn sách đềcập đến vấn đềthƣơng binh và tửsỹtại các nƣớc đếquốc, vấn
đềthƣơng binh và tửsỹtại các nƣớc dân chủnhân dân và xã hội chủnghĩa; từđó đềra
nhiệm vụ, phƣơng châm và nội dung công tác đối với thƣơng binh và tửsỹởViệt
Nam[40].Năm 1993, NXB Chính trịQuốc gia Hà Nội đã xuất bản cuốn Một sốvấn
đềchính sách xã hội ởnước ta hiện naycủa tác giảHoàng Chí Bảo[4]Trong bài viết
Pháp lệnh ưu đãi đối với người có công –Một đòi hỏi bức thiết của cuộc sống, của
tác giảNguyễn Đình Liêu đăng trên tạp chí Lao động xã hội, số91 tháng 9/1994
tácgiảđã đềcập đến những vấn đềchung nhất vềƣu đãi xã hội ởnƣớc ta, chỉta
những mặt tích cực cũng nhƣ những hạn chếcòn tồn tại trong chính sách ƣu đãi
ngƣời có công với cách mạng của Nhà nƣớc ta[24].Năm 1997, nhà xuất bản Chính
trịQuốc gia Hà Nội đã xuất bản cuốn Những điều cần biết vềchính sách với người
chí Khoa học Quân sựtháng 7 năm 2012, Trung tâm Thông tin Khoa học quân sự,
BộQuốc phòng. Tác giảhệthống một cách khái lƣợc những quan điểm, chủtrƣơng
của Đảng đối với công tác thƣơng binh, liệt sỹtừnăm 1986 đến năm 2012; đánh giá
thực trạng quá trình thực hiện chủtrƣơng của Đảng vềvấn đềnày và đềra giải
pháp nhằm thực hiện tốt hơn công tác thƣơng binh, liệt sỹtrong thời gian
tới[43]Nguyễn Duy Kiên –Phó Cục trƣởng Cục Ngƣời có công, BộLĐTBXH,
Chính sách Người có công –là trách nhiệm của toàn dân, Tạp chí Tuyên giáo
số7/2012. Qua bài viết này, tác giảđã khái quát một sốthành tựu của chính sách ƣu
đãi ngƣời có công trong những năm qua, đi sâu vào đánh giá tìm hiểu nguồn lực
thực hiện chính sách ởnƣớc ta. Khẳng định nguồn lực của Nhà nƣớc thông qua
chếđộtrợcấp ƣu đãi thƣờng xuyên ngày càng giữvai trò chủđạo trong việc ổn định
đời sống của ngƣời có công với cách mạng, bởi đa phần họlà những ngƣời không
hƣởng chếđộlƣơng hay bảo hiểm xã hội[22].Nguyễn Văn Thành, Đổi mới chính
sách kinh tế-xã hội với người có công ởViệt Nam, Luận án Phó tiến sỹKinh tế,
1994. Luận án này đã hệthống và tổng hợp những căn cứkhoa học vềlý luận chính
sách đối với ngƣời có công ởViệt Nam. Thực trạng chính sách đối với ngƣời có
công, phát hiện những tồn tại và nguyên nhân của nó. Quan điểm, nguyên tắc,
phƣơng hƣớng, biện pháp chủyếu đểđổi mới chính sách đối với ngƣời có
công[44].Nguyễn Đình Liêu, Hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công ởViệt
Nam. Lý luận thực tiễn, Luận án Phó tiến sỹLuật học, 1996. Luận án nêu lên
những vấn đềcơ bản nhƣ: Khái nhiệm Pháp luật ƣu đãi ngƣời có công. Lịch
sửhình thành và phát triển của pháp luật này. Thực trạng của pháp luật này ởViệt
Nam trong giai đoạn hiện nay và việc hoàn thiện pháp luật ƣu đãi ngƣời có
công[25].Nguyễn ThịThu Hoài, Chú trương, chính sách của Đảng vàNhà nước Việt
Nam đối với thương binhliệt sỹvà người có công với cách mạng từnăm 1991 đến
năm 2010,Luận văn thạc sĩLịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2013. Luận văn đã đƣa ra cái nhìn tổng thểnhững
chủtrƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc ta đối với đối tƣợng ngƣời có
tìm hiểuthực tếnhànghiên cứu có cơ hội áp dụng nhữnglý thuyết và phƣơng pháp
đã đƣợc học vào thực tiễn cuộc sống, đặc biệt là những kỹnăng thực hành công
tác xã hội nói chung. Từđó, giúp nhà nghiên cứu nắm vững kiến thức, rèn luyện
kỹnăng và có thêm nhiều kinh nghiệm trong những nghiên cứu tiếp theo và trong
quá trình công tác của bản thân.
4. Mục đích và nhiệm vụnghiên cứu:
4.1.Mục đích nghiên cứu:Làm rõ thực trạng đời sống kinh tếcủa thƣơng binh, bệnh
binhvà vai trò của công tác xã hộiởhuyện Nghĩa Hƣngđểđềxuất các biện pháp
nhằm bảo đảm thựchiện tốt hơn chính sách ƣu đãi xã hội, góp phần nâng cao đời
sống vật chất tinh thần cho thƣơng binh, bệnh binh trên địa bàn huyện.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:Xây dựng cơ sởlý luận và thực tiễn nghiên cứuphục
vụcho đềtài nghiên cứuPhân tích thực trạng đời sống kinh tếcủa thƣơng, bệnh
binhPhân tích vai trò của công tác xã hội, đƣa ra các giải pháp trong hoạt động
trợgiúp thƣơng, bệnh binh5. Đối tƣợng, khách thể, phạm vinghiên cứu:
5.1. Đối tƣợng nghiên cứu:
Đời sống kinh tếcủa thƣơng binh, bệnh binh và vai trò của công tác xã hội trên địa
bàn huyện Nghĩa Hƣng.5.2. Khách thể nghiên cứu:Cán bộphòng Lao động –
thƣơng binh và xã hội huyệnThƣơng binh, bệnh binh tại địa bàn nghiên cứu5.3.
Phạm vi nghiên cứu:Phạm vi thời gian tiến hành nghiên cứu: từnăm 20152016Phạm vi không gian: Cảhuyện Nghĩa Hƣng có22 xã và 3 thịtrấn, nhƣng
chúng tôi chỉkhảo sát tại 3 xã có sốlƣợng thƣơng, bệnh binh nhiều nhất đó là
Nghĩa Thái, TT Liễu Đềvà Nghĩa HảiGiới hạn nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu
tập trung tìm hiểu vềđời sống kinh tếvà vai trò của công tác xã hội trong việc thực
thiện chính sách ƣu đãi xã cho thƣơng binh, bệnh binhvà vai trò của công tác xã
hội trong việc thực hiện các chính sách đó.6. Câu hỏi nghiên cứu:Những thƣơng
bệnh binhởhuyện Nghĩa Hƣng có đời sống kinh tếnhƣ thếnào với những chính
sách ƣu đãi của Nhà nƣớc?Thực trạng các chƣơng trình, mô hình chăm
đƣợc.05ngƣời là thƣơng binh, bệnh binh(02 ngƣời ởxóm 9 –Nghĩa Thái, 01
ngƣời ởKhu 3 –Thịtrấn Liễu Đề, 02 ngƣời ởĐội 2 –Nghĩa Hải)vềđời sống hiện
nay, các vấn đềliên quan đến việc thụhƣởng các chính sách ƣu đãi xã hội đối với
thƣơng bệnh binh tác động đến đời sống của họ, các đềxuất và kiến nghị...Các kết
quảphỏng vấn sâu giúp cho ngƣời đọc hiểu rõ hơn, chi tiết hơn vềcác vấn đềliên
quan và là minh chứng cụthể, sinh động cho các sốliệu nghiên cứu định lƣợng.
8.3. Phƣơng pháp quan sát:Với phƣơng pháp này,tác giảđã đến một sốgia đình
thƣơng binh, bệnh binh nhằm quan sát rõ hơn vềcuộc sống thƣờng ngày của họ.
Đồng thời tham gia một sốhoạt động của các chƣơng trình chăm sóc ngƣời có
công nói chung.8.4. Phƣơng pháp phân tích tài liệu:Sửdụng phƣơng pháp này, tác
giảnhằmthu thập, tổng hợp, phân tích tài liệu từcác văn bản pháp luật, tạp chí,
báo cáo khoa học đểxây dựng cơ sởlý luận cho đềtài nghiên cứu. Qua đó, tác
giảxác định đƣợc một sốkhái niệm chính của đềtài nhƣ: Thƣơng binh, bệnh binh,
ƣu đãi xã hội, chính sách, chính sách xã hội, công tác xã hội với thƣơng binh và
bệnh binh. Đồng thời, tìm hiểu những quy định chung vềchếđộƣu đãi đối với
thƣơng bệnh binh.Bên cạnh đó, tác giảcũng sửdụng phƣơng pháp này đểtìm hiểu
sốliệu vềquy mô, cơ cấu và thực trạng ƣu đãi xã hội cho thƣơng bệnh binh trên
địa bàn thông qua các báo cáo Phòng lao động –thƣơng binh và xã hội và Ủy ban
nhân dân huyện
PHẦN NỘI DUNG CHÍNHCHƢƠNG 1: CƠ SỞLÝ LUẬN VÀ THỰC
TIỄNVỀNGHIÊN CỨU.1.1. Các khái niệm công cụ:1.1.1. Khái niệm thƣơng
binh:Cho tới thời điểm hiện nay, chƣa có công trình nghiên cứu nào đƣa ra khái
niệm cụthểvà đầy đủnhất vềthƣơng binh. Khái niệm thƣơng binh chỉđƣợc đƣa ra
trong các văn bản pháp luật vềƣu đãi ngƣời có công. Trải qua nhiều thời kỳlịch sử,
khái niệm này cũng có nhiều thay đổi phù hợp. Do đó, tìm hiểu khái niệm thƣơng
binh cũng dựa trên những quy định của pháp luật theo từng thời kỳlịch sử.Chủtịch
HồChí Minh đã khởi xƣớng và nêu lên những quan điểm ƣu đãi ngƣời có công
với cách mạng, trong đó có thƣơng binh. Theo ý Ngƣời, thƣơng binh là những
nhiệm thƣơng binh trong thời kỳnày đƣợc hiểu rất đơn giản là những ngƣời thuộc
lực lƣợng vũ trang bịthƣơng trong khi làm nhiệm vụ.Khi đất nƣớc đã hòa bình,
bƣớc vào công cuộc xây dựng đất nƣớc, khái niệm thƣơng binh cũng đƣợc quy
định cụthểvà mởrộng hơn vềđối tƣợng. Theo điều 12 Pháp lệnh ƣu đãi ngƣời hoạt
động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thƣơng binh, bệnh binh, ngƣời hoạt
động kháng chiến, ngƣời có công giúp đỡcách mạng đƣợc Ủy ban thƣờng vụquốc
hội thông qua ngày 29/08/1994 có quy định: Thƣơng binh là quân nhân, công an
nhân dân do chiến đấu, phục vụchiến đấu trong kháng chiến, bảo vệTổquốc, làm
nghĩa vụquốc tếhoặc trong đấu tranh chống thực dân Pháp, dũng cảm làm nhiệm
vụđặc biệt khó khăn nguy hiểm vì lợi ích của Nhà nƣớc, của nhân dân mà
bịthƣơng, mất sức lao động từ21% trởlên và đƣợc cơ quan có thẩm quyền cấp
“Giấy chứng nhận thƣơng binh”, tặng “Huy hiệu thƣơng binh”. Quy định nhƣ
vậy phù hợp với hoàn cảnh đất nƣớc hòa bình, mởrộng khái niệmthƣơng binh cho
cảnhững trƣờng hợpbịthƣơng khi “đấu tranh chống tội phạm, dũng cảm làm
nhiệm vụđặc biệt khó khăn, nguy hiểm vì lợi ích của nhà nƣớc và nhân
dân”.Pháp lệnh ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng số26/2005/PL-UBTVQH11
ngày 26/05/2005 ra đời, thay thếPháp lệnh năm 1994 đã có quy định thống nhất,
rõ ràng vềkhái niệm thƣơng binh tại Khoản 1 điều 19[51]: Thƣơng binh là quân
nhân, công an nhân dân bịthƣơng làm suy giảm khảnăng lao động từ21% trởlên,
đƣợc cơ quan nhà
nƣớc có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận thƣơng binh” và “Huy hiệu thƣơng
binh” thuộc một trong các trƣờng hợp sau đây: Chiến đấu, trực tiếp phục vụchiến
đấu; Bịđịch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuatas phục, kiên quyết đấu trạng,
đểlại thƣơng tích thực thể; Làm nghĩa vụQuốc tế; Đấu tranh chống tội phạm; Dũng
cảm thực hiện những công việc cấp bách nguy hiểm phục vụquốc phòng, an ninh,
dũng cảm cứu ngƣời, tài sản của Nhà nƣớc và nhân dân; Làm nhiệm vụquốc
phòng, an ninh ởđịa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn.Khái niệm
thƣơng binh theo quy định trên đã khá hoàn thiện và thống nhất vềnội dung, cho