ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƢỜNG ĐẠI HỌC
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀNHÂN VĂN
NGUYỄN THỊHUYỀN CHINHẢNH HƢỞNG CỦA
BÁO ĐIỆN TỬĐỐI VỚI LỐI SỐNGCỦA GIỚI
TRẺVIỆT NAM HIỆNNAY
Luận văn Thạc sĩchuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60320101
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Bùi Hoài Sơn
Hà Nội –2016
MỤC LỤC
MỞĐẦU6
1. Lý do lựa chọn đềtài6
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đềtài8
2.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đềtài trên thếgiới8
2.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đềtài tại Việt Nam10
3. Mục đích và nhiệm vụnghiên cứu12
3.1. Mục đích nghiên cứu12
3.2. Nhiệm vụnghiên cứu12
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu13
4.1. Đối tượng nghiên cứu13
4.2. Phạm vi nghiên cứu13
5. Phương pháp nghiên cứu14
5.1. Cơ sởlý luận14Luậnvăn đã dựa trên cơ sởlý luận:14
5.2. Phương pháp cụthể14
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đềtài16
6.1. Ý nghĩa lý luận của đềtài16
2.2.2. Địa điểm và phương tiện sửdụng báo điện tửError! Bookmark not defined.
2.2.3. Thời gian sửdụng báo điện tửError! Bookmark not defined.
2.3. Nhận diện và đánh giá tác động của báo điện tửđối với lối sống của giới
trẻhiện nayError! Bookmark not defined.
2.3.1. Nhận diện tác động của báo điện tửđối với lối sống của giới trẻError!
Bookmark not defined.
2.3.2. Đánh giá tác động của báo điện tửđến lối sống của giới trẻError! Bookmark
not defined.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 3: XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ
TÍCH CỰC CỦA BÁO ĐIỆN TỬTRONG VIỆC XÂY DỰNG LỐI SỐNG CỦA
GIỚI TRẺVIỆT NAM HIỆN NAYError! Bookmark not defined.
3.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước vềphát huy vai trò của báo điện tửtrong
việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam nói chung, giới trẻnói
riêngError! Bookmark not defined.
3.2. Xu hướng phát triển và tác độngcủa báo điện tửđến lối sống của giới trẻtrong
tương laiError! Bookmark not defined.
3.3. Giải pháp phát huy vai trò của báo điện tửtrong việc xây dựng lối sống của
giới trẻhiện nayError! Bookmarknot defined.
3.3.1. Giải pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội đểnâng cao nhận
thức của giới trẻkhi đọc báo điện tửError! Bookmark not defined.
3.3.2. Hoàn thiện cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu quảquản lý Nhà nước vềbáo
chínói chung và báo điện tửnói riêngError! Bookmark not defined.
3.3.3. Một sốgiải pháp cụthểkhácError! Bookmark not defined.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬNError! Bookmark not defined.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO24
PHỤLỤCError! Bookmark not defined.
vai trò trên đã làm cho báo điện tửcó sựảnh hưởng vô cùng lớn đối với người dân
nói chung, đặc biệt là giới trẻ. Đây là những người thường xuyên tiếp cận với
internet nói chung và báo điện tửnói riêng do đặc thù vềđiều kiện sống, công việc,
nhận thức và hành vi. Theo báo cáo vềtình hình internet tại khu vực Đông Nam
Á tính đến cuối tháng 7/2013 của hãng nghiên cứu thịtrường comScore, với
16,1 triệu người dùng internet hàng tháng, Việt Nam là quốc gia có dân sốtrực
tuyến lớn nhất tại khu vực ASEAN.Cũng theo thống kê của comScore, Việt Nam
còn là quốc gia có lượng người dùng internet ởđộtuổi trẻnhất khu vực, với 42%
người sửdụng ởđộtuổi 15 –24, độtuổi người dùng internet từ25 đến 34 chiếm
32%. Theo Trung tâm internet Việt Nam (VNNIC), người dùng internet ởnước
ta nhìn chung có trình độhọc vấn tương đối khá, là học sinh, sinh viên, trí thức,
công chức, viên chức. Khi ngồi trước máy tính, người đọc thường có nhu cầu học
tập, tìm kiếm thông tin bổích qua các báo, tạp chí vàtrang thông tin điện tửchính
thống trong nước và các tờbáo điện tửvà các trang mạng xã hội(MXH), các trang
web nước ngoài.Giới trẻluôn là một trong những nhóm công chúng đích của
truyền thông đại chúng. Ngày nay, sựphát triển của khoa học công nghệvà sựra
đời của các sản phẩm
công nghệsốđã giúp cho báo điện tửdễdàng hơn trong việc tiếp cận với giới trẻ.
Với sựphong phú, đa dạng vềmặt thông tin trong mọi lĩnh vực từchính trị, xã hội,
kinh tế, văn hóa, giải trí, thểthao, công nghệ... các báo điện tửđã thu hút hàng triệu
lượt truy cập mỗi ngày. Với sức lan tỏa nhanh của báo điện tử, mọi thông tin từcác
ngõ ngách đời sống, xã hội đều được truyền tải tới bạn đọc từng giây, từng phút.
Chính vì thế, báo điện tửcó những tác động mạnh mẽ, sâu sắc tới sựphát triển trí
tuệ, hình thành nhân sinh quan, thếgiới quan và bồi đắp tình cảm nhân văn cho giới
trẻ.Với thếgiới của báo điện tử, giới trẻđược sống trong nhịp đập nóng hổi
của thời đại, quốc gia, cộng đồng. Thông qua báo điện tử, giới trẻcó cáinhìn tích
cực hơn, quan tâm hơn và những phản ứng kịp thời với những sựkiện chính trịkinh tế-văn hóa –xã hội của thếgiới, của đất nước và của địa phương nơi mình
đang sống. Báo điện tửnói riêng và báo chí nói chung có sức mạnh tập hợp sựquan
phiếm, sao nhãng và coi nhẹgiá trịchân chính của cuộc sống. Không ít bạn trẻbịảnh
hưởng cách sửdụng ngôn ngữthiếu trong sáng, thiếu chính xác, lạm dụng tiếng
nước ngoài trênbáo chí.Sựảnh hưởng, tác động của báo điện tửđối với thếhệtrẻlà
một vấn đềrất lớn nhưng lại chưa được quan tâm đúng mực. Đến nay cũng chưa
có bất cứcông trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc nào vềnhu cầu, thịhiếu cũng
như những ảnh hưởng của báo điện tửđối với việc hình thành lối sống của giới trẻ.
Lãnh đạo của các tòa soạn cũng chưa nhận thức hết vai trò của báo điện tửtrong
việc ảnh hưởng tới lối sống của giới trẻ; các phóng viên, BTV cũng chưa làm tốt
chức năng, nhiệm vụvà đạo đức trong quá trình sáng tạo tác phẩm.Nhận thức rõ
tầm quan trọng vềsựảnh hưởng của báo điện tửđối với lối sống của giới trẻ, trong
khảnăng hữu hạn của bản thân, tác giảđã lựa chọn đềtài “Ảnh hưởng của báo điện
tửđối với lối sống của giới trẻViệt Nam hiện nay”làm đềtài cho luận văn thạc sĩ của
mình.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đềtài2.1. Tình hình nghiên cứu liên
quan đến đềtài trên thếgiới
Sựphát triển của báo điện tửgắn liền với sựbùng nổmạnh mẽcủa mạng internet và
các PTTTkhác. Tất cảđều có sựảnh hưởng nhất định đối với người dân nói chung
và đặc biệt là người trẻhoặc trẻem nói riêng. Trong cuốn sách “Bùng nổtruyền
thông –Sựra đời một ý thức hệmới”của hai tác giảPhilippe Breton và Serge Proulx
đã khẳng định, sựra đời của điện tửhọc và sựphát triển của khoa học công nghệđã
có tác động mạnh mẽđối với hệthống truyền thông (hệthống các media). Nhờđó mà
các mediatrởnên dễdàng hơn trong việc tiếp cận công chúng, đồng thời dễdàng làm
ảnh hưởng tới tư tưởng, nhận thức của công chúng. Bởi vậy, tùy thuộc vào nền văn
hóa khác nhau, thểchếchính trịkhác nhau mà hệthống mediađược sửdụng một cách
linh hoạt, phù hợp với tiêu chí hoạt động của từng tổchức, cá nhân sửdụng.Bài viết
“Study Shows How internet Use Affects Today’s Youth”của tác giảMichael
Harper đăng trên cho thấy: các thanh thiếu niên ngày nay
đang tích cực sửdụng internet thông qua các thiết bịthông tin hiện đại trong cuộc
sống của mình. Bên cạnh việc cung cấp một lượng thông tin phong phú, internet
tửnhững vấn đềcơ bản”–TS. Nguyễn ThịTrường Giang chủbiên (NxbChính trịHành chính, Hà Nội –2011); “Đạo đức nghềnghiệp của nhà báo”–TS. Nguyễn
ThịTrường Giang chủbiên (NxbChính trị-Hành chính, Hà Nội –2011); “Báo mạng
điện tử-Đặc trưng và phương pháp sáng tạo”–TS. Nguyễn Trí Nhiệm, TS.
Nguyễn ThịTrường Giang đồng chủbiên (NxbChính trịQuốc gia –Sựthật, Hà Nội –
2014); “Các thủthuật làm báo điện tử”do Vũ Kim Hải, Đinh Thuận biên
soạn.Trong cuốn sách “Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện
đại”–TS Nguyễn Thành Lợi, NxbThông tin và Truyền thông, tháng 06/2014 đã
giớithiệu những nét khái quát nhất vềcác vấn đềkhá mới mẻđang được nghiên cứu
rộng rãi trên thếgiới nhiều năm –nhiều thập kỷqua như: truyền thông xã hội, các lý
thuyết vềtruyền thông, hội tụtruyền thông, xu hướng tòa soạn báo hội tụvà những
kỹnăng cần thiết trong viết báo đa phương tiện. Cuốn sách đã khẳng định tầm
quan trọng của internet và các thiết bịtruyền thông hiện đại đối với báo chí. Trong
cuốn “Phương tiện truyền thông mới và những thay đổi văn hóa xã hội ởViệt
Nam”–Bùi Hoài Sơn, NxbKhoa học Xã hội năm 2008 đã khẳng định: “Dù biết
rằng, công nghệluôn luôn là công nghệ, nó không hoàn toàn tốt cũng không hoàn
toàn xấu, mà
chỉgiúp con người trởnên thuận tiện hơn trong cuộc sống hàng ngày, tuy nhiên,
các phương tiện truyền thông mới đã khiến nhân loại lo lắng vềmột khảnăng con
người trởthành nạn nhân của máy móc”. Hay trong cuốn “Ảnh hưởng của internet
đối với hành vi của thanh niên Hà Nội”, NxbKhoa học Xã hội (2006), tác giảtrên
có viết: “Trên thực tế, đối với bất kỳmột công nghệmới nào, bản chất của công
nghệđều mang tính trung tính. Việc con người sửdụng nó trong những hoàn cảnh
cụthểvà vì những mục đích cụthểsẽquyết định nó có lợi hay có hại đối với bản thân
người sửdụng hay lợi ích của toàn bộxã hội”. Tuy nhiên, cảhaitài liệu nghiên cứu
này mới chỉđềcập tới sựảnh hưởng của mạng internet mà vẫn chưa nói tới báo điện
tửhay báo chí đối với lối sống của giới trẻ.Trong các đềtài nghiên cứu khóa luận,
luận văn và luận án tiến sĩ tại Khoa Báo chí và Truyền thông –Đại học
KHXH&NVcũng đã đềcập tới sựảnh hưởng của báo chí đối với giới trẻởViệt
trẻViệt Nam hiện nay.Trong khảnăng giới hạn của mình, tác giảluận văn đã cốgắng
đọc và tìm hiểu vềcác tài liệu nghiên cứu trên, coi đó là những kiến thức bổsung
đểlàm sáng tỏnhững ảnh hưởng của báo điện tửđối với lối sống của giới trẻhiện
nay.3. Mục đích và nhiệm vụnghiên cứu3.1. Mục đích nghiên cứuViệc nghiên cứu
của luậnvăn hướng tới làm sáng tỏcác lý thuyết vềbáo điện tử, nêu bật lên mối
quan hệcủa loại hình báo chí này đối với lối sống của giới trẻđặt dưới góc độbáo
chí. Trên cơ sởkhảo sát các tờbáo điện tử: /> />(đểngắn gọn, tác giảsẽgọi tên các báo điện tửtrên lần lượt là: VnExpress,
Dân Trí, Vietnamnet, Tuổi TrẻOnline, Thanh niên Online)trong thời gian 6 tháng,
luận văn sẽchỉra thực trạng ảnh hưởng của báo điện tửđối với lối sống của giới
trẻViệt Nam hiện nay; đánh giá vềvai trò và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng ảnh hưởng của báo điện tửđối với giới trẻ.3.2. Nhiệm vụnghiên
cứuĐểđạt được mục đích nghiên cứu trên, tác giảluận văn đã thực hiện những
nhiệm vụnhư sau:-Làm rõ một sốvấn đềmang tính lý luận liên quan đến đềtài như:
khái niệm vềbáo điện tử, khái niệm vềảnh hưởng, khái niệm vềgiới trẻ, khái niệm
vềlối sống; nội dung về
sựảnh hưởng của báo điện tửđối với lối sống của giới trẻ; đồng thời phân tích
những ảnh hưởng của báo điện tửđối với lối sống của giới trẻhiện nay.-Khảo sát
thực trạng sửdụng và ảnh hưởng của thông tin trên các tờbáo điện tử: VnExpress,
Dân Trí, Vietnamnet, Tuổi TrẻOnline, Thanh niên Online. Từđó đưa ra những
nhận xét, phân tích, đánh giá vềảnh hưởng của báo điện tửđối với lối sống của
giới trẻViệt Nam hiện nay.-Thông qua kết quảkhảo sát thực tếvà những nghiên cứu
chuyên sâu, luận văn sẽđềxuất những giải pháp cho tòa soạn báo điện tửnhằm
nâng cao chất lượng thông tin, nâng cao mức ảnh hưởng của báo điện tửđối với lối
sống của giới trẻhiện nay, góp phần vào việc định hướng lối sống tích cực cho giới
trẻ.4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu4.1. Đối tượng nghiên cứuLuận văn xác
định đối tượng nghiên cứu chính là những tác động tích cực và tiêu cực của báo
điện tửđối với lối sống của giới trẻViệt Nam hiện nay.4.2. Phạm vi nghiên cứuVềmặt không gian: Tác giảtiến hành khảo sát nội dung tin, bài và phản hồi trên các
tờbáo điện tử: VnExpress, Dân Trí, Vietnamnet, Tuổi TrẻOnline, Thanh niên
Online. Lý do tác giảluận văn lựa chọn các báo này là bởi: Đối với ba trang báo
VnExpress, Dân Trí, Vietnamnet đều là những báo điện tửlớn, chính thống, có
cứu5.1. Cơ sởlý luận Luận văn đã dựa trên cơ sởlý luận:-Nền tảng lý luận:
Chủnghĩa Mác –Lê Nin, tư tưởng HồChí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách
của Đảng và Nhà nước vềbáo chí, truyền thông.-Lý luận báo chí, lý luận truyền
thông.5.2. Phương pháp cụthể-Phương pháp nghiên cứu tài liệuthứcấp:Phân tích
thông tin từnguồn tài liệu sẵn có (bao gồm các cuốn sách, tài liệu tham khảo;
sửdụng các nguồn tài liệu do tòa soạn báo cung cấp. Vận dụng đểkhái quát hóa
và lý thuyết hóa các vấn đềđơn lẻkhảo sát được.
-Phương pháp phân tích nội dungvăn bản trong nghiên cứu báo chí –truyền
thông:Luận văn xem xét có hệthống các tài liệu dưới dạng văn bản viết như: các
quy định, Nghịđịnh, Thông tư, kếhoạch, báo cáo... đểlấy thông tin và sốliệu cho
quá trình viết luận văn. Bên cạnh đó, tác giảcũng phân tích nội dung tin, bài trên
các báo điện tửkhảo sát: VnExpress, Dân Trí, Vietnamnet, Tuổi TrẻOnline, Thanh
niên Online. Dựa vào kết quảthu được, tác giảđã tiến hành phân tích, đánh giá,
tổng kết những kết quảnghiên cứu, từđó đưa ra những luận cứ, luận điểm giúp
hoàn thiện vấn đềnghiên cứu.-Phương pháp phỏng vấn sâu:Phỏng vấn trực tiếp
lãnh đạo tòa soạn, phóng viên chuyên phụtrách chuyên mục dành cho giới trẻcủa
một sốbáo điện tử, chuyên gia văn hóa, học sinh THPT vềthực trạng ảnh hưởng của
báo điện tửđối với lối sống của giới trẻViệt Nam hiện nay.-Phương pháp định
lượng: Thông qua việc lập bảng hỏi và khảo sát đối tượng là giới trẻvềviệc đọc
báo điện tửhàng ngày, vềcách thức tiếp cận và xửlý thôngtin của giới trẻtrên báo
điện tử. Từđó, đềtài xác định được phương hướng giải quyết các vấn đềnghiên
cứu.5.3. Khung phân tích luận vănTừnhững phương pháp nghiên cứu như trên, tác
giảluận văn đã tựxây dựng cho mình một khung phân tích luận văn theo mô hình
như sau
Theo khung phân tích này, báo điện tửđóng vai trò là nơi tạo ra thông tin (nguồn)
vềcác lĩnh vực trong cuộc sống.Những thông tin này tiếp cận với giới trẻthông qua
các PTTT đại chúng, giới trẻcũng tiếp cận thông tin trên báo điện tửdưới nhiều
hình thức khác nhauvà cũng xửlý thông tin theo cách riêng của mình. Những thông
CHƢƠNG 1: CƠ SỞLÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀBÁO ĐIỆN TỬỞVIỆT
NAM1.1. Một sốkhái niệm công cụliên quan đến luận văn1.1.1. Khái niệm báo
điện tửBáo điện tửlà một loại hình báo chí ra đời muộn hơn báo in, phát thanh và
truyền hình. Trước đây, khi một sựkiện xảy ra thì “phát thanh đưa tin, truyền hình
minh họa, báo in phân tích và giải thích”. Nhưng giờđây, báo điện tửcó thểđảm
đương nhiệm vụcủa cảphát thanh, truyền hình lẫn báo in một cách dễdàng. Bản
thân nó mang trong mình sức mạnh của PTTT đại chúngtruyền thống, cùng kết
hợp với mạng internet nên có nhiều ưu điểm vượt trội, trởthành kênh truyền
thông vô cùng hiệu quả, đặt các PTTT đại chúngvào cuộc đua quyết liệt.Báo điện
tửcó ưu thếởkhảnăng tương tác qua lại giữa tờbáo và công chúng, giữa công chúng
với công chúng, tạo điều kiện thuận lợi thiết lập các diễn đàn báo chí; báo điện
tửcòn có ưu thếvềkhảnăng đa phương tiện, tính thời sự, khảnăng lưu giữ, tìm
kiếm và truy xuất thông tin nhanh chóng, dễdàng.Sựra đời và phát triển của
internet đã tạo tiền đềcho sựra đời và phát triển của báo điện tử. Được ra đời vào
những năm 90 của thếkỷXX, từtờđiện tửđầu tiên là Chicago Tribune ra đời vào
tháng 5/1992 báo điện tửđã có sựphát triển một cách chóng mặt khi chỉ8 năm sau
đó (đầu năm 2000) trên thếgiới đã thống kê được con sốlên tới 8.474 tờbáo điện tử.
Bắt đầu từnăm 2000 trởđi, các hãng thông tấn lớn trên thếgiới như: AFP,
Reuter...các đài truyền hình như: CNN, NBC... các tờbáo như New York
Times, Washington Post... đều có tờbáo điện tửcủa mình và coi đó là phương tiện
đểphát triển thêm công chúng báo chí.Tại Việt Nam, chỉmột tháng sau khi Việt
Nam nối mạng internet, ngày 31/12/1997, tạp chí Quê hươngcó địa chỉ:
đã trởthành tờbáo điện tửđầu tiên ởnước ta. Sựkiện này
có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đánh dấu sựra đời của báo điện tửtại Việt Nam,
từđó đến nay, sốlượng báo điện tửtại nước ta đã có sựphát triển mạnh mẽ. Trên
thếgiới và ởViệt Nam đang tồn tại rất nhiều cách gọi khác nhau đối với loại hình
báo chí này: Báo điện tử(Electronic Journal), báo trực tuyến(Online Newspaper),
báo mạng(Cyber Newspaper), báo chí internet(Internet Newspaper) và báo mạng
vềtâm sinh lý nên giới trẻđược coi là lực lượng nhạy cảm vànăng động trong xã hội
hiện đại. Tuổi trẻchính là giai đoạn đẹp nhất của cuộc đời với mong muốn được
cống hiến, sáng tạo nhưng cũng là lúc dễbịlôi kéo và cám dỗnhất. “Giới trẻ”là cụm
từkhông hềmới mẻvà xa lạ. Tùy thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu mà có thểđưa ra
những định nghĩa khác nhau vềgiới trẻ.Vềphương diện sinh học:Người trẻlà
người nằm trong lứa độtrẻ, từthiếu niên (dưới 15 tuổi) đến tuổi bầu cử(trên 18
tuổi). Giới trẻlà một cộng đồng gồm những người trẻ.Vềphương diện văn hóa, xã
hội:Giới trẻlà những người mà nhận thức không còn ấu trĩ con trẻnữa nhưng cũng
chưa đủchín muồi của một người trưởng thành, chín muồi vềmọi phương diện.
Người trẻlà người đang trong phát triển, hoàn thiện đểcó một nhận thức viên mãn
và tương thích với đại đa sốtrong cộng đồng.Trong Từđiển Di sản Hoa Kỳvà
Bách khoa toàn thư Britannica cũng đã đưa ra định nghĩa, người trẻlà người nằm
trong độtuổi chuyển giao phát triển sinh lý và tâm lý, thểchất và tinh thần, tiến
trình diễn ra giữa thời kỳthiếuniên và người trưởng thành (người lớn). Quá trình
chuyển giao này liên quan đến thay đổi vềphương diện sinh học (ví dụnhư dậy thì),
xã hộivà tâm lý, trong đó những thay đổi vềsinh lý và tâm lý thường dễnhận thấy
hơn. Từđiển Oxford lại giải thích, thời điểm kết thúc độtuổi “trẻ” và bắt đầu
trởthành “người lớn” được quy ước ởmỗi nước một khác thậm chí khác nhau
ởngay trong một quốc gia, căn cứvào các quyền công dân và quyền con người.
Cách xác định một người còn “trẻ” hay “trưởng thành” thông quaviệc xác định
đủtuổi cho một quyền gì đó cụthểchẳng hạn như có chứng minh thư nhân dân, có
bằng lái xe, có quyền quan hệtình dục, nhập ngũ, bầu cử, hay lập gia đình.Theo
UNESCO (phương diện văn hoá -xã hội), “người trẻ” nên được hiểu là những
người thuộc giai đoạn chuyển giao từsựphụthuộc của trẻem đến sựđộc lập của
người
cho phép thanh niên có thểđảm nhận được mọi công việc trong hoạt động học tập,
lao động và giao tiếp xã hội... Tuy nhiên, với độtuổi trên dưới 20, do sựhưng
phấn cường độcao của hệthần kinh cộng với sức mạnh thểchất đang trên đà
phát triển nên thanh niên độtuổi này còn có biểu hiện hưng phấn nhiều hơn ức chế,
dẫn đến đặc điểm tâm lý sôi nổi, nhiệt tình nhưng có pha chút bồng bột, dễbắt
chước, dễkích động và dễngộnhận...Nhân cách của thanh niên đang trong giai đoạn
hoàn thiện và định hình, rõ nét nhất là hệthống thái độvà định hướng giá trị, từđó
hình thành thếgiới quan, nhân sinh quan, niềm tin và lý tưởng. Tình cảm, trách
nhiệm và nghĩa vụcông dân của thanh niên có bước chuyển biến mới. So với tuổi
thiếu niên, nhận thức chính trị-xã hội của thanh niên, sựđịnh hình và hoàn thiện các
thuộc tính nhân cách diễn ra với tốc độnhanh, cường độmạnh, cùng với sựtác
động của cảm xúc có phân cực rõ ràng. Khảnăng chịu sựtác động của bên ngoài
một cách nhanh nhạy, có thẩm định và tựđiều chỉnh, khảnăng thích ứng xã hội
cao, nếu có hướng dẫn đúng”[14, tr. 209].Với những đặc điểm tâm sinh lý đang
trong giai đoạn hình và phát triển, giới trẻđang đối mặt với nhiều nguy cơ và
thách thức. Bởi vậy, việc chăm lo giáo dục đạo đức, tư tưởng và lối sống cho giới
trẻlà vô cùng cấp thiết, cần được chú trọng quan tâm. Trước lúc đi xa, Chủtịch
HồChí Minh căn dặn trong Di chúc: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức
cách mạng cho thanh niên, đào tạo họtrởthành những người kếthừa xây dựng
chủnghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”, bồi dưỡng thếhệcách mạng cho đời sau
là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.1.1.3. Khái niệm lối
sốngLôisông(đaođưcvachuângiatrixahôi)
lànhữngyếutốcơbảntrongđờisốngxãhôicuamôiconngươivamôinênvănhoa.
Chúnggắnliềnvớicáccơsởkinhtế, chínhtrị, tưtươngvamoimătcuađơisôngvâtchât,
tinhthâncuatoanxahôi. Môixahôitrong
tưngthơikylichsưnhâtđinh, đềucólốisống,
đaođưccungnhưcacthươcđogiatriquyđinhtrâttưvasưphattriênônđinhchocacôngđông,
đôngthơichiphôicacmôiquanhêgiưangươinayvơingươikhac,
hình thái kinh tếxã hội nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong
lao động và hưởng thụ, trong quan hệgiữa người với người, trong sinh hoạt tinh
thần và văn hóa. Lối sống làphức hợp những mẫu hình nhận thức và hành động
biểu hiện như sựlặp lại, phổbiến, ổn định dưới dạng thức hoạt động đặc trưng cho
một dân tộc, một quốc gia, một giai cấp, một tập đoàn xã hội trong một giai đoạn
lịch sửnhất định. Ởđây, những chuẩn mực, giá trị, những truyền thống, tập quán
có vai trò hết sức lớn đến phương thức hoạt động, tu duy cách ứng xửcủa người ta
trong xã hội. Tất cảtạo thành cơ sởcủa khuôn mẫu hành vi của mỗi người, mỗi
nhóm và tập đoàn người khác nhau trong xã hội. Nói cách khác, lối sống là tổng
thểcác nét căn bản đặc trưng cho hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các
nhóm xã hội trong những điều kiện xã hội nhất định vềmặt lịch sử. Nó là những
cách thức, phép tắc tổchức và điều khiển đời sống cá nhân, cộng đồng đã đượcthừa
nhận rộng rãi và trởthành thói quen.Từnhững khái niệm khác nhau như trên có
thểđưa ra một khái niệm chung tổng quát như sau: Lối sống là tổng hợp toàn
bộcác mô hình, cách thức và phong cách sống của con người thểhiện trong mọi
phương thức cũng như lĩnh vực hoạt động, từsản xuất, tiêu dùng, sinh hoạt đến thái
độ, hành vi, cách tư duy, lối ứng xửgiữa con người với con người, giữa chủthểvới
đối tượng, giữa điều kiện với phương tiện và mục đích sống. Trong lối sống tổng
hoà những nét cơ bản, khắc hoạnhững đặc điểm cuộc sống của các cá nhân, các
nhóm người, của giai cấp, dân tộc trong một xã hội nhất định.[28, tr. 23-24].Một
sốnhận biết vềtiêu chí lối sống:Lối sống thểhiện văn minh nhân loại và truyền
thống văn hóa của một dân tộc, cảcác giá trịphổquát và cảcác giá trịphù hợp với
điều kiện lịch sửcủa từng
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO1.LạiThịHải Bình(2006),Báo chí với quá
trình hình thành nhân cách của học sinh –sinh viên, Luận văn thạc sĩ, Khoa Báo chí
và Truyền thông –Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội.
VnExpress.net, Tuoitre.com.vn từtháng 1/2006 đến 1/2011), Luận văn Thạc sĩ,
Học viện Báo chí và Tuyên truyền.18.Đinh Văn Hường (2007), Các thểloại báo chí
thôngtấn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.19.Đinh Văn Hường (2013), Tổchức và
hoạt động của tòa soạn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.20.Đinh Văn Hường, Trần
Quang, Dương Xuân Sơn (2005), Cơ sởlý luận báo chí truyền thông, Nxb Đại học
Quốc gia, Hà Nội.21.Nguyễn Thành Lợi (2014), Tác nghiệp báo chí trong môi
trường truyền thông hiện đại, NxbThông tin và Truyền thông, Hà Nội.22.Chính
phủ(2008), Nghịđịnh số97/2008/NĐ-CP Vềquản lý, cung cấp, sửdụng dịch
vụInternet và thông tin điện tửtrên Internet23.Chính phủ(2009), Nghịđịnh
số28/2009/NĐ-CP Quy định xửphạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp,
sửdụng dịch vụInternet và thông tin điện tửtrên Internet.24.Chính phủ(2010),
Quyết định số1755/QĐ-TTg phê duyệt đềán “Đưa Việt Nam sớm trởthành nước
mạnh vềcông nghệthông tin và truyền thông.25.Trần Quang (2005), Các thểloại
báo chí chính luận, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.26.Bùi Hoài Sơn (2006), Ảnh
hưởng của internet đối với thanh niên Hà Nội, NxbKhoa học Xã hội, Hà Nội.
27.Bùi Hoài Sơn (2008), Phương tiện truyền thông mới và những thay đổi văn hóa
xã hội ởViệt Nam, NxbKhoa học Xã hội, Hà Nội.28.TạNgọc Tấn (chủbiên) (2005),
Cơ sởlý luận báo chí, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.29.Trương ThịTuyên (2008),
Báo chí với rèn luyện đạo đức của sinh viên, Luận văn Thạc sĩ Truyềnthông Đại
chúng, Đại học KHXH&NV –ĐHQGHN.30.Huyền Thanh (2016), Nhà báo khi
tham gia mạng xã hội cũng cần phải cẩn trọng, nghiêm túc, chuẩn mực,bài
đăng trên báo Công an Nhân dân, sốra ngày 29/11/2016.31.Cấn ThịYến, Báo
chí với vấn đềhướng nghiệp cho họcsinh, sinh viên hiện nay (Khảo sát báo Gia
đình Thời đại, Thanh Niên, Sinh viên Việt Nam từ2006 –2009), Khoa Báo chí và
Truyền thông –Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội.32.Philippe Breton
và Serge Proulx (1993), Bùng nổtruyền thông –Sựra đời mộtý thức hệmới,
NxbVăn hóa Thông tin Hà Nội (1996), Vũ Đình Phòng dịch.33.Viện Văn hóa
Nghệthuật Quốc gia Việt Nam (2013), Xây dựng một sốtiêu chí chung và tiêu chí