Giáo trình giảng văn học việt nam trong chương trình THCS phần 1 - Pdf 41

đại học huế
trung tâm đo tạo từ xa

trần đăng suyền (Chủ biên)
lê lu oanh lê trờng phát lã nhâm thìn

giáo trình

giảng văn văn học việt nam
trong chơng trình thcs
(sách dùng cho hệ đo tạo từ xa)
Tái bản lần thứ hai

Huế - 2007

1


Mục lục
Trang

Mục lục ......................................................................................................................................2
Lời nói đầu..................................................................................................................................4
Phần I: Văn học dân gian............................................................................................................5
Đi san mặt đất..........................................................................................................................5
Truyện con rồng cháu tiên.......................................................................................................8
Sơn tinh thuỷ tinh ..................................................................................................................10
Truyền thuyết về Hồ Gơm...................................................................................................12
Th chết còn hơn ...................................................................................................................14
Tục ngừ về thiên nhiên v lao động sản xuất ........................................................................16
Tục ngữ về quan hệ gia đình, thầy trò, bè bạn.......................................................................18

Chạy giặc...............................................................................................................................91
Thu điếu.................................................................................................................................93

2


Bạn đến chơi nh ...................................................................................................................95
Câu cá mhùa thu ..................................................................................................................100
Năm mới chúc nhau.............................................................................................................102
Thơng vợ............................................................................................................................105
Phần III: Văn học hiện đại ......................................................................................................107
Ngắm trăng..........................................................................................................................107
Kkông ngủ đợc ..................................................................................................................110
Đi đờng..............................................................................................................................113
Lấy củi.................................................................................................................................114
Từ ấy....................................................................................................................................117
Dế Mèn phiêu lu ký ...........................................................................................................120
Trong lòng mẹ .....................................................................................................................122
Đồng ho có ma...................................................................................................................125
Gío lạnh đầu mùa ................................................................................................................127
Ông Đồ ................................................................................................................................130
Nhớ rừng..............................................................................................................................133
Cảnh khuya..........................................................................................................................135
Tức cảnh PáC Bó .................................................................................................................137
Lợm ...................................................................................................................................140
Đêm nay Bác không ngủ .....................................................................................................143
Cỏ non .................................................................................................................................146
Ông lão vờn chim ..............................................................................................................148
Từ CU-BA ...........................................................................................................................150
Ngy công đầu tiên của cu tý ..............................................................................................152

Chủ biên
GS. TS. Trần Đăng suyền

4


Phần I: VĂN HọC DÂN GIAN
ĐI SAN MặT ĐấT
(Thần thoại dân tộc Lô Lô)
Lịch sử "mấy ngn, mấy vạn năm" lao động, chinh phục tự nhiên để sáng tạo
nền văn minh đã đợc các thế hệ tổ tiên ngời Lô Lô nối nhau đúc kết thnh cả một
hệ thống bi hát thần thoại, với phần lời l những câu thơ thể năm tiếng. Gọi l hệ
thống bởi nó gồm nhiều chơng khúc. Có khúc hát về thuở còn hoang sơ, trời đất
con ngời thoạt mới sinh ra, nhờ có ông Sáng l một vị thần khổng lồ lm cột chống
m trời với đất mới phân tách lm đôi, tạo khoảng giữa để ngời cùng muôn loi có
chỗ sinh tồn. Có khúc ngợi ca những ngời cổ đại, đon kết chiến đấu, tiêu diệt lũ
thần ác (hình ảnh thần thoại của những trở ngại do thiên nhiên gây ra) để bảo vệ
mầm mống văn minh buổi đầu m con ngời gây dựng đợc. Có khúc kể lại những
chiến công chinh phục hạn hán, lụt lội v những thnh quả vĩ đại phát hiện v ơm
trồng những loi cây khác nhau thnh rừng phủ xanh mặt đất vốn hoang vu, v.v.
Nghe kể thần thoại Lô Lô, ta nh sống trong không khí vừa thiêng liêng, huyền bí,
vừa trn ngập niềm ho hứng lao động v sáng tạo, khác no nh khi ta nghe kể
thần thoại, truyền thuyết của ngời Việt (Kinh) thời vua Hùng dựng nớc. Đoạn
trích giảng đây l một đoản khúc lấy từ bi ca thần thoại Lô Lô đồ sộ đó.
Ngy xa, từ rất xa...
Ngời gi không nhớ nổi
Mấy trăm, mấy nghìn đời (1)
Ngy xa, từ rất xa...
Ngời trẻ không biết tới
Mấy nghìn, mấy vạn năm

diệu thôi thúc họ rủ nhau "phải đi san bầu trời, phải đi san mặt đất". Lời thơ trùng
điệp tạo âm điệu chắc nịch nh vẽ ra cái dũng khí, cái quyết tâm của tổ tiên ngời Lô
Lô lúc đó :
Nhiều sức, chung một lòng
San mặt đất cho phẳng
Nhiều tay, chung một ý
San mặt đất lm ăn
ở thời hiện đại, chúng ta phân biệt rạch ròi thế giới loi vật với thế giới loi
ngời. Trái lại, trong cách nghĩ còn ấu trĩ v hoang đờng của ngời xa thì chỉ có
một thế giới nguyên khối, ton vẹn v thống nhất giữa loi ngời với loi vật. Ngời
v vật cùng sống bên nhau, loi vật cũng có tâm t, tính nết giống loi ngời, ngời
v vật có thể nói chuyện với nhau. Thế cho nên khi quyết định lm công việc lớn lao l
kiến tạo lại trời v đất, chủ nhân bi ca Đi san mặt đất nghĩ ngay đến chuyện "liên
minh" với một số loi vật. Đó l một cách ứng xử hợp lý v thông minh : sống giữa thế
giới tự nhiên, nếu nh muốn sửa chữa, uốn nắn lại thế giới tự nhiên theo hớng có lợi
cho mình thì con ngời phải biết cách dựa vo chính thế giới tự nhiên. Nhng bi ca
cho biết rằng phản ứng của các loi vật không giống nhau. V trong quan niệm của
những ngời cha biết phân biệt ngời với vật thì thái độ của những loi vật khác
nhau phản ánh thái độ của những hạng ngời khác nhau trong lao động. Con trâu l
hình ảnh về những ngời bề ngoi lặng lẽ, âm thầm chăm chỉ lm lụng nhng bề
trong luôn nung nấu quyết tâm lớn lao, dám dũng cảm đơng đầu với gian khổ để
nâng cao cuộc sống, "chẳng quản gì nhọc mệt" bởi nhận thức đợc rằng "san đất l
việc chung". Còn bọn chuột chũi có thái độ ra sao ? Hãy nghe hắn đối đáp :
Gọi hắn, hắn rung râu :

Suốt ngy trong lòng đất
Tôi có thấy trời đâu ?
Câu trả lời bộc lộ thái độ an phận của những kẻ đớn hèn không biết nhìn xa trông
rộng, chẳng dám nghĩ chuyện thay đổi điều kiện sống.
Bọn cóc, ếch thì "tặc lỡi ngồi nhìn", lấy cớ "chân tay tôi đều ngắn" để che giấu sự

thần thoại Lô Lô đã ngân lên những thanh âm trong trẻo, hùng dũng ngợi ca thiên
nhiên, ngợi ca sức lao động vĩ đại của con ngời đã biến thiên nhiên hoang dã, hiểm
trở thnh thiên nhiên đẹp đẽ, đáng yêu, có ích. Tất nhiên tổ tiên ngời Lô Lô ngy
xa còn nhiều điều cha thực hiện đợc (chẳng hạn việc san bầu trời nghĩa l việc
lm chủ hon ton thế giới tự nhiên). Phần việc to lớn v khó khăn ấy lớp con cháu trẻ
tuổi ngy nay có nhiệm vụ lm tiếp. Hơn năm mơi dân tộc anh em trên dải đất Việt
Nam ngy nay đang kề vai sát cánh lao động sáng tạo, lm nên các nh máy thuỷ
điện trên sông Đ trên thác Y-a-ly, thác Trị An, lm nên các nh máy, mở ra các khu
kinh tế mới trù phú, các thnh phố, thị trấn. Những bi ca thần thoại cổ sơ vẫn đang
sống sinh động v sôi nổi trong sự nghiệp của chúng ta hôm nay.

7


TRUYệN CON RồNG CHáU TIÊN
Truyện l sự giải thích một cách thần kỳ về nguồn gốc của đất nớc v dân tộc.
Đó l chuyện thuộc về lịch sử. Nhng để giải thích lịch sử, truyện lại sử dụng những
thần thoại cổ sơ theo hớng lịch sử hoá, biến thần thoại thnh truyền thuyết. Việc
khai sinh giống nòi, công cuộc dựng nớc buổi đầu của các đấng tổ tiên m phảng
phất đâu đây bóng dáng những kỳ tích thai thiên lập địa, dựng trời lập đất của các vị
thần khổng lồ.
Trớc hết, hình ảnh Lạc Long Quân v Âu Cơ mang những nét lạ thờng, thần kỳ
nh những vị thần trong thần thoại. Cả hai đều có nguồn gốc thần linh. L "con trai
thần Long Nữ", Lạc Long Quân l "một vị thần thuộc nòi Rồng". Thần tuy thờng phù
hợp hơn với cuộc sống dới nớc, nhng cũng có lúc sống trên cạn. Thần kết duyên với
Âu Cơ trên núi, nhng rồi từ biển hiện lên thần lại trở về biển, khi Âu Cơ gọi thì thần
nghe thấy ngay v lập tức hiện lên. L con của nữ thần Biển, Lạc Long Quân có tầm
vóc v sức mạnh của biển cả. Âu Cơ xuất hiện cũng không phải bình thờng. Nguồn
gốc của Âu Cơ phải khác thờng để cân xứng với Lạc Long Quân : nng l ngời con
gái thuộc "dòng Tiên ở chốn non cao", nghĩa l thuộc dòng dõi thần Núi. Núi cao đất


Long Quân v Âu Cơ gợi nhớ bóng dáng những vị thần khổng lồ trong thần thoại đã có
công khai thiên lập địa, tạo nên hình thể ban đầu của mặt đất, mở ra sự sống của muôn
loi.
Tuy nhiên, giữa Lạc Long Quân v Âu Cơ với các vị thần khổng lồ trong thần
thoại vẫn có nét khác nhau căn bản. Các vị thần trong thần thoại say sa tạo dựng vũ
trụ cùng muôn loi v sự sống nói chung trên thế gian. Còn Lạc Long Quân v Âu Cơ
lại chuyên tâm đặt nền móng cho lãnh thổ đất nớc (trên đó, rồi đây các con trai của
hai vị sẽ dựng nên nớc Văn Lang), tạo lập mầm mống đầu tiên cho nền văn minh của
dân tộc. Kỳ tích quan trọng nhất của hai vị l sinh ra giống nòi Việt Nam gồm những
tộc ngời ở miền ngợc v những tộc ngời sống ở miền xuôi, tất thảy đều l anh em
một mẹ, một cha, một nh. Việc hai vị thần thuỷ tổ của dân tộc chia con sống ở các
miền trên núi v dới ven biển phản ánh sự lớn mạnh của dân tộc. Rồi còn các chi tiết
về sự lên ngôi của các vua Hùng, về việc ra đời nớc Văn Lang với kinh đô l Phong
Châu vẫn còn đó tới tận ngy nay, về việc tổ chức triều đình, về danh xng, các chức
vụ đợc sử dụng vo thời đó... tất cả đã tạo thnh cái lõi sự thật lịch sử của Truyện
con Rồng cháu Tiên. Có thể thấy rõ rằng truyện ny l kết quả của sự chuyển hoá từ
thần thoại thnh một truyền thuyết nhằm đề cao lịch sử v nguồn gốc giống nòi dân
tộc đất nớc.

9


SƠN TINH, Thuỷ TINH
Vo khoảng tháng bảy, tháng tám hằng năm, đồng bằng Bắc Bộ lại bớc vo mùa
ma, lũ sông thờng lên rất to, kèm theo dông bão dữ dội nhấn chìm lng xóm, ruộng
đồng. Những lúc ấy ngời dân miền châu thổ sông Hồng lại gọi nhau đắp đê, kè chống
lũ lụt. Qua mùa ma, nớc rút, các con sông trở lại hiền ho. Truyện Sơn Tinh, Thuỷ
Tinh l lời tổ tiên ta giải thích nguyên nhân của hiện tợng thiên nhiên lặp đi lặp lại
nh chu kỳ đó. Sức hấp dẫn của truyện l ở ý nghĩa ngợi ca cuộc vật lộn bền bỉ để

vo cồn bãi, hễ có nớc lụt thì ngời ta chạy tránh lên núi cao v thế no rồi họ cũng
thoát đợc nạn bởi lẽ núi vẫn cao trên mực nớc cao nhất.
Cuộc đánh ghen của Thuỷ Tinh v cuộc chống trả của Sơn Tinh cũng vừa hoang
đờng vừa hiện thực. Thuỷ Tinh l thần nên có sức mạnh ghê gớm của lực lợng tự
nhiên : hô ma, gọi gió thì tạo nên bão dông, lũ lụt, "nớc ngập ruộng đồng, nớc

10


trn nh cửa, nớc dâng lên lng đồi, sờn núi ; thnh Phong Châu nh nổi lềnh
bềnh trên một biển nớc". Nhng những hình ảnh tởng tợng kỳ vĩ ấy vẫn dựa trên
những kinh nghiệm quan sát thực tế về những trận lụt khủng khiếp trên dọc hai bờ
sông Hồng, sông Đ vo mùa ma bão hằng năm. Sơn Tinh cũng l thần nên năng lực
của Ngi cũng thật phi thờng, đủ tạo nên cảnh tợng honh tráng : "Thần dùng
phép lạ bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi, dựng thnh luỹ đất, ngăn chặn dòng nớc
lũ ; đặc biệt l hễ nớc sông do Thuỷ Tinh dâng lên cao bao nhiêu thì đồi núi do Sơn
Tinh đắp lại cao lên bấy nhiêu, lúc no cũng cao hơn mực nớc. Ti năng đắp cao để
ngăn nớc nh thế có phần bắt nguồn từ thực tế lao động trị thuỷ của ngời xa.
Nhng phần chủ yếu, thần vẫn l niềm mơ ớc của tổ tiên, ngời Việt muốn có sức
mạnh phi thờng, khả năng to lớn để chiến thắng lũ lụt, bảo vệ thnh quả lao động
sản xuất.
Kết thúc truyện l sự bất lực của Thuỷ Tinh, sự chiến thắng của Sơn Tinh.
Nhng bên thắng cũng cha thắng hẳn, bên thua cũng chẳng thua hẳn. Hằng năm
Thuỷ Tinh vẫn "lm ma gió, bão lụt dâng nớc đánh Sơn Tinh", nhng lần no cũng
"đánh mỏi mệt, chán chê... đnh rút quân về". Kết thúc ấy phản ánh một thực tế, một
quy luật vĩnh cửu của thiên nhiên, thời tiết hằng năm trên đồng bằng Bắc Bộ. Mặt
khác, kết thúc ấy đồng thời tổng kết một bi học kinh nghiệm lớn : năm no cũng vậy,
sức ngời hon ton có thể chiến thắng đợc thiên tai, lũ lụt. Đó cũng còn l lời nhắn
nhủ của những thế hệ cha ông với lớp cháu con đang tiếp tục vơn lên lm chủ thiên
nhiên. Công trình thuỷ điện sông Đ v biết bao công trình thuỷ điện lớn nhỏ khác

ngợi các vị anh hùng có công chống giặc ngoại xâm, chẳng hạn các truyện về Thánh
Gióng, về Hai B Trng, về B Triệu, v.v. Trong trờng hợp ny, để ca ngợi Lê Lợi, dân
gian đã liên kết hình ảnh nh vua với truyện kể về Hồ Gơm để tạo nên một truyền
thuyết đẹp.
Tình tiết chủ yếu để thực hiện việc liên kết một hiện tợng địa lý với một sự kiện
lịch sử, l tình tiết Long Quân cho mợn gơm v đòi gơm. Sáng tạo tình tiết ny,
dân gian xuất phát từ lời dặn của Long Quân khi chia tay b Âu Cơ cùng năm mơi
ngời con theo mẹ lên núi : khi no có việc gì cần thì cứ báo tin, Long Quân sẽ cùng
năm mơi ngời con theo thần xuống biển sẽ hiện lên giúp đỡ. Long Quân đã từng có
lần thực hiện lời hứa đó : cử thần Kim Quy (Rùa Vng) hiện lên giúp An Dơng
Vơng xây thnh, chế tạo nỏ thần đánh thắng Triệu Đ, bảo vệ nớc Âu Lạc. Lần ny
Long Quân cho mợn gơm thần. Có điều đáng chú ý l : giữa sự thực lịch sử với "sự
thực" đợc kể trong truyện có một khoảng cách. Thực tế thì sau khi giặc Minh rút về
nớc, một ngy nọ Lê Thái Tổ ngự thuyền dạo chơi trên hồ Tả Vọng (lúc đó hồ cha
mang tên hồ Hon Kiếm m còn đợc gọi l hồ Tả Vọng), bỗng một con rùa lớn xuất
hiện trên mặt nớc v bơi lại gần thuyền ngự ; nh vua rút kiếm ném nó (đây l
thanh kiếm do Lê Thận dâng ngy trớc), nó ngậm lấy kiếm v lặn mất. Sử cũ chép
rõ nh vua rất tức giận, sai tát cạn hồ để tìm gơm m không thấy. Khi sáng tạo
truyền thuyết về Hồ Gơm, dân gian vừa sử dụng lại sự kiện ny, vừa biến đổi nó đi
ít nhiều. Thanh gơm m Lê Thận dâng thnh ra thanh gơm thần phải tôn xng
thanh gơm nh thế thì mới thiêng hoá đợc sức mạnh chống ngoại xâm của dân tộc
đã đa cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đến thắng lợi. Đó cũng l một cách ca ngợi. Những
chi tiết về thanh gơm nh Thận có đợc lỡi gơm, Lê Lợi có đợc chuôi gơm, lỡi
gơm vớt lên từ nớc v chuôi gơm tìm đợc trên rừng, ghép lại thnh thanh gơm
quý, lại có sẵn hai chữ "Thuận Thiên" khắc sâu vo lỡi (ý nói gơm sẽ thực hiện
những điều thuận theo ý trời định l cuộc kháng chiến sẽ thắng lợi, nớc ta sẽ độc
lập, tự chủ, chính trời sắp xếp Lê Lợi lm lãnh tụ cuộc khởi nghĩa) tất cả bao hm ý
tứ sâu xa khẳng định rằng phải có khối đon kết ton dân, miền xuôi v miền ngợc,
thì mu đồ phục quốc mới thnh công. Việc Lê Lợi dùng gơm ném rùa đợc đổi thnh
việc Rùa thần vâng lệnh Long Quân lên đòi gơm v vua tự nguyện trả gơm để diễn

nghèo khổ. Có tằn tiện thì họ mới đủ sống dù l sống một cách chật vật. Ngời nông
dân Việt Nam thời xa đã sáng tác biết bao truyện cổ tích nhằm phê phán những kẻ
cậy lắm tiền nhiều của m ăn chơi phá phách đến nỗi ngy kia phải bị gậy đi ăn my.
Cũng chính ngời nông dân Việt Nam đúc kết những lời khuyên thnh những câu nói
cửa miệng nh : "Của nh kho, không lo cũng hết", nh chớ "Vung tay quá trán", "Ăn
hôm nay phải biết lo ngy mai", v.v. Câu mở đầu đây cho thấy lần ny sẽ chờng ra
trớc mắt mọi ngời một kiểu ngời khác hẳn, có thể nói l kỳ quặc : kiểu ngời giu
có m lại keo kiệt (nghĩa l h tiện đến quá quắt, đến "Vắt cổ chy ra nớc"), thậm
chí keo kiệt ngay với chính mình, keo kiệt ngay cả khi cần đáp ứng những nhu cầu tối
thiểu thiết thực nhất : ăn (chứ không phải "ăn chơi", "ăn tn phá hại") v mặc (nghĩa
l chỉ cốt lnh lặn, sạch sẽ chứ không phải "ăn diện loè loẹt gì"). Chẳng th túng bấn,
chứ giu có m ăn khổ mặc sở thì giu có lm gì ? Nội dung (thực chất bên trong) thì
giu nhng lại khoác ngoi cái hình thức (cái vỏ, cái lối sống phô ra trớc mọi ngời)
của cái nghèo túng, lm nh mình khổ cực lắm. Cái mâu thuẫn đặc biệt giữa nội dung
với hình thức đó l bản chất của cái đáng cời. Chọn một mẫu ngời mang cái mâu
thuẫn kỳ quặc nh thế tức l truyện chọn đợc một đề ti đáng cời.
Nhng có đề ti đáng cời cha đủ gây nên tiếng cời. Còn phải biết cách tạo ra
một tình thế, tình huống đáng cời nữa nghĩa l biết cách từng bớc, từng bớc, dồn
đẩy, lùa nhân vật đến chỗ bật cời từ lúc no không biết, không ngờ ngay với cả chính
hắn, trở nên tức cời nhất, đáng chê, đáng cời nhất.
Tình thế ấy đợc ngời kể bắt tay tổ chức ngay từ câu thứ hai : anh chng giu
m lại keo kiệt, tởng chừng suốt đời chẳng dám "chơi sang" nh mọi nh giu khác,
nay lại nhận lời (dù chỉ l miễn cỡng, chỉ l bị sức ép tâm lý trong xã giao) lên tỉnh
cùng bạn. Muốn săn đợc con thú, trớc hết phải nhử đợc nó rời khỏi nơi ẩn nấp an
ton của nó chứ ! Bởi thế nhân vật ngời bạn dẫu chỉ l phụ nhng l một nhân vật
phụ cần thiết về mặt nghệ thuật : anh ta đã lôi đợc "con thú" anh chng giu m
keo rời khỏi "hang ổ" để dấn thân vo một chuyến đi chơi bất đắc dĩ v anh ta sẽ còn
"dắt mũi" nhân vật chính tiến nhanh đến điểm nút.
Trở lại nhân vật chính : trớc lúc lên tỉnh, anh ta đã giắt theo ba quan tiền. Biết
mang tiền theo nghĩa l biết rằng hễ đi tỉnh chơi, thì phải tiêu tiền nói nh chúng

bên l tính keo kiệt, nghĩa l cái lòng ham muốn, giữ tiền, tích của lm giu chỉ có ở
những kẻ giu m lại keo kiệt. Lần lợt, qua từng chi tiết đợc sắp xếp một cách có
nghệ thuật : ngời kể đã lm cho bản chất của nhân vật bộc lộ dần, tăng tiến từ thấp
đến cao.
Phần thứ ba kể về chuyện xảy ra trên đờng trở về nh, đúng hơn l chuyện xảy ra
lúc nhân vật qua sông. Anh bạn đó khát hay không thì không rõ, chỉ biết rằng anh ta
không tìm cách để có nớc m uống. Nhng anh chng keo kiệt thì vẫn bị cơn khát giy
vò. V anh ta đã "khôn ngoan cực kỳ" khi tìm đợc giải pháp đồng thời thoả mãn cả
nhu cầu thoát khỏi cơn khát hnh hạ lẫn nhu cầu giữ nguyên vẹn ba quan tiền sau một
ngy lm cuộc ngao du, đó l : cúi xuống uống nớc sông cái nguồn nớc vô tận trời
cho không ấy. Hẳn l khát lắm nên anh ta cúi quá đ. V thế l chuyện không may xảy
ra. Ta hãy lu ý : việc hô hoán v đặt giá của nhân vật phụ không diễn ra một lần,
không lôi tuột "mọi sự đến điểm nút" quá nhanh. Anh ta hô từ năm quan, rồi rút xuống
ba quan. Nếu anh ta hô bằng tiền của anh ta thì chắc hẳn năm quan chứ hơn thế cũng
đợc thôi v nh vậy, truyện sẽ kết thúc nhạt nhẽo, ngời nghe sẽ chng hửng, mất
hứng. Đằng ny anh ta hô bằng tiền của gã keo kiệt kia nên mới có chuyện gã, mặc dù
ngoi ngóp giữa dòng, cố m ngoi lên mặc cả tới hai lần. V số tiền m hắn mặc cả giảm
dần thì mức độ keo kiệt cng đẩy lên cao hơn. Hắn đã không còn cơ hội mặc cả lần thứ
ba. Hắn đã giữ nguyên vẹn ba quan tiền cả lợt đi lẫn lợt về đúng nh nhu cầu,
mong muốn cao nhất của hắn. Ai cũng tởng khi nghe hô cứu bằng chỉ đúng số tiền hắn
mang theo thì hắn sẽ đồng ý (lần đầu hô vợt số tiền đó m hắn ngoi lên xin hạ giá,
dẫu sao, cũng đôi chút có lý). Bởi thế câu mặc cả lần thứ hai bật ra thật bất ngờ đối với
bất cứ ai có lơng tri bình thờng. Chúng ta không thể không bật cời vì lời mặc cả "th
chết còn hơn" nó cho thấy nhân vật đã hon ton mất hết nhân tính : chỉ biết có tiền.
Điểm nút của truyện đã thắt rất chặt v đợc bung ra thật nhanh bằng một lời mặc cả
đến l bất ngờ, một sự lựa chọn đến l bất ngờ giữa tiền v tính mạng sự sống.

15



tợng nên tục ngữ không khỏi l những nhận xét còn dừng lại ở mức cảm tính. Sự vật,
hiện tợng thì phong phú, nhiều mặt, m mỗi câu tục ngữ chỉ đúc kết nhận xét của
con ngời về từng mặt biểu hiện thì không tránh khỏi có sự dờng nh mâu thuẫn
giữa câu ny với câu kia. Chẳng hạn, tục ngữ đã có câu "Bơ bải không bằng phải thì"
nhằm nhấn mạnh, đề cao yêu cầu về thời vụ (thì) trong khâu gieo mạ, cấy lúa ; nhng
đồng thời có câu "Tua rua thì mặc tua rua Mạ gi, ruộng ngấu không thua bạn điền"
tởng chừng xem nhẹ yếu tố thời vụ (sao tua rua đã mọc, tiết tua rua đã đến v mạ
quá thì đã bị gi) m nhấn mạnh rằng nếu tích cực lao động v đảm bảo yêu cầu cao
về kỹ thuật lm đất thì hy vọng năng suất thu hoạch sẽ chẳng đến nỗi thua chúng
kém bạn. Hoặc nh câu "Khoai ruộng lạ, mạ ruộng quen" tuy rất chính xác, nhng
kinh nghiệm chứa đựng trong đó ngy nay đã bị khoa học kỹ thuật vợt qua (chứ
không bác bỏ) : khoai trồng ở ruộng quen vẫn cho năng suất cao nếu biết sử dụng
phân lân đúng thời điểm v đúng số lợng yêu cầu.

16


Nhng mặc cho tất cả những hạn chế không tránh khỏi do điều kiện lịch sử xã
hội gây nên đó, phần lớn những câu tục ngữ nh thế còn truyền đến ngy nay vẫn
khiến ta ngạc nhiên không phải vì tại sao chúng lại có chỗ hạn chế m chính vì tại
sao chúng lại không có nhiều hạn chế hơn. Đi sâu vo kho tng tục ngữ, một lần
nữa, chúng ta thấy rõ, hơn ở bất cứ thể loại no, truyền thống trọng thực tiễn (đôi
khi không khỏi phảng phất tính thực dụng nơi những con ngời ăn bữa hôm lo bữa
mai, lúc no cũng bị thiên tai, địch hoạ rình rập) của dân tộc Việt Nam, đồng thời
thêm thấm thía rằng quả thực khoa học bắt nguồn từ trong cuộc đời lao động vất vả
nhng đầy sáng tạo của quần chúng.
Cha hết, bộ phận tục ngữ ny còn cho ta hiểu thêm nhiều điều về nhân dân lao
động những ngời đã sáng tạo nên chúng. Đằng sau cái nhận xét có vẻ khách quan
về "đêm tháng năm, ngy tháng mời" ấy ta nghe nh có cả lời giục giã nhau tranh
thủ thời gian lm việc, cớp thời gian m lm việc v cả tiếng thở mệt nhọc của

học bạn") bởi bạn bè l những ngời gần gũi ta, cùng sớm hôm đèn sách, vui chơi,
hiểu rõ từng nét cá tính của ta, có thể chỉ by, giúp đỡ ta trong mọi việc lớn nhỏ hằng
ngy. Tất nhiên đó l đạo lý đề ra cho ngời học trò, cho những ngời đi học. Nhng
thử hỏi trên đời ny có ai m không phải đi học, học chữ, học nghề, học cách lm
ngời ? Câu tục ngữ quả thật có sức khái quát đến mức đáng khâm phục.
Nghe truyền lại những câu tục ngữ trên, ta hãy luôn nhớ rằng chúng ra đời từ
trong lòng xã hội phong kiến, ở đó lễ giáo chính thống khăng khăng áp đặt mối quan
hệ một chiều, bất bình đẳng giữa những thnh viên trong gia đình : ngời dới phải
phục tùng ngời trên vô điều kiện, lm vợ l chỉ biết nhất nhất nghe lời chồng, ngời
cha có ton quyền đối với con, kẻ lm con không đợc phép trái ý cha để thực hiện
mong muốn của mình ; ở trờng, ngời học trò chỉ có duy nhất một hình mẫu để noi
theo l ông thầy, không cần biết đến việc học hỏi ở quần chúng đông đảo (m gần gũi,
nhất l những ngời bạn bè ở trờng, ở xóm lng, ở ngoi đời nói chung). Ra đời v cứ
thế truyền đi, tồn tại dai đẳng trong một hon cảnh nh thế, hơn nữa lại len lỏi vo
lời ăn tiếng nói, thấm sâu vo suy nghĩ của ngời dân lao động, trở thnh nguyên tắc,
thnh đạo lý ứng xử của họ. Những câu tục ngữ nh vậy quả thật mang trong lòng nó
truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc, ý thức dân chủ bình đẳng nhân
đạo sâu xa của nhân dân lao động. Đó chẳng phải l một minh chứng hùng hồn cho
sức sống mạnh mẽ của nhân dân, của dân tộc đó sao ?
Chính lịch sử đấu tranh không ngừng của nhân dân chống lại mọi thế lực áp bức,
mọi lực lợng ngoại xâm suốt hng nghìn năm đã hun đúc nên sức sống ấy.
Học tục ngữ, học những sáng tác truyền miệng của dân gian chính l học đạo lý
ứng xử, học đạo lý lm ngời vậy.

19


Vè CON DAO
1. Trong văn học dân gian xa, đã hơn một lần ngời nông dân Việt Nam phổ vo
lời ca, giọng kể nỗi niềm hy vọng, tình cảm yêu thơng đối với tất cả những gì gắn bó

Bởi vậy, khẩu hiệu "vệ quốc bình Tây" cho ta một cơ sở để tin chắc rằng bi vè chỉ ra
đời chừng vo thời kỳ phong tro Cần vơng lan khắp ton quốc.
Hằn rõ dấu vết thời đại, dấu vết lịch sử, điểm đặc sắc ny của bi vè so với những
sáng tác thơ ca dân gian cùng nguồn mạch truyền thống đến lợt nó, sẽ giúp ta một
định hớng cảm thụ hình tợng thơ ca : "con dao" không chỉ kết tinh tình cảm của
ngời thợ đốt than đối với nó qua cuộc kiếm kế sinh nhai (khía cạnh nội dung ý nghĩa
ny thì trong những bi ca cùng nguồn mạch đề ti nh đã dẫn thêm ở trên cũng có)
m còn ánh lên tình cảm công dân, ý thức về vận mệnh quốc gia dân tộc nơi những

20


ngời dân lao động bình thờng, ở vo một giai đoạn lịch sử dồn dập biến động.
2.

Nh anh bất phú bất bần
Có con dao đoản hộ thân tháng ngy

Ngời kể chuyện mở đầu bằng cái giọng "tng tửng" : giu thì rõ l không giu
rồi, vì anh chỉ l kẻ đốt than, sống cuộc đời nh ca dao đã nói "củi than nhem
nhuốc" ; nhng anh cũng chẳng cảm thấy, chẳng chịu cho rằng anh nghèo... Cái giọng
"tng tửng" ấy rất chi l "ta đây", có pha chút gì nh l sự ngang tng, thái độ "bất
cần" sự đời trong đó. Quả thật, chỉ còn có "con dao anh ry" (1) l đủ để tháng ngy
anh "ngao du", sống cuộc sống thung dung chẳng phải lệ thuộc cầu cạnh ai. Con dao
ấy chỉ di vỏn vẹn năm tấc thôi, vậy m chẳng vừa đâu nhé ! Chỉ cần mi sắc nó (m
gì chứ việc ny thì anh thừa sức lm, khỏi nói) cho nó "tung honh một trận", "quay
một lát" thì cứ gọi l rú rừng hoang cũng phá lở, thì cứ gọi l thiên hạ dùng rựa phải
phát tối ngy mới theo kịp đó mới l về số lợng, còn về mặt chất lợng thì thanh
rựa rìu thua đứt thanh đoản dao của anh đây ! Có con dao đoản ny, không những
anh "Cũng no ngy đủ tháng" nh ai (nghĩa l nh tất cả những ngời gọi l sung

lợi hại. Dùng luôn những vật dụng hằng ngy : những công cụ lao động lm vũ khí
giết giặc, đó vốn l truyền thống của một dân tộc kiên cờng, thông minh, có quá
trình dựng nớc v giữ nớc oanh liệt (hẵng nhớ lại hình tợng Thánh Gióng lớn lên
thnh dũng tớng nhờ sức của cơm, c, đánh tan giặc trong chốc lát nhờ vũ khí, áo
giáp, ngựa sắt đợc rèn bởi những ngời thợ thủ công v nhờ những bụi tre gai mọc
lên nh chiến luỹ ở bất cứ ngôi lng no trên đất nớc Việt Nam). Chỉ cần có tấm lòng
yêu nớc l ngời nông dân bình thờng có thể đồng thời l ngời chiến sĩ quả cảm.
Bi vè đã thể hiện thnh công chủ nghĩa anh hùng của ngời nông dân Việt Nam yêu
nớc trớc khi có Đảng đứng ra lãnh đạo cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.

22


Vè RAU
1. Thế giới thực vật bao quanh ta thật lắm điều kỳ lạ, muôn hình muôn vẻ. Chúng
luôn luôn quấn quýt với con ngời. Chỉ riêng trong văn học dân gian nớc ta, hoa lá
cỏ cây đã l ngọn nguồn của biết bao hình tợng nghệ thuật có giá trị. Chúng cung
cấp cho chú bé lng Gióng những bụi tre ng lm vũ khí đánh tan giặc nớc. Chúng
đa cô Tấm hiền ngoan mợn trái thị vng thơm lm nơi tạm náu đợi ngy tái ngộ với
nh vua trẻ. Trăm đốt tre kết chặt tay nhau thnh một thứ cây kỳ diệu giúp anh nông
dân thật th lấy đợc vợ đẹp. Chẽn lúa đòng đòng phất phơ dới ngọn nắng hồng ban
mai khơi lên trong lòng cô gái nông thôn khoẻ mạnh xinh đẹp những tình cảm phơi
phới, yêu đời... Từ thế giới cỏ cây hoa lá đến sáng tác văn học dân gian quả có nhiều
đờng nẻo khác nhau, cách thức khác nhau, thật l phong phú.
2. Nhng hẳn rằng cách thức, con đờng đi từ những loi rau (v cả hoa, quả,
chim, cá nữa) đến những câu hát "nghe vẻ vè ve..." nghêu ngao trên miệng các bạn
nhỏ mới thật l thú vị.
Thú vị, trớc hết, l do bất ngờ.
Không thú vị sao, khi đang điểm tên các loi rau m lại bất ngờ liên tởng đến...
tính cách những hạng ngời, kiểu ngời trong xã hội ? Ny đây l hai loi rau gợi nhớ

ngời m lắm khi những bậc cha anh, chú bác, những "ngời lớn" thờng coi l "trẻ
con", l "bọn đầu óc non nớt". Những bi vè kể, nói về rau (quả, hoa, chim, cá), với lối
liên tởng mạnh mẽ, đã chứng minh hùng hồn rằng "trẻ con" thông minh hơn "ngời
lớn" tởng rất nhiều, rằng chớ nên "coi thờng" lứa tuổi nhi đồng. Đấy có phải l một
điều bất ngờ nữa không ?
3. Nhng xét kỹ một chút, chúng ta lại thấy rằng sở dĩ bất ngờ m gây đợc thú
vị l vì nó đúng. Phải đúng thì mới thú vị đợc, chứ bất ngờ m lại sai thực tế thì
nhạt, thì chỉ khiến ngời nghe, ngời đọc chán ngán thôi. Nói khác đi, sự bất ngờ phải
đúng sự thật, phải "khớp" với thực tế mắt thấy tai nghe. Lứa tuổi thơ không khoái suy
luận trừu tợng m chỉ thích, chỉ chịu thừa nhận... qua những gì mắt thấy tai nghe
thôi, nghĩa l thông qua sự lĩnh hội trực tiếp của giác quan. Những bi "nghe vẻ vè
ve" kể chuyện hoa lá cỏ cây, chim chóc đáp ứng đúng khẩu vị ấy.
Ny nhé : chẳng hạn cái đặc điểm của cây rau co (ngoi Bắc có cây rau rút thờng
nấu món canh riêu cua, ăn với quả c pháo giòn tan rất thú, cũng có chung đặc điểm
với cây rau co trong Nam) m ta đã nhắc tới đó hẳn phải có nét tơng đồng tới mức
nhất định với điệu bộ tức cời của anh chng sợ vợ đang rúm ró lại trớc b vợ đáo để.
Liên tởng cây rau co với chng sợ vợ, nh vậy l đúng quá chứ còn gì ?
Đây nữa : từ những đặc điểm của cái ngạnh (cái gai) l hay bất thình lình đâm
cho chảy máu những kẻ cứ muốn bẻ nó, muốn đụng vo nó (rau ngnh ngạnh l thứ
rau m thân cnh có nhiều gai), từ cái đặc điểm ấy m liên tởng đến thái độ "gai
ngạnh", cứng cỏi, chống đối của những ngời bị trị, thấp cổ bé họng trong lng... thì
sự liên tởng ở đây hẳn l có lý, có cơ sở lắm chứ ! Bi vè nhận xét : "Thứ ở hỗn ho,
l rau ngnh ngạnh". Thế no l "ở hỗn ho ?" hẳn đó l nhại lại lời lẽ hằn học của
bọn thống trị nói về ngời nông dân lao động dới quyền chúng. Bằng cách so sánh
liên tởng, bi vè đã "đính chính" cách nói xách mé của giai cấp phong kiến về nhân
dân lao động. Sự đính chính ấy vừa cần thiết, lại vừa đúng nữa (tất nhiên l đúng
theo quan điểm của nhân dân).
Còn nói chi đến những trờng hợp khác "đập vo" thị giác, xúc giác, vị giác nh :
Đất ruộng bò ngang
L rau muống biển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status