KHÓ KHĂN tâm lý của học SINH TIỂU học dân tộc THIỂU số ở tây NGUYÊN TRONG học tập môn TIẾNG VIỆT - Pdf 41

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ VUI

KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC
DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TÂY NGUYÊN TRONG
HỌC TẬP MÔN TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC CHUYÊN NGÀNH
Mã số: 62 31 04 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. Nguyễn Xuân Thức
TS. Đào Lan Hương

HÀ NỘI - năm 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các dữ liệu và
kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng ai khác công bố trong bất kỳ
công trình nào.
Tác giả luận án

Nguyễn Thị Vui


LỜI CẢM ƠN

: Độ lệch chuẩn

ĐTB

: Điểm trung bình

GV

: Giáo viên

HS

: Học sinh

KKTL

: Khó khăn tâm lý

SL

: Số lượng

STN

: Sau thực nghiệm

TB

: Thứ bậc


tiểu học thì trẻ gặp khó khăn tâm lý trong học tập.
Khó khăn mà học sinh lớp 1 gặp phải ở trường học rất đa dạng và phức tạp.
Những đứa trẻ đến từ các nền văn hóa với những tập quán, kinh nghiệm, vốn sống,
thói quen,... khác nhau sẽ có những khác biệt về biểu hiện và mức độ khó khăn trong
học tập. Ở Việt Nam, học sinh DTTS và học sinh Kinh cùng học một chương trình
nhưng những yếu tố chi phối, ảnh hưởng đến hoạt động học thì lại rất khác nhau. Một
trong những khác biệt rõ rệt nhất mà chúng ta thấy đó là vốn tiếng Việt của trẻ em khi
đến trường và ảnh hưởng của nhiều yếu tố đến việc học môn Tiếng Việt ở trường tiểu
học. Vì thế, những khó khăn mà những học sinh này trải nghiệm khi học môn Tiếng
Việt ở trường học sẽ không giống nhau. Tiếng Việt không phải là tiếng mẹ đẻ của
học sinh DTTS, mà là ngôn ngữ thứ 2 đến sau tiếng mẹ đẻ (tiếng dân tộc). Nguyễn
Quang Sáng (chủ biên) khẳng định: "Với học sinh dân tộc, tiếng Việt là ngôn ngữ thứ
hai, do đó trình độ tiếng Việt của các em còn hạn chế, làm trở ngại đến quá trình tiếp
thu tri thức, cũng như ảnh hưởng đến các hoạt động tự học, kĩ năng học tập chung và
kĩ năng hoạt động của các em" [72, tr. 64].
Khó khăn tâm lý trong học tập môn Tiếng Việt của học sinh lớp 1 DTTS là
phải tiếp nhận một hệ thống âm thanh ngôn ngữ không giống tiếng mẹ đẻ (khó
khăn về nghe, nói), một hệ thống từ vựng, ngữ pháp mới mẻ (khó khăn về hiểu),
một hệ thống chữ viết mới, ít được tiếp xúc (khó khăn về đọc, viết); khó khăn

1


trong việc hình thành thái độ tích cực trong học tập; khó khăn trong việc thực
hiện nội quy học tập của môn học.
1.2. Ở nước ngoài các ngành tâm lý học, sức khỏe tâm thần, giáo dục học và
các tổ chức,... đã có những quan tâm nghiên cứu về khó khăn học tập (Learning
Diffcuilties) hay rối loạn chuyên biệt học tập (Learning Disorders), khuyết tật học
tập (Learning Disabilities). Trong đó, có những nghiên cứu về hiện tượng vụng đọc,
viết, nghe, nói,... và sự thiệt thòi của học sinh khi học ngôn ngữ thứ hai ở trường

3.2. Khách thể nghiên cứu
Học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên
Tổng số khách thể khảo sát là: 547 người, gồm:
3.2.1. Học sinh lớp 1: 510 học sinh
- Khảo sát thử để phát hiện biểu hiện khó khăn tâm lý của học sinh lớp 1
DTTS trong học tập môn Tiếng Việt : 40 học sinh.
- Khảo sát chính thức: 205 học sinh lớp 1 DTTS; 205 học sinh lớp 1 Kinh.
- Thực nghiệm sư phạm: 30 học sinh lớp 1 DTTS nhóm đối chứng; 30 học sinh
lớp 1 DTTS nhóm thực nghiệm.
3.2.2. Giáo viên, cán bộ quản lý trường tiểu học: 37 người
- Giáo viên dạy lớp 1: 25 người
- Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trường tiểu học: 12 người
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1. Xây dựng cơ sở lý luận về khó khăn tâm lý của học sinh lớp 1 DTTS ở
Tây Nguyên trong học tập môn Tiếng Việt.
4.2. Làm rõ thực trạng và những yếu tố ảnh hưởng đến khó khăn tâm lý của
học sinh lớp 1 DTTS ở Tây Nguyên trong học tập môn Tiếng Việt.
4.3. Đề xuất và làm rõ tính khả thi của một số biện pháp giảm thiểu khó khăn
tâm lý của học sinh lớp 1 DTTS ở Tây Nguyên trong học tập môn Tiếng Việt.
5. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5.1. Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu khó khăn tâm lý của học sinh lớp 1 DTTS trong
học tập môn Tiếng Việt tại 3 tỉnh Tây Nguyên: KonTum, GiaLai, ĐăkLăk.
5.2. Giới hạn về khách thể khảo sát
Đề tài tiến hành nghiên cứu trên các khách thể sau:

3


+ Học sinh lớp 1 DTTS là người bản địa ở Tây Nguyên: dân tộc Bahnar,

4


nghiên cứu này, biểu hiện và mức độ khó khăn tâm lý trong học tập môn Tiếng Việt
của học sinh lớp 1 DTTS được xem xét trong mối quan hệ nhiều mặt: mối tương
quan của những khó khăn tâm lý với yếu tố chủ quan (yếu tố sinh học, vốn sống,
vốn ngôn ngữ, đặc điểm tính cách) và yếu tố khách quan (phương pháp dạy học của
giáo viên, quan tâm ứng xử của cha mẹ với trẻ).
7.1.3. Nguyên tắc thống nhất giữa tâm lý và ngôn ngữ
Ngôn ngữ là sản phẩm của tư duy, đồng thời cũng là công cụ để chứa đựng và
chuyển tải kết quả của tư duy. Giữa ngôn ngữ và tâm lý có mối quan hệ thống nhất
và biện chứng. Khó khăn tâm lý trong học tập môn Tiếng Việt của học sinh lớp 1
DTTS được xem xét như đặc điểm tâm lý của người học môn Tiếng Việt.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Bao gồm các phương pháp: nghiên cứu văn bản và tài liệu
7.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
- Phương pháp phân tích một số trường hợp điển hình
- Phương pháp thực nghiệm tác động
7.2.3. Nhóm phương pháp xử lý thông tin
Dùng phương pháp thống kê toán học để định lượng kết quả nghiên cứu và
kiểm định độ tin cậy của các số liệu điều tra.
8. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
8.1. Về mặt lý luận
- Luận án đã khái quát hóa được các xu hướng nghiên cứu về khó khăn tâm lý,
khó khăn tâm lý trong học tập, làm sáng tỏ các vấn đề: khó khăn tâm lý trong học


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA HỌC SINH LỚP MỘT
DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG HỌC TẬP MÔN TIẾNG VIỆT
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KHÓ KHĂN TÂM LÝ
CỦA HỌC SINH
Khó khăn tâm lý là vấn đề đã được các nhà tâm lý học trong và ngoài nước
quan tâm nghiên cứu. Mỗi tác giả tùy theo cách tiếp cận của mình mà xem xét khó
khăn tâm lý khác nhau. Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi trình bày tổng quan
những công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến luận án theo các hướng
nghiên cứu cơ bản sau:
* Nghiên cứu khó khăn tâm lý trong giao tiếp và trong hoạt động của cá
nhân.
* Nghiên cứu khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập.
1.1.1. Nghiên cứu về khó khăn tâm lý ở nước ngoài
1.1.1.1. Nghiên cứu khó khăn tâm lý trong giao tiếp và trong hoạt động
của cá nhân
Tác giả H.Hipsơ và M.Phorvec khi lý giải chức năng, phối hợp của giao tiếp đã
nêu ra 6 nhân tố gây khó khăn cho giao tiếp: Người phát tin không hiểu đúng về đối
tượng giao tiếp; Người phát tin che dấu lý do thông tin; Do sự khác nhau của hoàn
cảnh, lập trường, tư tưởng, văn hóa; Khi giao tiếp gián tiếp, người phát tin không biết
được thông tin mình phát ra được người nhận tiếp thu như thế nào, tác động ra sao;
Do khoảng cách quá lớn; Do cách kiến giải khác nhau về khái niệm sử dụng trao đổi
thông tin, tạo nên những “hàng rào khái niệm” ngăn cản giao tiếp [39].
I.M.Anđrecva khi phân tích chức năng thông tin về giao tiếp đã chỉ ra những
nguyên nhân làm nảy sinh các khó khăn tâm lý trong quá trình giao tiếp: sự khác
biệt về tôn giáo, ngôn ngữ, nghề nghiệp, thiếu đồng nhất trong nhận thức tình huống
giao tiếp giữa các thành viên tham gia giao tiếp, hoặc do đặc điểm tâm lý cá nhân
[1, tr. 102 - 103].


V.A.Cruchetxki trong quá trình học tập của thanh thiếu niên đôi khi có mâu thuẫn:

8


sự mong muốn trau rồi tri thức mâu thuẫn với thái độ bàng quan và thậm chí thái độ
xấu đối với học tập ở trường, thái độ "phớt đời" đối với điểm số. Điều đó có thể là
do phản ứng "độc đáo" với những thất bại nào đó trong học tập và xung đột với giáo
viên. Những mâu thuẫn này gây ra một số khó khăn tâm lý đáng kể cho thanh thiếu
niên học sinh.
Tác giả khẳng định thanh thiếu niên thường xúc động mạnh với những thất bại
trong việc học tập của mình, nhưng lòng tự trọng đôi khi khiến cho các em có thái độ
thờ ơ và lãnh đạm đối với những thành tích học tập. Nguyên nhân làm giảm sút hứng
thú học tập ở các em có thể là do xuất hiện những thú vui khác mạnh mẽ hơn (đọc
sách, chơi tem, chơi cờ,...) [16, tr. 124 - 125].
P.Zettergren - Thụy Điển, nghiên cứu về học sinh 10 - 11 tuổi (2003) cho
rằng thành tích học tập và mức độ thông minh của những em bị bạn bè hắt hủi là
kém hơn so với trẻ khác. Điểm số của những em bị bạn bè ghét bỏ có thái độ tiêu
cực với trường học và các nhiệm vụ ở trường học. Tỷ lệ bỏ học giữa chừng ở học
sinh nam bị ghét bỏ cao hơn nhiều học sinh nam khác. Những trẻ bị bạn bè hắt hủi
là những trẻ có thể gây rắc rối ở trường và khi lớn lên, vì vậy, cần phải quan tâm
đặc biệt tới những trẻ này [100, tr. 81].
- Nghiên cứu khó khăn tâm lý trong học tập của học sinh tiểu học, lứa tuổi
nhi đồng
Theo A.V. Petropxki hoạt động học tập của trẻ em khi đi học lớp 1 đã chia ra
thành 3 loại:
+ Loại 1: Những khó khăn có liên quan đến đặc điểm của chế độ học tập mới.
+ Loại 2: Khó khăn trong việc thiết lập quan hệ giao tiếp mới với thầy cô và
bạn bè.
+ Loại 3: Khó khăn trong việc thích nghi với hoạt động mới, lúc đầu trẻ được

dùng để minh định những rắc rối về học tập thay đổi theo người đang điều hành
việc khảo sát. Cả trẻ em và người lớn đều từng có lúc gặp những khó khăn học tập.
Chính xác thì việc ai được chẩn đoán và ai không còn mang tính tùy ý. Và tác giả
kết luận, loại trừ sự chậm phát triển trí tuệ, những rối loạn học tập thường thấy hơn

10


cả bao gồm, chứng đọc khó; rối loạn thiếu tập trung; và rối loạn toán học đi kèm
hay không đi kèm hội chứng nhược năng hiểu về cử chỉ, điệu bộ [27, tr. 16].
Kết quả điều tra của Viện nghiên cứu sức khỏe quốc gia Hoa Kì cho thấy,
trong số 15% học sinh nhận giáo dục chuyên biệt thì có đến 80% - 85% gặp khó
khăn cơ bản về ngôn ngữ. Kết quả nghiên cứu của Shaywitz, Sally E; Bennett
A.Shaywitz (2001) và Multidisciplinary Research Centers - Hoa Kì (1994) cho
thấy: sự phổ biến của chứng khó đọc (dylexia) chiếm từ 5% - 9% số trẻ độ tuổi đi
học, cá biệt có nơi lên đến 17%.
Theo cách phân loại của tài liệu thống kê và dự báo (DSM – IV) của Hiệp hội
Tâm lý Hoa Kì, có 3 dạng chính của khó khăn trong học tập: khó khăn trong tập đọc
(dylexia); khó khăn trong tập viết (dysgraphia), bao gồm các vấn đề liên quan đến đánh
vần và cú pháp và khó khăn trong học toán [Dẫn theo 4].
Các tác giả Guimard Philippe, Florin Agnes đã đưa ra một biện pháp tâm lý sư
phạm nhằm phát triển ngôn ngữ ở trẻ mẫu giáo. Theo tác giả, những khó khăn học
đường xuất hiện đặc biệt rõ ở các môn học cơ bản như đọc, viết, làm tính và phát
triển sự làm chủ ngôn ngữ nói sẽ làm thuận lợi cho việc tự chủ về ngôn ngữ viết
[28, tr. 8].
Những nghiên cứu về khó khăn tâm lý, khó khăn tâm lý trong học tập của các tác
giả nước ngoài cho thấy, các nghiên cứu đã chỉ ra được những biểu hiện khó khăn tâm
lý, nguyên nhân khó khăn tâm lý và những biện pháp khắc phục. Có những nghiên cứu
về biểu hiện và nguyên nhân của khó khăn tâm lý trong việc học ngôn ngữ, học đọc,
học viết. Nhưng những nghiên cứu này cũng cho thấy nghiên cứu về khó khăn tâm lý ở

trọng và tần số cao. Nguyên nhân gây nên khó khăn tâm lý của sinh viên bao gồm
cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan. Trong đó, tác động nhiều
nhất là từ phía chủ quan, do tính cách của bản thân và do kinh nghiệm còn hạn chế.
Tác giả cũng đề xuất ý kiến nhằm hỗ trợ sinh viên giải quyết những khó khăn
tâm lý ở cả phía sinh viên, phía giảng viên. Như vậy, trong công trình này, tác giả
đã phát hiện ra những biểu hiện một số khó khăn tâm lý nói chung của sinh viên,
nguyên nhân gây ra và những biện pháp hỗ trợ [81, tr. 308].
Cùng hướng nghiên cứu này, tác giả Lê Mỹ Dung nghiên cứu vai trò của
nhà tâm lý học đường và việc khắc phục khó khăn tâm lý trong học tập của học
sinh tuổi tiểu học đã khẳng định: Các nhà tâm lý học đường có vai trò của trong
việc khắc phục khó khăn tâm lý và nâng cao thành tích học tập của học sinh. Các
nhà tâm lý học đường có thể giúp đỡ nhiều học sinh gặp khó khăn trong học tập
như: đánh giá hoạt động phát triển kĩ năng học tập; đánh giá nhu cầu của nhà
trường; đánh giá mức độ khó khăn tâm lý và các năng lực của học sinh; tư vấn
cho lãnh đạo và quản lý giáo dục; chỉ đạo và tổ chức các buổi tập huấn cho giáo
viên, phụ huynh học sinh, các nhà quản lý; những hoạt động hợp tác với Ban phụ

14


huynh học sinh; thiết kế và thực hiện các đề tài nghiên cứu; tư vấn cho giáo viên
[19, tr. 214 - 217].
Tác giả Trần Thị Tú Anh trong công trình tìm hiểu về cách ứng phó với khó
khăn của sinh viên thiệt thòi - Đại học Huế cho rằng sinh viên thiệt thòi ứng phó với
khó khăn mà họ gặp phải theo nhiều cách khác nhau. Tác giả kết luận có 3 nhóm
ứng phó chủ yếu: đối diện với những khó khăn và hành động; lẩn tránh khó khăn và
tự trách mình; tìm kiếm sự hỗ trợ xã hội. Mỗi nhóm ứng phó bao gồm những cách
khác nhau và mỗi cách ứng phó lại bao gồm phương án cụ thể khác nhau.
Tác giả cũng cho rằng sinh viên DTTS gặp nhiều khó khăn hơn sinh viên dân tộc
Kinh và họ thường sử dụng những cách ứng phó tiêu cực và tìm đến sự hỗ trợ ít hơn [5].

nghiên cứu khó khăn tâm lý trong học tập của sinh viên trường Đại học Luật
Hà Nội đã kết luận: Tất cả sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội trong mẫu
nghiên cứu đều gặp phải khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập; Sinh viên
gặp nhiều khó khăn nhất ở các khâu như nghiên cứu khoa học, chuẩn bị xêmina
và ít gặp khó khăn ở các khâu: kiểm tra đánh giá; học tập trên lớp. khó khăn
tâm lý ở cả 3 mặt: nhận thức, xúc cảm và hành vi, trong đó khó khăn nhất là
mặt hành vi [57, tr. 33].
Tác giả Nguyễn Thị Út Sáu tìm hiểu nguyên nhân gây nên khó khăn tâm lý
trong học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên của trường Đại học Sư phạm Đại học Thái Nguyên cho rằng có hai nguyên nhân gây nên khó khăn tâm lý
trong học tập của sinh viên: nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan
Trong đó nguyên nhân chính gây nên khó khăn tâm lý là nguyên nhân chủ quan
[73, tr. 8].
Năm 2008, tác giả Đoàn Thị Tỵ với công trình nghiên cứu luận án tiến sĩ về
"Khó khăn tâm lý trong việc giải quyết tình huống sư phạm của sinh viên sư phạm"
đã chỉ ra những khó khăn tâm lý: vốn kinh nghiệm và vốn hiểu biết về hoạt động sư
phạm của sinh viên còn hạn chế; hiểu biết tâm lý học còn ít; tư duy và óc tưởng
tượng sư phạm hạn chế; thiếu hiểu biết về quy trình giải quyết giải quyết tình huống
sư phạm; hiểu biết về các môn khoa học chuyên ngành chưa cao; động cơ chọn
nghề chưa đúng đắn; nhu cầu giải quyết tình huống sư phạm còn thấp; chưa thực sự
có hứng thú giải quyết tình huống sư phạm; e ngại khi phải xuất hiện trước tập thể;
hồi hộp, lo lắng trước sự xuất hiện của tình huống sư phạm cần giải quyết; mặc cảm

16


khi phải đóng vai là người giáo viên; hành vi ứng xử kém; hành vi lúng túng thiếu
tự tin khi giải quyết tình huống sư phạm,... [92].
Những công trình trên cho thấy các tác giả nghiên cứu những khó khăn tâm
lý trong học tập trên khách thể có độ tuổi lớn với hoạt động chủ đạo và đặc trưng
tâm lý khác biệt so với học sinh tiểu học, đặc biệt khác biệt so với học lớp 1 là

lời câu hỏi về nội dung và nghệ thuật văn bản.
Kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Việt còn hạn chế: Những hạn chế về tiếng Việt
cũng ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp của học sinh DTTS với thầy cô, bạn bè
trong lớp cũng như ngoài lớp học. Một vấn đề có thể các em có thể hiểu nhưng các
em không biết phải diễn đạt bằng tiếng Việt như thế nào nên các em thường ngại,
không mạnh dạn trao đổi với các thầy cô giáo. Nhiều khi các em muốn thể hiện tình
cảm nhưng khó nói ra bằng lời. Đa số các em chưa biết sử dụng các nghi thức lời
nói phù hợp trong giao tiếp [72, tr. 64 - 65].
Đây cũng là một trong số ít các tác giả nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong
việc học tiếng Việt của học sinh DTTS. Tuy nhiên, ở công trình này, nhóm tác giả
mới chỉ nêu ra một số khó khăn học sinh trung học cơ sở mắc phải khi sử dụng
tiếng Việt, những ảnh hưởng của khó khăn cho hoạt động của học sinh, chưa nêu
được khái niệm về khó khăn tâm lý, chưa chỉ ra được bản chất của khó khăn tâm
lý trong học tiếng Việt.
- Nghiên cứu khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh tiểu học, lứa
tuổi nhi đồng
Nghiên cứu khó khăn tâm lý của học sinh tiểu học liên quan đến vấn đề thay
đổi hoạt động chủ đạo, thích ứng tâm lý:
Tác giả Nguyễn Thị Nhất, trong tác phẩm "6 tuổi vào lớp1", đã nêu lên khó khăn
tâm lý trong hoạt động học tập mà trẻ lớp 1 phải vượt qua. Theo tác giả "Giữa phương
thức học tập ở mẫu giáo và lớp 1 có sự biến động đột ngột đối với trẻ em, một bước ngoặt
quan trọng đòi hỏi một sự thích nghi về nhiều mặt không dễ gì vượt qua. Đúng là một "cửa
ải" phân chia hai cuộc sống khác nhau" [61, tr. 24].
Đồng tác giả Nguyễn Thị Nhất và Nguyễn Khắc Viện cho biết, được đi học,
em bé 6 tuổi háo hức biết rõ là bước vào cuộc sống mới, tự hào về bộ quần áo mới,
cái cặp hay cái túi sách đầy vở, nhưng cũng đầy lo âu ngày ngày phải bỏ cái tổ ấm
gia đình, cuộc sống hồn nhiên tự do của tuổi thơ vào một môi trường mới lạ với

18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status