Vị thế của người có uy tín trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở tây nguyên (nghiên cứu trường hợp dân tộc ê đê và gia rai) - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ HOÀNG VIỆT LÂM

VỊ THẾ CỦA NGƯỜI CÓ UY TÍN
TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TÂY NGUYÊN
(Nghiên cứu trường hợp dân tộc Ê đê và Gia rai)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC

HÀ NỘI, NĂM 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ HOÀNG VIỆT LÂM

VỊ THẾ CỦA NGƯỜI CÓ UY TÍN
TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TÂY NGUYÊN
(Nghiên cứu trường hợp dân tộc Ê đê và Gia rai)

Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 9 31 03 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. BÙI THẾ CƯỜNG

19

1.3. Những công trình nghiên cứu về Người có uy tín trong cộng đồng
dân tộc thiểu số Tây Nguyên

27

Chương 2: LUẬN CỨ LÝ THUYẾT VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI
NGƯỜI CÓ UY TÍN VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ
2.1. Các khái niệm công cụ có liên quan đến vị thế của người có uy tín

37

trong cộng đồng dân tộc thiểu số
2.2. Lý thuyết áp dụng
2.3. Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích

37
46
51

2.4. Chính sách đối với người có uy tín vùng dân tộc thiểu số trong lịch sử
Việt Nam

53

Chương 3: HIỆN TRẠNG VỊ THẾ CỦA NGƯỜI CÓ UY TÍN TRONG
CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TÂY NGUYÊN: TRƯỜNG HỢP
DÂN TỘC THIỂU SỐ Ê ĐÊ VÀ GIA RAI
3.1. Tổng quan về Tây Nguyên, người Ê đê và người Gia rai ở Tây

Ở TÂY NGUYÊN
4.1. Xu hướng biến đổi vị thế của người có uy tín trong các tộc người
thiểu số ở Tây Nguyên
4.2. Định hướng chính sách đối với người có uy tín trong cộng đồng

122
122

DTTT ở Tây Nguyên
4.3. Giải pháp về vị thế và vai trò của người có uy tín trong dân tộc thiểu

124

số ở Tây Nguyên

125

KẾT LUẬN
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

147

TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

AN - CT


(Mặt trận Thống nhất giải phóng các sắc tộc
bị áp bức)

GCĐD

Ghi chép điền dã

HĐGL

Hội đồng già làng

HĐPTL

Hội đồng phát triển làng

KTTT

Kinh tế thị trường

KT - XH

Kinh tế - xã hội

MTTQ

Mặt trận Tổ quốc

PVS

Phỏng vấn sâu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong các xã hội, đặc biệt là xã hội tiền công nghiệp, người có uy tín có vị thế,
vai trò rất quan trọng đối với sự vận hành và phát triển của cộng đồng. Điều đó càng
thấy rõ ở các dân tộc thiểu số tại chỗ của Tây Nguyên - nơi được coi là một khu vực
lịch sử - dân tộc học "phi Hoa, phi Ấn", tức không bị ảnh hưởng của hai nền văn minh
lớn là Trung Quốc và Ấn Độ, ít chịu sự kiểm soát của các vương triều phong kiến
trong khu vực; và đến trước năm 1975, nhiều nơi còn lưu giữ đậm nét cấu trúc xã hội
tiền công nghiệp. Trong bối cảnh đó, vị thế của người có uy tín càng quan trọng, bởi
họ giữ vai trò tổ chức và vận hành toàn bộ xã hội của các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên.
Về mặt xã hội - nhân văn, Tây Nguyên chính là mảnh đất “khai nguyên” của
cộng đồng các dân tộc tại chỗ - khối người đã tạo ra các cấu trúc xã hội vừa đa dạng,
vừa tương đồng trong chiều dài lịch sử của vùng đất này. Xuất phát từ truyền thống
gắn chặt với buôn làng và luật tục, với những đặc điểm văn hóa, hoạt động tự quản
cổ truyền, các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên đã và đang tồn tại một bộ phận người
có uy tín, có ảnh hưởng sâu sắc và luôn được xem là linh hồn trong đời sống tinh
thần của cộng đồng. Họ là những người thực sự được đồng bào tín nhiệm, có vị thế
xã hội hoặc kiến thức nhất định về một hay nhiều lĩnh vực, có khả năng tác động,
chi phối hoặc tập hợp được đồng bào dân tộc thiểu số bằng lời nói, hành động hoặc
bằng những quy ước của phong tục, tập quán dân tộc, đặc biệt là giáo lý của tôn
giáo... Chính họ là những “trụ cột quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển
cuộc sống mới của cộng đồng” [26, tr.83], là “phên dậu” cho sự nghiệp giữ vững
nền độc lập, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội của vùng đất Tây Nguyên nói
riêng và cả nước nói chung, nhưng đồng thời là lực lượng có thể gây ra những bất ổn
rất đáng lo ngại tại vùng đất này.
Thực tế đã cho thấy, kể từ năm 1975, đặc biệt là từ năm 1986 đến nay, dưới tác
động của chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước Việt Nam cũng như tác động của
hiện tượng di dân, sự phát triển của kinh tế thị trường; của sự nghiệp công nghiệp hóa
- hiện đại hóa, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch…, song những di sản
truyền thống của vùng đất này vẫn luôn được bảo lưu, trong đó có vị thế của người có
uy tín. Vì vậy, trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, kế thừa truyền thống

trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên (Nghiên cứu trường hợp dân tộc
Ê đê và Gia rai) để làm Luận án Tiến sĩ, chuyên ngành Xã hội học.

2


2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích của luận án
Mục đích của công trình là nhận diện những nhóm người có uy tín; làm rõ vị
thế và sự biến đổi vị thế của người có uy tín trong cộng đồng DTTS ở Tây Nguyên
(qua hai trường hợp DTTS Ê đê và Gia rai) trong bối cảnh biến đổi xã hội, từ đó đưa
ra các định hướng chính sách và khuyến nghị nhằm phát huy vị thế của người có uy
tín trong phát triển bền vững, tăng cường đoàn kết xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa và
đảm bảo AN, TT ở Tây Nguyên.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Thứ nhất, phân tích, làm rõ các khái niệm: Dân tộc thiểu số, cộng đồng dân tộc
thiểu số, uy tín, người có uy tín, vị thế của người có uy tín; những luận cứ lý thuyết
và các chính sách đối với người có uy tín trong cộng đồng DTTS.
Thứ hai, khái quát địa bàn nghiên cứu, tập trung tìm hiểu, mô tả, từ đó đi vào
luận giải hiện trạng vị thế của người có uy tín trong cộng đồng DTTS ở Tây
Nguyên, đặc biệt là những yếu tố tác động đến sự biến đổi đó.
Thứ ba, nêu lên các định hướng nhằm củng cố, xây dựng và phát huy vị thế của
người có uy tín trong cộng đồng DTTS ở Tây Nguyên, từ đó đề xuất các giải pháp
nhằm nâng cao vị thế của người có uy tín trong cộng đồng DTTS ở Tây Nguyên.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án là vị thế của người có uy tín trong cộng
đồng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án
- Phạm vi về không gian: Trên địa bàn Tây Nguyên, tập trung ở hai tỉnh Đắk

người có uy tín trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
4. Tiếp cận phương pháp nghiên cứu theo hướng Nhân học văn hóa dưới chiều
kích đồng đại và lịch đại; các phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng chủ
yếu, kết hợp với số liệu định lượng thu thập từ các cơ quan nhà nước nhằm đánh giá
một cách toàn diện về vị thế - vai trò của những người có uy tín đối với sự phát triển
bền vững vùng Tây Nguyên.
4.3. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Đề tài đã áp dụng 2 phương pháp nghiên cứu chính là Phân tích tài liệu đã có
và điền dã, bao gồm quan sát tham dự và PVS cá nhân.

4


4.3.1. Phân tích tài liệu đã có
Phương pháp này được sử dụng để thu thập tài liệu, thông tin thứ cấp về các
vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Trước hết, đề tài thu thập và tham khảo
các tài liệu là công trình nghiên cứu đã xuất bản trong và ngoài nước, bao gồm:
1. Các công trình mang tính lý thuyết về vị thế - vai trò, các lý thuyết Dân tộc
học, Xã hội học về quan hệ tộc người, về biến đổi văn hóa, xã hội,… nhằm xác định
các lý thuyết, cách tiếp cận phù hợp, xây dựng các giả thuyết nghiên cứu;
2. Các nghiên cứu (sách, kỉ yếu, tạp chí) về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội
của vùng Tây Nguyên và các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên nhằm tổng hợp và phân
tích các biến đổi xã hội Tây Nguyên trong tất cả các lĩnh vực của đời sống, của các
dân tộc bản địa theo thời gian;
3. Các chính sách của Nhà nước thông qua các văn bản (Chương trình, Dự án,
Nghị định, Chỉ thị,…) hoặc các tài liệu công khai hoặc không công khai (tài liệu
mật) của công an các tỉnh Tây Nguyên, Cục An ninh Tây Nguyên, Ban Chỉ đạo Tây
Nguyên,… nhằm tìm hiểu sự tác động của các thể chế chính trị và của các cơ quan
chức năng đến Tây Nguyên như thế nào.
Các tài liệu thứ cấp nêu trên, sau khi tiến hành thu thập sẽ được tổng hợp, sắp

Bản PVS được thiết kế dưới dạng nghiên cứu lịch đại hồi cố (Retrospective
longitudinal research) [63, tr.3]. Nội dung câu hỏi nhằm thu thập thông tin liên quan
đến đời sống văn hóa, xã hội của cộng đồng qua các giai đoạn lịch sử, từ đó tìm hiểu
sự biến đổi về vị thế - vai trò của những người có uy tín trong cộng đồng theo nhịp
thời gian, cũng như nguyên nhân và hệ quả, tác động xã hội của sự biến đổi đó.
4.4. Phương pháp chọn mẫu và địa bàn điền dã
4.4.1. Tiêu chí lựa chọn tộc người và địa bàn khảo sát
Đầu tiên, công trình xác định tộc người để khảo sát (khách thể nghiên cứu) và
địa bàn nghiên cứu. Việc xác định tộc người để khảo sát có liên quan đến địa bàn
nghiên cứu và được chọn theo các tiêu chí sau đây:
- Tiêu chí dân số - tộc người:
Về mặt dân số - tộc người, Tây Nguyên có 3 nhóm cộng đồng: (1) các tộc
người thiểu số tại chỗ, (2) người Kinh, và (3) các tộc người thiểu số di dân. Theo
Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 01/04/2009, dân số 12 tộc người bản địa Tây
Nguyên là 1.359.533 người, trong đó tộc người Gia rai và Ê đê có dân số đông nhất,
lần lượt là 409.141 người và 304.794 người, chiếm tỷ lệ tương ứng là 30,1% và
22,4%. Do giới hạn của đề tài, tác giả chọn 2 tộc người có số dân đông nhất là Ê đê
và Gia rai làm khách thể nghiên cứu. Điều đó không có nghĩa là người Kinh và các
6


tộc người thiểu số khác không được chú ý, nhưng các nhóm này được khảo sát,
nghiên cứu một cách gián tiếp, trong mối quan hệ tương tác với 2 tộc người nêu trên.
Cũng dựa trên số liệu về hiện trạng phân bố dân số của Tổng điều tra dân số
năm 2009, chọn địa bàn nghiên cứu là 2 tỉnh Gia Lai và Đắk Lắk, vì tộc người Gia
rai sống chủ yếu ở Gia Lai (372.302 người, chiếm tỷ lệ 91,0% dân số Gia rai sống ở
Tây Nguyên) và tộc người Ê đê sống chủ yếu ở Đắk Lắk (298.534 người, chiếm tỷ
lệ 97,9% dân số tộc người Ê đê sống ở Tây Nguyên) [9, tr.4]. Đặc biệt, đây là 2 tộc
người có những phong tục, tập quán, tín ngưỡng đặc sắc nhất vùng... mà ở đó sự
hiện diện của người có uy tín là nổi bật hơn cả so với tất cả các dân tộc khác ở Tây

Buôn/làng

Ia Dêr

B’rêng

Ia Grăng

Châm, Ô rê

Ia Bă

Ia Dun De

Pleiku

Ia Grai
Gia
Lai

Ia Ka
Chư Păh

Đắk
Lắk
Lâm
Đồng

Yố 1, Yố 2, Mrong
Ngoă 3, Mrong Ngoă 4

xã Ia ka cũng đa dạng về thành phần tôn giáo, nhưng đây là một xã nằm trên quốc lộ
14, đang đô thị hóa và đa dạng về thành phần tộc người. Ở huyện Krông Buk (tỉnh
Đắk Lắk) chọn buôn Drao (xã Cư Né) và buôn Êa Nur (xã Pơng Drang) để đi điền
dã. Buôn Êa Nur nằm trong lòng xã Pơng Drang đang đô thị hóa, tỷ lệ đồng bào Ê
đê chiếm gần một nửa, là buôn có tỷ lệ đồng bào tại chỗ cao nhất của xã. Khoảng
2/3 người dân trong buôn theo đạo, chủ yếu là đạo Tin lành. Buôn Drao là vùng
nông thôn, đồng bào Ê đê chiếm đa số, 1/2 dân số theo đạo Tin lành. Việc tìm hiểu
8


những buôn làng điển hình như vậy giúp nghiên cứu có cái nhìn đồng đại, nhận ra
những điểm tương đồng và dị biệt giữa các vùng.
Xen kẽ các cuộc nghiên cứu đó, chúng tôi đã tiến hành PVS một số chuyên gia
am hiểu về vấn đề nghiên cứu, tập trung chủ yếu tại thành phố Pleiku (Ban Dân tộc
tỉnh, Công an tỉnh Gia Lai) và thành phố Buôn Ma Thuột (Ban Chỉ đạo Tây Nguyên,
Đại học Tây Nguyên, Công an tỉnh Đắk Lắk...) [Xem Phụ lục 2].
- Các cuộc điền dã
+ Cuộc điền dã lần thứ nhất
Kết hợp hai tiêu chí đã nêu là dân số - tộc người và tôn giáo, sau khi chọn được
địa bàn nghiên cứu cấp tỉnh, tiến hành chọn các huyện Ia Grai và huyện Chư Păh ở
Gia Lai; huyện Krông Buk và thành phố Buôn Ma Thuột thuộc tỉnh Đắk Lắk để tiến
hành điền dã, nghiên cứu lần thứ nhất. Đây là những địa bàn có đông dân số là tộc
người bản địa được chọn là Gia rai và Ê đê, có số tín đồ theo đạo Công giáo và Tin
lành lớn, đồng thời là nơi có các cán bộ có kinh nghiệm trong lĩnh vực mà tác giả
nghiên cứu. Ở cấp xã và làng là địa bàn nghiên cứu, chúng tôi lưu ý chọn những xã
và làng có đặc điểm khác nhau nhằm có sự đối chiếu, so sánh. Chọn theo các tiêu
chí sau:
1. Về tỷ lệ người nhập cư mới đến, chọn 1 - 2 xã và làng có đông người dân tộc
tại chỗ và 1 - 2 xã làng có tỷ lệ cao người nhập cư là các dân tộc khác (Kinh, các dân
tộc thiểu số phía Bắc).

trong cộng đồng. Chúng tôi tham gia vào các hoạt động chung của cộng đồng như
Tết của đồng bào Gia rai ở làng Kép, đám cưới, tiệc mừng nhà mới, buổi sinh hoạt
của con chiên Công giáo ở giáo xứ Yali, xã Ia Ka...
Cuộc điền dã lần thứ ba bắt đầu từ ngày 14/02/2017 đến 22/2/2017 (8 ngày).
Tương tự như cuộc điền dã lần thứ hai, chúng tôi đi điền dã ở buôn Ea Nur và buôn
Drao. Xã Pơng Drang sắp lên thị trấn, và các thông tin thu thập được từ cuộc điền dã
lần thứ nhất cho thấy đây là xã phát triển nhất của huyện nhưng về an ninh cũng rất
phức tạp. Buôn Ea Nur là buôn có đồng bào Ê đê chiếm tỷ lệ cao, thành phần tôn
giáo đa dạng (có Phật giáo, Công giáo và Tin lành). Xã Cư Né là “điểm nóng” của
huyện, trong đó buôn Drao là buôn có thành phần dân tộc, tôn giáo đa dạng, đồng
thời nổi bật bởi các vụ việc như vượt biên, chặt phá rừng cây thông ven quốc lộ 14,
tham gia Tin lành Đề ga. Chúng tôi đã gặp gỡ và phỏng vấn sâu 30 người, gồm các
già làng, Trưởng thôn, Trưởng ban Mặt trận, Công an xã, chức sắc chức việc tôn
giáo, người dân có đạo và người dân không có đạo, những người dân được mọi
người nhìn nhận là những người có uy tín trong cộng đồng, những người vượt biên
10


trở về và những người từng đi theo Tin lành Đê ga. Chúng tôi tham gia buổi Đại hội
bầu nhân sự Ban Hướng dẫn điểm nhóm thường niên Tin lành buôn Êa nur, đám
cưới, buổi sinh hoạt vào chủ nhật của tín đồ Tin lành ở buôn Drao...
+ Cuộc điền dã thứ tư
Để có được luận cứ thuyết phục trong việc đưa ra những kiến nghị, đề xuất,
đặc biệt là những kiến nghị, đề xuất liên quan trực tiếp đến HĐGL, từ ngày 02/03
đến 05/03/2017, tác giả luận án đã tìm về huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng và được
Ban Dân tộc huyện Di Linh cung cấp các tài liệu về quá trình thành lập Tổ/Hội Già
làng, đặc biệt là các báo cáo công tác của các Hội Già làng ở các xã. Kết quả thu thập
tài liệu cho thấy, sau 10 tháng triển khai (từ tháng 2/2003 đến tháng 12/2003), huyện
Di Linh đã thành lập được Tổ già làng ở 72 thôn/làng, với 14 Hội già làng ở 14 xã,
hoạt động tương đối hiệu quả và tồn tại trong một thời gian nhất định.


Người dân

25

28.7

Chức sắc, chức việc tôn giáo

8

9.2

21

24.1

23

26.4

Cán bộ cấp tỉnh (chuyên gia)

10

11.5

Tổng

87


89.7

Nữ

9

10.3

Tổng

87

100.0

Dưới 35 tuổi

13

14.9

35 đến 50 tuổi

37

42.5

51 đến 65 tuổi

21

12


Thứ hai, luận án làm rõ hiện trạng vị thế của người có uy tín trong cộng đồng
DTTS ở Tây Nguyên (qua điển cứu hai dân tộc Ê đê và Gia rai) trên các phương
diện: Cơ cấu, thành phần, nguyên nhân biến đổi... Đặc biệt, luận án chỉ rõ những bất
cập về chính sách đối với người có uy tín trong các văn bản hiện hành.
Thứ ba, luận án chỉ ra xu hướng biến đổi vị thế của người có uy tín trong cộng
đồng DTTS trên cơ sở phân tích tình hình thực tế tại xã hội Tây Nguyên. Đặc biệt,
luận án đưa ra những định hướng chính sách và khuyến nghị để các cơ quan chức
năng nghiên cứu, tham khảo, từ đó có thể bổ sung, hoàn thiện tiêu chí người có uy
tín nhằm phát huy vai trò, vị thế của người có uy tín vùng DTTS Tây Nguyên trong
bối cảnh có nhiều biến chuyển mới, góp phần phát triển KT - XH và giữ vững AN CT vùng Tây Nguyên.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Một là, luận án cung cấp cho người đọc, các nhà nghiên cứu lý luận về các tiêu
chí xác định, sự biến đổi về thành phần, cơ cấu… của người có uy tín trong bối cảnh
biến đổi mạnh mẽ của cơ cấu xã hội vùng Tây Nguyên.
Hai là, những nghiên cứu trong luận án cung cấp một cách nhìn tổng quan về
hiện trạng người có uy tín trong cộng đồng DTTS ở Tây Nguyên nói chung và trong
DTTS Ê đê, Gia rai nói riêng. Đây là một trong những căn cứ cần thiết để các ngành
khoa học làm cơ sở khi đi vào nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến vùng dân
tộc học Tây Nguyên, đặc biệt là hai dân tộc Ê đê và Gia rai.
Ba là, tác giả luận án đã chỉ ra những bất cập, hạn chế, sự chồng chéo... trong
các chính sách liên quan đến người có uy tín của các cơ quan chức năng, đặc biệt là
các cơ quan có liên quan trực tiếp đến người có uy tín.
Bốn là, luận án đã đưa ra những kiến nghị, đề xuất nhằm phát huy vị thế của
người có uy tín trong cộng đồng DTTS ở Tây Nguyên. Đây là cơ sở để các cơ quan
quản lý nhà nước tham khảo trong hoạch định, soạn thảo và ban hành chính sách dân
tộc nói chung và chính sách đối với người có uy tín nói riêng, nhằm phát huy một
cách hiệu quả vị thế, vai trò của người có uy tín trong phát triển kinh tế, giữ gìn bản

Xã hội học nói riêng có ý nghĩa quan trọng. Trong sự vận hành và phát triển xã hội,
cấu trúc xã hội không những được xem như là một tổng thể, một tập hợp các bộ
phận (các cộng đồng, tầng lớp, giai cấp…), mà còn được xem xét về mặt kết cấu và
hình thức tổ chức bên trong của một hệ thống xã hội. Mặt khác, việc coi cấu trúc xã
hội là một “bộ khung” để xem xét xã hội cho phép chúng ta biết được một xã hội cụ
thể nào đó được cấu thành từ những nhóm xã hội nào. Cũng thông qua “bộ khung”
này mà chúng ta biết được “vị thế” - tức là chỗ đứng của từng cá nhân, từng nhóm
xã hội trong xã hội, vai trò xã hội của các cá nhân, sự đan kết những liên hệ và
tương tác cá nhân, nhóm, cộng đồng, từ đó mà áp dụng những phương thức ứng xử
và quản lý thích hợp, góp phần vào sự tồn tại, ổn định và phát triển của một xã hội
cụ thể.
Như vậy, vị thế và vai trò xã hội là hai bộ phận cấu thành rất quan trọng trong
cấu trúc xã hội. Từ trước đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về vị thế và
vai trò xã hội của cá nhân.
Trong công trình nghiên cứu Enduring Issues in Sociology (tạm dịch: Những
vấn đề cơ bản của Xã hội học), Ralph Linton (1893 - 1953), nhà nhân học văn hóa
người Mỹ là người đầu tiên sử dụng khái niệm “vai trò” và “vị thế” để nghiên cứu
cấu trúc bên trong của hệ thống xã hội, của mối quan hệ giữa nhân cách và xã hội,
và kết hợp chủ nghĩa chức năng với tiếp cận lịch sử để nghiên cứu văn hóa. Ông cho
rằng, vị thế là vị trí trong khuôn mẫu nhất định của các hành vi tương tác giữa các cá
nhân hoặc nhóm người, còn vai trò là mặt động thái của vị thế. Linton phân biệt vị
thế gán cho cá nhân không liên quan gì tới năng lực hay những khác biệt bên trong
của họ và vị thế giành được nhờ những năng lực, phẩm chất đặc biệt.
15


Nhập môn lịch sử Xã hội học (nguyên bản tiếng Đức: Einfuhrung in die
Geschichte der oziologie) là công trình của tác giả người Đức Herman Korte, xuất
bản năm 1993. Trong công trình này, khi nghiên cứu quan niệm của Max Weber về
quyền lực, tác giả cho rằng “Weber chủ yếu xem xét ba loại hình tiêu biểu của thống

năng xã hội, mô hình hành vi được xác lập một cách khách quan bởi vị thế xã hội của
cá nhân trong hệ thống các quan hệ xã hội hoặc hệ thống các quan hệ cá nhân” [60,
tr.78]. Hay nói một cách khác, “vai trò xã hội là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi,
nghĩa vụ và quyền lợi gắn với một vị thế nhất định” [65, tr.78].
Social Structure (Cấu trúc xã hội) là một nghiên cứu của tác giả Charles
Crothers, được công bố vào năm 2003. Một trong những nội dung cơ bản mà công
trình này đề cập là đi vào phân tích những quan điểm cơ bản của Parsons và Shils
trong tác phẩm Toward a General Theory of Action1 (1951). Theo Parsons và Shils,
"một trong những bức tường kiên cố nhất, ngăn cản việc xây dựng cấu trúc xã hội
chính là sự phân định giữa vị thế và vai trò. Hai yếu tố này giống như hai mặt của
một đồng xu, có quan hệ khăng khít, gắn bó và rất khó tách rời, cũng như phân biệt
nhau. Vị thế xã hội, hiểu theo cách đơn giản nhất, đó chính là một phần trong tổng
thể của bức tranh về vị thế, mà theo đó từng vị thế sẽ gắn liền với nghĩa vụ phải tuân
theo các quy tắc ứng xử và hành động nhất định. Thuật ngữ “vị trí xã hội” vừa mang
nghĩa sở chỉ vừa mang nghĩa hàm chỉ, vừa thể hiện sự trang trọng, vừa gần gũi" [1,
tr.84]. Tác giả dẫn chứng ví dụ: Với vị thế xã hội là thầy giáo, người thầy vừa được
yêu cầu phải thực hiện tốt công tác giảng dạy trong lớp, vừa phải cư xử chuẩn mực
trong cộng đồng. Thực hiện tốt công tác giảng dạy trong lớp là nghĩa sở chỉ của vị
thế xã hội, còn cư xử chuẩn mực trong công đồng là nghĩa hàm chỉ [1, tr.84]. Ngoài
ra, tác giả nhận định rằng một cá nhân với một vị thế xã hội phải tiếp xúc với nhiều
đối tượng khác nhau nên phải thực hiện rất nhiều vai trò xã hội khác nhau.
Trong công trình Lịch sử và lý thuyết Xã hội học (2008), tác giả Lê Ngọc Hùng
đã đi vào luận giải những quan điểm cơ bản của các nhà xã hội học tiêu biểu và một
số chủ thuyết xã hội học hiện đại. Khi nghiên cứu về lý thuyết hệ thống xã hội của
Talcott Parsons, tác giả đã phân tích các đơn vị của hệ thống xã hội, trong đó có “vị
thế - vai trò với tư cách là một tiểu hệ thống có tổ chức của một người hay nhiều
người chiếm giữ những vị thế đã cho và hành động hướng vào nhau theo các xu
hướng tương tác nhất định” [52, tr.235]. Còn khi nghiên cứu về lý thuyết trung gian
về vai trò - tập hợp của Robert Merton, tác giả cũng đã đi vào nghiên cứu quan niệm
về hệ vai trò của Merton. Theo tác giả, “Merton đưa ra khái niệm “hệ vai trò” để chỉ

Quang Dũng chủ biên, với sự tham gia của nhiều tác giả xã hội học ở Việt Nam. Mặc
dù phần dành cho nội dung vị thế xã hội không nhiều, song những quan điểm của các
tác giả về vấn đề này có ý nghĩa rất lớn trong việc định hướng cho các nhà nghiên
cứu. Khi bàn về vị thế xã hội, tác giả Nguyễn Hữu Minh cho rằng, “vị thế xã hội phản
ánh mức độ uy tín và sự kính trọng từ người khác. Cơ sở cho sự kính trọng đó tùy
thuộc vào phẩm chất cá nhân được người khác coi là quan trọng trong xã hội. Nghề
nghiệp là một trong những chỉ báo quan trọng nhất của vị thế, vì nó thể hiện cách thức
chủ yếu để có quyền lực và tài sản” [28, tr.47]. Phân tích cách tiếp cận của Weber về
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status