NHỮNG PHƯƠNG PHÁP THÍCH hợp TRONG dạy học tác PHẨM văn CHƯƠNG NHÌN từ TRUYỀN THỐNG đến HIỆN đại - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
------------------

ĐỖ THỊ HỒNG

NHỮNG PHƯƠNG PHÁP THÍCH HỢP
TRONG DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG
NHÌN TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
------------------

ĐỖ THỊ HỒNG

NHỮNG PHƯƠNG PHÁP THÍCH HỢP
TRONG DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG
NHÌN TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Văn – Tiếng Việt
Mã số: 60 14 0111

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: GS. TS : NGUYỄN THANH



tham khảo, trích dẫn có xuất xứ rõ ràng. Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về
công trình nghiên cứu của mình.
Hà Nội, tháng 9 năm 2014

Đỗ Thị Hồng

MỤC LỤC
Trang


1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI...............................................................1
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.......................................................9
5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 9
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..............................................9
7. CẤU TRÚC LUẬN VĂN..........................................................10
1.1. XÁC ĐỊNH KHÁI NIỆM VÀ NỘI DUNG CỦA TỪ “ THÍCH
HỢP”...............................................................................................11
1.1.2.1. Thích hợp với đặc trưng dạy học tác phẩm văn chương......................................................................11
1.1.2.2. Thích hợp với việc chuyển đổi từ giảng văn sang đọc – hiểu TPVC.....................................................13
1.1.2.3. Thích hợp với mục tiêu chương trình sách giáo khoa Ngữ văn hiện nay.............................................16
1.1.2.4. Thích hợp với bối cảnh xã hội hiện nay và xu thế hội nhập quốc tế....................................................17
1.1.2.5. Thích hợp với trình độ nghiệp vụ của giáo viên và năng lực tự học của học sinh...............................19
1.1.2.6. Thích hợp với điều kiện, phương tiện dạy học.....................................................................................21
1.1.2.7. Thích hợp với hiệu quả dạy học tác phẩm văn chương.......................................................................23

1.2. VỀ NHỮNG PHƯƠNG PHÁP THÍCH HỢP TRONG DẠY
HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG............................................24
1.2.3. Những phương pháp thích hợp trong dạy học tác phẩm văn chương...................................................30

3.7. NHỮNG KIẾN NGHỊ CỦA NGƯỜI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
.......................................................................................................106


DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

SGK

: Sách giáo khoa

GV

:Giáo viên

HS

:Học sinh

THPT

:Trung học phổ thông

TPVC

:Tác phẩm văn chương

PPDH

:Phương pháp dạy học


học văn (1988, 1998) của nhóm tác giả Phan Trọng Luân, Trương Dĩnh ,
Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt và “ Phương pháp dạy học văn” (2001,
2004) của nhóm tác giả Phan Trọng Luân, Trương Dĩnh. Hai bộ sách là giáo
trình học tập của sinh viên sư phạm và là kim chỉ nan dẫn đường nhiều năm nay
của giáo viên dạy văn. Đồng thời, trong xu thế hội nhập thế giới, chúng ta cũng
áp dụng nhiều phương pháp dạy học hiện đại trong lý luận dạy học hiện đại vào
dạy học bộ môn văn và đã thu được một số kết quả nhất đinh. Trong rất nhiều
những phương pháp truyền thống và hiện đại như vậy, việc vận dụng những
phương pháp thích hợp, có hiệu quả trong dạy học tác phẩm văn chương là vấn
đề đáng quan tâm. Bởi như Gớt đã từng nói: “ Mọi lý thuyết đều là mầu xám
còn cây đời thì mãi mai xanh tươi”. Thiết nghĩ “cây đời mãi mãi xanh tươi” ấy
chính là thời đại mới, chiến lược giáo dục mới, đối tượng học sinh mới, chương
trình sách giáo khoa Ngữ văn mới. Các nhà phương pháp dạy học văn đã tổng
kết những phương pháp phục vụ giảng dạy và học tập còn chúng tôi với kinh
nghiêm nhỏ bé của mình muốn tìm tòi những phương pháp dạy học tác phẩm
văn chương thích hợp, có hiệu quả góp phần nhỏ vào việc đổi mới dạy học văn
hiện nay. Như vậy, nếu đề tài thực hiện tốt sẽ góp phần khẳng định và nâng cao
tính chất lý thuyết khoa học của bộ môn LL và PPDH Văn – Tiếng việt.
1.2 Đồng thời đề tài cũng đưa ra một cái nhìn toàn diện, tránh những
quan niệm phân chia và đánh giá chưa thỏa đáng những phương pháp dạy học
văn truyền thống và phương pháp dạy học văn hiện đại. Vấn đề này cũng được
GS. Nguyễn Thanh Hùng đề cập trong bài viết “Thăm dò đổi mới căn bản toàn
diện môn Ngữ văn trong giáo dục Việt Nam”. Giáo sư cho rẳng: “ Trong dạy
học không hề có một phương pháp hiện thân hoàn toàn…Nước mình đang trên
con đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa chứ đâu đã như thế mà đem những
phương pháp hiện đại vào nhà trường. Đây là những bối rối trong việc “di thực
phương pháp”. Muốn học theo ai cũng tốt nhưng chắc chắn phải phát triển hệ
thống phương pháp dạy học bộ môn của mình một cách chặt chẽ thận trọng.
2



phương pháp giảng văn. Đồng thời thành tựu quyết định trong thời gian vừa
qua của phương pháp dạy học văn là mối quan hệ ngày càng gắn bó giữa
ngành khoa học này với các khoa học khác (Rez). Những kết quả nghiên cứu
mới nhất của lý thuyết phê bình mới, tiếp nhận văn học, lý luận dạy học, tâm
lý học …đã thực sự làm cơ sở vững chắc cho phương pháp dạy học văn phát
triển.
Phương pháp giảng văn thực sự đã trải qua một chặng đường khá dài, nó
được đánh dấu bằng sự ra đời của các công trình nghiên cứu khoa học uy tín
như: “Quốc văn trích diễm” (1925) của Dương Quảng Hàm; “Giảng văn chinh
phụ ngâm”(1950) của Đặng Thai Mai; “Việt Nam thi văn giảng luận” ( 1951)
của Hà Như Chi; “Văn học phân tích toàn thư” (1973) của Thạch Trung Giả;
“Những bài giảng văn ở đại học”(1982) của Lê Trí Viễn; “Mấy vấn đề về
phương pháp dạy thơ văn cổ Việt Nam” (1984) của Nguyễn Sĩ Cẩn; “Giảng văn
dưới ánh sáng của ngôn ngữ học” (1985) của Đái Xuân Ninh; “Mấy vấn đề về
phương pháp giảng dạy và nghiên cứu văn học dân gian” (1997) của Hoàng
Tiến Tựu; “Bàn thêm về phương pháp dạy văn” (2002) của Nguyễn Đình Chú.
Đặc biệt phải kể đến những đề xuất của các nhà khoa học bộ môn về hệ thống
phương pháp dạy học tác phẩm văn chương như “Giáo trình phương pháp giảng
dạy văn học” (1963) của Bùi Hoàng Phổ, Hoàng Lân, Quách Hi Dong, Nguyễn
Gia Phương; “Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể” của Trần
Thanh Đạm (1971); “Phương pháp dạy học văn” (1988,1998) của nhóm các
chuyên gia đầu ngành Phan Trọng Luận, Nguyễn Thanh Hùng, Trương Dĩnh,
Trần Thế Phiệt và “Phương pháp dạy học văn” (2001,2004) của nhóm tác giả
Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh. Ngoài ra còn phải kể đến những công trình
nghiên cứu khác như: “Văn học tầm nhìn biến đổi”(1998), “Hiểu văn – Dạy
văn”(2000), “Đọc và tiếp nhận tác phẩm văn chương”(2002), ..của Nguyễn
Thanh Hùng; “Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường” (1977), “Thiết kế
bài học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông”(1998) của Phan Trọng
4



tiên tháng 5 năm 1969 đến số 12 năm 1995 – kéo dài 25 năm.
Năm 2003, Bùi Minh Đức với luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục mang
tên “Quan niệm khác nhau về hệ thống phương pháp dạy học tác phẩm văn
chương (trong thế kỉ XX)” đã tổng kết những quan điểm khác nhau về hệ thống
phương pháp giảng văn, tìm hiểu xem các học giả, các nhà sư phạm tiêu biểu
trong và ngoài nước đã đề xuất những hệ thống phương pháp giảng văn nào, chỉ
ra và phân tích những điểm khả thủ cần thiết phải kế thừa đồng thời cũng chỉ ra
những ngộ nhận cần tránh.
TS. Nguyễn Văn Cường với công trình nghiên cứu “Lý luận dạy học hiện
đại – Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học” (2012) đã đề cập đến vấn đề
đổi mới phương pháp dạy học ở nhà trường phổ thông. Trên cơ sở đó tác giả công
trình đã tổng hợp một cách khái quát nhất những phương pháp và kỹ thuật dạy học
phát huy tính tích cực như dạy học nhóm, dạy học giải quyết vấn đề, phương pháp
nghiên cứu trường hợp, dạy học theo dự án….Đó là cơ sở để các giáo viên bộ môn
sử dụng vào dạy học như một bộ công cụ hữu hiệu.
Ngoài ra chúng ta còn phải kể đến những bài viết quan trọng về đổi mới
phương pháp của các chuyên gia, các giáo viên giỏi in trong cuốn kỷ yếu Hội
thảo khoa học về dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông Việt Nam (2013) như
GS.TS. Nguyễn Thanh Hùng, GS. Phan Trọng Luận, PGS.TS. Đỗ Ngọc Thống,
PGS.TS. Nguyễn Viết Chữ, PGS.TS. Hoàng Hòa Bình,PGS. TS. Nguyễn Thị
Hồng Nam, Võ Huy Bình, TS. Cao Thị Xuân Phượng, PGS.TS. Lưu Khánh
Thơ, Nguyễn Thu Hiền, Nguyền Thị Hải Yến, Nguyễn Bá Huy, PGS.TS.
Nguyễn Thúy Hồng, Trần Thị Kim Dung, Hồ Hoàng Khải, PGS.TS. Nguyễn
Trí, TS. Trịnh Xuân Vũ….
Tất cả những công trình trên đều là những tư liệu quý báu để tác giả luận
văn tham khảo. Tuy nhiên, các công trình trên chỉ đi vào nghiên cứu và tổng kết
lý thuyết hệ thống những phương pháp, kĩ thuật dạy học Ngữ văn một cách
6



chưa từng giải quyết.” (Phương pháp luận nghiên cứu văn học). Tôi thiết nghĩ
rằng những phương pháp dạy học tác phẩm văn chương truyền thống không
phải hoàn toàn là lỗi thời, chúng ta không thể phủ nhận được những mặt mạnh
nó. Và không phải tất cả những phương pháp dạy học tác văn chương hiện đại
đều tốt. Trong kho tàng những phương pháp truyền thống và hiện đại ấy, người
GV phải biết chọn lọc những phương pháp thích hợp nhất để giờ dạy văn đạt
hiệu quả cao.
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn sẽ đề xuất những phương pháp thích hợp trong dạy học tác
phẩm văn chương với việc đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy
học văn và xu thế hội nhập quộc tế có hiệu quả. Tuy nhiên, việc xác lập những
phương pháp dạy học tác phẩm văn chương thích hợp trong nhà trường THPT là
một trong những vấn đề thời sự khoa học đang còn tồn tại của lý luận dạy học
bộ môn phương pháp dạy học văn hiện nay. Để giải quyết vấn đề khoa học này
đòi hỏi những công trình nghiên cứu công phu, toàn diện.
Suy nghĩ như vây, chúng tôi xác định mục đích trước mắt( phù hợp với
thời gian cho phép và giới hạn của luận văn Thạc sỹ) là nghiên cứu tổng kết
những quan niệm về hệ thống phương pháp dạy học tác phẩm văn chương
truyền thống và hiện đại mà các nhà nghiên cứu đã tổng kết, từ đó lựa chọn
những phương pháp thích hợp dạy học tác phẩm văn chương với mục tiêu giáo
dục, với đặc trưng bộ môn, với sự thay đổi của xã hội, với khẳ năng, năng lực
của GV, HS…. Những nghiên cứu, luận giải về những phương pháp thích hợp
trong dạy học tác phẩm văn chương của cá nhân chúng tôi hy vọng sẽ là những
suy nghĩ và đề xuất vận dụng bước đầu cần được suy nghĩ cụ thể hơn khi đã xác
đinh được phương hướng khoa học.

8




7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm
ba chương:
Chương 1:Khảo sát nhận định và lựa chọn những phương pháp thích hợp
trong dạy học tác phẩm văn chương
Chương 2: Những phương án vận dụng những phương pháp thích hợp
trong dạy học tác phẩm văn chương vào một số tác phẩm trong chương trình
THPT
Chương 3: Kiểm tra đánh giá kết quả vận dụng những phương pháp thích
hợp trong dạy học tác phẩm văn chương

Chương 1
KHẢO SÁT NHẬN ĐỊNH VÀ LỰA CHỌN NHỮNG PHƯƠNG
PHÁP THÍCH HỢP TRONG DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG
10


1.1. Xác định khái niệm và nội dung của từ “ thích hợp”
1.1.1. Khái niệm “ thích hợp”
Khái niệm “thích hợp” được sử dụng rộng rãi trong tất cả mọi lĩnh
vực khoa học và các lĩnh vực khoa học liên ngành từ cấp độ vĩ mô đến cấp
độ vi mô. Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (chủ biên): “Thích hợp là
hợp với yêu cầu, đáp ứng tốt các đòi hỏi”. Từ điển Tiếng Anh giải thích
khái niệm này rõ hơn:“ Suitable có nghĩa là hòa hợp, thích ứng với một đối
tượng nào đó”.
Như vậy, chúng ta nhận thấy thuật ngữ này luôn gắn liền với đối
tượng. Mỗi đối tượng có đặc điểm và tính chất riêng biệt, vì thế khi sử dụng
thuật ngữ cần lưu ý đến mối quan hệ tương tác giữa chúng. Thực tế cho thấy,

thông tin mà còn kích thích bùng nổ thông tin. Hơn nữa, bản thân văn bản nghệ
thuật mang tính đa nghĩa. Trước hết đó là tầng nghĩa do hệ thống ngôn ngữ đưa
lại, sau đó là tầng hình dung tưởng tượng từ hình ảnh, hình tượng của tác phẩm
tạo nên sự lung linh trong câu chữ và trong tưởng tượng của người đọc. Ý nghĩa
của văn bản tạo ra từ hai tầng trên. Thực tế, không ít người dạy quá coi trọng
tầng ý nghĩa đến mức thơ không cần thuộc, dạy truyện không cần kể. Và như
vậy, vô tình chúng ta đã thủ tiêu tính nghệ thuật của văn học một cách phũ
phàng.
Quả thật, đối với dạy học tác phẩm văn chương thì các hoạt động chủ yếu
của nó là chủ thể học sinh tự làm việc để có được tri thức và năng lực tương ứng
là nghe, nói, đọc, viết, mà chủ yếu là đọc (nghe) và viết (nói), cụ thể là đọc văn
và làm văn. Như vậy, phương pháp dạy học tác phẩm văn chương phải được
thầy – trò triển khai nhằm thực hiện mục tiêu đọc - hiểu hướng học sinh đến với
cái đẹp, cái thiện, cái cao cả của cuộc đời, giúp các em sống người hơn.

12


1.1.2.2. Thích hợp với việc chuyển đổi từ giảng văn sang đọc – hiểu TPVC
Tư tưởng quan trọng của chương trình Ngữ văn sau 2000 là chuyển từ
phương pháp giảng văn sang phương pháp đọc hiểu văn bản. Đó là một bước
tiến trong phương pháp dạy học văn ở nhà trường phổ thông. Việc dạy học tác
phẩm, đoạn trích văn học, xét về thực chất không phải là giảng văn, mà chính là
dạy đọc văn. Đọc là hoạt động tìm ý nghĩa của văn bản, mà muốn hiểu văn bản
thì không phải chỉ phân tích, mà còn phải quy nạp, tổng hợp. Phân tích cũng
chỉ là thao tác lí tính, không bao hàm được trực giác, cảm thụ, những hoạt động
không thể thiếu trong đọc văn. Như thế vẫn chưa đủ, đọc văn là quá trình đối
thoại, đối thoại với tác giả, với cách hiểu của người đọc trước, với “tiền lí giải”
– tri thức, cách hiểu tích luỹ từ ban đầu của chính người đọc nữa. Đọc là quá
trình liên hệ với các văn bản có trước trong mối liên hệ liên văn bản rất rộng lớn

thường, như trong Từ điển tiếng Việt (2004) hiểu có nghĩa là: “Nhận ra ý
nghĩa, bản chất, lí lẽ của cái gì, bằng sự vận dụng của trí tuệ”. Như vậy hiểu có
nghĩa là phản tư, đối thoại và giao lưu, một hoạt động sống, sáng tạo. Tóm
lại, đọc hiểu với hàm nghĩa sâu rộng của khái niệm hiểu là phần quan trọng nhất
của hoạt động đọc, thống nhất trong nó cả sự giải thích, phân tích và ứng dụng,
làm nền tảng cho sự hình thành tư tưởng, tình cảm, thế giới quan, thị hiếu thẩm
mĩ của người đọc.
Khái niệm đọc hiểu không cho phép ta dạy học văn như cũ mà đòi hỏi
phải thay đổi quan niệm dạy Ngữ văn và phương pháp dạy học Ngữ văn. Giảng
văn chỉ mới là giải thích, phân tích văn bản, chưa bao gồm sự hiểu của trò. Theo
Frire - nhà xã hội học, nhà giáo dục học nổi tiếng người Braxin đã gọi PPDH
này là "Hệ thống ban phát kiến thức", là quá trình chuyển tải thông tin từ đầu
thầy sang đầu trò. Thực hiện lối dạy này, giáo viên là người thuyết trình, diễn
giảng, là "kho tri thức" sống, học sinh là người nghe, nhớ, ghi chép và suy nghĩ
theo. Với PPDH truyền thống, giáo viên là chủ thể, là tâm điểm, học sinh là
14


khách thể, là vệ tinh quay theo quỹ đạo đã định sẵn. Giáo án dạy theo phương
pháp này được thiết kế kiểu đường thẳng theo hướng từ trên xuống. Do đặc
điểm hàn lâm của kiến thức nên nội dung bài dạy theo phương pháp truyền
thống có tính hệ thống, tính logic cao. Song do quá đề cao người dạy nên nhược
điểm của PPDH truyền thống là học sinh thụ động tiếp thu kiến thức, giờ dạy dễ
đơn điệu, buồn tẻ, kiến thức thiên về lý luận, ít chú ý đến kỹ năng thực hành của
người học; do đó kỹ năng hành dụng vào đời sống thực tế bị hạn chế.
Đọc hiểu là hoạt động của trò, là một khái niệm sâu sắc, phong phú, nhiều
mặt và chắc chắn sẽ còn có nhiều kiến giải khác nữa. Tuy nhiên, với khái niệm
này, muốn dạy đọc hiểu văn học cho học sinh, đào tạo năng lực đọc hiểu cho
các em để các em có thể tự học và tự học suốt đời nhất thiết phải nghiên cứu đổi
mới các thao tác dạy học Ngữ văn một cách thấu đáo, khoa học, hệ thống, mới

Việt, tiếp nhận văn bản, cảm thụ thẩm mỹ, phương pháp học tập tư duy, đặc biệt
là phương pháp tự học, năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống. 3.
Bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hóa, tình yêu gia đình,
thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập, tự cường, lý tưởng xã
hội chủ nghĩa, tinh thần dân chủ nhân văn, giáo dục cho học sinh trách nhiệm
công dân, tinh thần hữu nghị hợp tác quốc tế, ý thức tôn trọng và phát huy các
giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại”[3, tr. 39].
Mục tiêu dạy học Ngữ văn cũng được cụ thể hóa ở từng cấp học, lớp học,
phân môn… Chẳng hạn, ở cấp THPT: “Mục tiêu trực tiếp, chủ yếu của môn
Ngữ văn THPT là hình thành và rèn luyện cho học sinh năng lực đọc - hiểu
cũng như tạo lập các loại văn bản” (Đỗ Ngọc Thống) [8, tr.10]. Phân môn Văn
học có chức năng cung cấp một hệ thống tri thức phổ thông, cơ bản, hiện đại về
văn học Việt Nam và thế giới, thông qua việc phân tích tác phẩm văn chương
mà bồi dưỡng cho học sinh những giá trị Chân – Thiện – Mỹ. Học sinh không
16


chỉ được rèn luyện năng lực phân tích, cảm thụ tác phẩm nghệ thuật, mà còn
biết vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống.
Ở cấp độ vi mô, mục tiêu dạy học được cụ thể hóa đến từng bài học, tiết
học. Phần đầu mỗi bài học trong sách giáo khoa đều có ghi mục tiêu cần đạt.
Sách Giáo khoa 12, tập 1 (chương trình chuẩn) nêu “kết quả cần đạt” của
bài Bến quê (lớp 9) trong giáo án của một giáo viên: 1. Qua cảnh ngộ và tâm
trạng của Nhĩ, học sinh cảm nhận được ý nghĩa triết lý mang tính trải nghiệm về
cuộc đời con người, biết nhận ra những vẻ đẹp bình dị và quý giá trong những
gì gần gũi của quê hương, gia đình; 2. Thấy và phân tích được đặc sắc nghệ
thuật của truyện như tạo tình huống nghịch lý, trần thuật qua dòng nội tâm nhân
vật, ngôn ngữ và giọng điệu đầy chất suy tư, hình ảnh giàu tính biểu tượng; 3.
Rèn luyện kĩ năng phân tích truyện có sự kết hợp các kiểu loại tự sự, trữ tình,
triết lý.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status