CẢM HỨNG THẾ sự TRONG SÁNG tác của lê MINH KHUÊ SAU 1975 - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

ơ

PHẠM THỊ HOA

CẢM HỨNG THẾ SỰ TRONG SÁNG
TÁC CỦA LÊ MINH KHUÊ SAU 1975
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam hiện đại
Mã số : 60220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Lê Quang Hưng

Hà Nội - 2014


LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành nhất của mình, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
tới thầy giáo PGS- TS Lê Quang Hưng, người đã dày công và tận tình hướng
dẫn, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Tổ Văn học Việt
Nam hiện đại, các thầy cô khoa Ngữ văn, Phòng sau đại học , Trung tâm
thông tin thư viện – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận
lợi giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn nhà văn Lê Minh Khuê đã giúp tôi trong việc
tìm hiểu quá trình sáng tác, thu thập thông tin phục vụ cho quá trình nghiên
cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè, người thân trong gia đình đã

tiếp cận kinh tế thị trường............................................................................49
2.3.1. Mặt trái của công nghệ và đô thị hóa....................................................49
2.3.2. Sức mạnh của đồng tiền........................................................................58
2.3.3. Mảng tối của bức tranh hiện thực xã hội...............................................63


2.4. Niềm tin lạc quan về cuộc đời và con người........................................69
Tiểu kết chương II...........................................................................................77
CHƯƠNG III. PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CẢM HỨNG THẾ SỰ
CỦA LÊ MINH KHUÊ...................................................................................79
3.1. Kết cấu, cốt truyện.................................................................................79
3.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật.............................................................81
3.3. Ngôi kể và điểm nhìn trần thuật...........................................................85
3.4. Giọng điệu trần thuật............................................................................93
3.5. Ngôn ngữ nghệ thuật.............................................................................99
3.6. Biện pháp tu từ....................................................................................106
3.7. Sử dụng yếu tố kỳ ảo...........................................................................110
Tiểu kết chương III:.......................................................................................112
KẾT LUẬN...................................................................................................114
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................116


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

1. Với thắng lợi của cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, thống nhất
đất nước, xã hội Việt Nam từ sau năm 1975 có nhiều biến động và theo đó
văn học có sự chuyển mình rõ rệt. Cảm hứng sử thi, khuynh hướng lãng mạn
của giai đoạn văn học Cách mạng 1945 - 1975 nay đã nhường chỗ cho những
nguồn cảm hứng mới, đặc biệt là cảm hứng thế sự, đời tư, nguồn cảm hứng

mắt, phải ôm bụng cười đấy. Đó là cách người ta yêu nhau, người ta ăn
uống, người ta lừa dối, phản trắc, tử tế hay bất lương”.
3. Tìm hiểu cảm hứng thế sự trong các sáng tác của Lê Minh Khuê từ sau
1975 giúp chúng ta hiểu hơn về đời sống xã hội và phong cách sáng tác cũng
như quan điểm sáng tác của nữ nhà văn này. Đồng thời, đây cũng là chìa khóa
để ta mở những cánh cửa đến với văn học thời kì đổi mới nhờ các sáng tác
của bà, khẳng định vị trí của nhà văn trong nền văn học nước nhà thời kì sau
chiến tranh.
Đó là những lí do thiết thực nhất thôi thúc chúng tôi đi vào tìm hiểu đề tài:
Cảm hứng thế sự trong sáng tác của Lê Minh Khuê từ sau 1975.
2. Lịch sử vấn đề

2.1. Những ý kiến về cảm hứng thế sự trong văn học Việt Nam sau 1975.
Văn học sau 1975 đa dạng về thể tài, khuynh hướng, là đối tượng nghiên
cứu được các nhà phê bình chú ý. Có rất nhiều nghiên cứu về văn xuôi sau
1975 với những nhìn nhận đa chiều về sự đa dạng của văn xuôi giai đoạn này
mà cảm hứng thế sự đời tư là một trong những cảm hứng nổi bật.
Tác giả Nguyễn Văn Long, trong Văn học Việt Nam hiện đại, những
vấn đề nghiên cứu và giảng dạy đã chỉ ra : “chiến tranh đi qua, cuộc sống
thời bình trở lại thì dần con người cũng trở về với các quan hệ thế sự và nhu
cầu của đời sống riêng tư. Phản ánh đời sống trong các quan hệ thế sự hàng
ngày và đời sống riêng tư của con người đã trở thành mối quan tâm lớn của

2


văn học nói chung, cũng như văn xuôi nói riêng. Khuynh hướng thế sự đời tư
đã nảy nở ngay từ những năm đầu sau chiến tranh, được phát triển trong
những năm tám mươi và trở thành khuynh hướng bao trùm trong văn xuôi ở
thập kỷ chín mươi cho đến gần đây” [ 34, 197]. Tác giả công trình nghiên cứu

mới” đã chỉ ra đặc điểm nổi bật của văn học giai đoạn này là “tính chất phê
phán”, ông nhận định: “Nếu trước đây nhân vật chính của các tác phẩm hầu
hết là người tốt, là nhân vật chính diện, thì bây giờ, ngược lại, trong nhiều
tác phẩm các nhân vật chính thường là nhân vật tiêu cực, giả dối, làm ăn phi
pháp, thấp kém về đạo đức. Và một khi các nhân vật chính đã như vậy thì dĩ
nhiên cảm hứng chủ đạo của tác phẩm cũng thay đổi: nhiệt tình ca ngợi,
khẳng định được thay thế bằng sự phê phán, châm biếm” [57, 32 ].
Thanh Công trong bài viết Cảm hứng đời tư - thế sự trong văn học Việt
Nam sau 1975 khi viết về đề tài gia đình, đã cho rằng, các nhà văn lúc này
“không né tránh, ngại ngùng khi khai thác các mặt trái, góc khuất, phần chìm
của hiện thực cuộc sống” [ 13, 23 ].
Còn Đỗ Ngọc Thạch trong bài Văn học và hiện thực khẳng định: “Nếu
như trước đây nhà văn chỉ kịp thời phản ánh được một vài khía cạnh của hiện
thực, thì giờ đây, bằng sự chiêm nghiệm sâu sắc, bằng sự nghiên cứu nghiêm
túc đối tượng phản ánh, đã có thể dựng lại những bức tranh chân thực và
rộng lớn với tất cả sự đa dạng của hiện thực phong phú và phức tạp, trong đó
có cả cái cao cả và cái thấp hèn, cái ác và cái xấu” [ 50, 21 ].
Trong luận văn Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975-1985, tác giả
Nguyễn Thị Minh Nguyệt đã nhận thấy: Đất nước trở lại hoà bình thì mảng
đề tài thế sự đời tư nhanh chóng đóng vai trò chủ đạo trên văn đàn. Truyện
ngắn đi sâu phản ánh con người bình thường với những mối quan hệ phong
phú, phức tạp. Con người cá nhân được nhìn ở nhiều chiều hướng. Đó cũng
là những nỗi niềm, băn khoăn về hạnh phúc cá nhân, về nhân phẩm, về cuộc
đời được phát đi từ những số phận riêng. Nhiều truyện ngắn cũng đã phanh

4


phui mổ xẻ để nhận rõ mặt cái xấu, cái ác và sự tha hoá về đạo đức nhưng
nghiêng về hướng dự báo giúp mọi người khả năng tỉnh táo để nhận thức sâu

khêu gợi”.
Đáng chú ý là bài viết của Hồ Anh Thái: Lê Minh Khuê, người đàn bà
viễn thị. Bài viết đã bao quát sáng tác truyện ngắn của Lê Minh Khuê theo
từng phương diện, từng khía cạnh, phát hiện ra khả năng bao quát hiện thực
của cây bút này: “Tâm trạng xã hội hơn ba mươi năm qua, những khúc
quanh, những đổi thay qua các thời kỳ chiến tranh, cuối cuộc chiến,
thống nhất đất nước, thời kinh tế thị trường đã liền mạch trong tác phẩm
của Lê Minh Khuê...Người ta không soi vào đấy để thấy lịch sử nhưng có
thể đọc trong đó tâm thế của thời cuộc” [ 51, 258]. Qua tìm hiểu giọng
điệu, điểm nhìn của Lê Minh Khuê trong trần thuật, tác giả bài viết nhận
thấy “chị rất có ý thức nói bằng giọng của mình- tiết chế, đôi khi chủng
chẳng khô khan nhưng đầy hàm ý. Chị rất chú trọng cái nhìn hiện thực
của mình- điềm tĩnh, cuộc sống diễn ra trước mắt như một cuốn phim
đang xem trong rạp” [ 51, 259].
Nguyễn Thị Minh Thái không đồng ý với Hồ Anh Thái gọi Lê Minh Khuê
là người đàn bà viễn thị: “Tôi nói với anh Thái rằng Khuê không hề viễn thị,
Khuê là người đàn bà thấu thị luôn nhìn cuộc sống, nhìn chiến tranh bằng
cặp mắt xuyên thấu, bên trong âm ỉ một tấm lòng nồng nhiệt [52].
Luận văn thạc sĩ Truyện ngắn Lê Minh Khuê của tác giả Mai Thị Thúy
Ninh đã chỉ ra những nguồn cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn Lê Minh
Khuê, trong đó có đề cập đến cảm hứng phê phán- phê phán sự tha hóa và lối
sống thực dụng, phê phán những bất ổn cơ chế... “Nhưng rồi hiện thực biến
động từng ngày có sức tác động mạnh mẽ đến ý thức nhà văn... Chị đã vạch
ra tình trạng tha hóa xuống cấp về đạo đức, hầu hết của nữ trong hoàn cảnh
hòa bình mà phôt biến nhất là lối sống thực dụng đang tràn lan dưới nhiều
dạng vẻ” [ 40, 29 ].

6



tinh thần khi đất nước chuyển đổi sang một xã hội tiêu thụ. Những vấn đề này
được thể hiện bằng một văn phong đẹp,chua xót, trang nghiêm”.
“Nhà văn Việt Nam luôn đau đáu còn nợ một món nợ chiến tranh, và Lê
Minh Khuê là một trong những nhà văn đang trả món nợ ấy bằng chính
những tác phẩm của mình…”[ 44, 39], nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên nói
về cuốn truyện vừa Nhiệt đới gió mùa của Lê Minh Khuê.
Nguyễn Hoài trong bài Nhà văn Lê Minh Khuê viết về chiến tranh bằng
những giọt nước mắt đăng trên báo An ninh thủ đô, số ra ngày 17/3/2013 đã
nhận thấy rất đúng đắn : Theo góc nhìn của nhà văn Lê Minh Khuê, cuộc
sống ngoài kia con người vẫn sử dụng bạo lực với nhau không chút đắn đo
suy nghĩ, ranh giới đạo đức bị mai một [ 24, 18].
Gặp gỡ Lê Minh Khuê, ta nhận thấy ở bà một con người hết sức giản dị
nhưng ẩn chứa một nội lực sống và làm việc mạnh mẽ, một bản lĩnh rất Lê
Minh Khuê. Bà tâm sự: “Tôi không có tham vọng dùng văn chương để cải
hóa bất cứ việc gì mà luôn coi nó là một trong muôn vàn công việc. Không
thể thiếu và không quá quan trọng, nhưng đã làm nhà văn nên nghĩ mình viết
lách sao cho như người thợ lành nghề, không được làm ẩu. Tôi rất ghét
những người đan lát, dối trá, chữ nghĩa cứ tuôn ra rào rào, in ấn ào ào,
không có thời gian đọc lại cái mình đã viết. Điều đó giống như tình trạng làm
hàng giả đang đầu độc cuộc sống” [ 28, 26 ].
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Những sáng tác của Lê Minh Khuê từ sau năm 1975.
3.2. Phạm vi tư liệu nghiên cứu
Chúng tôi giới hạn khảo sát cảm hứng thế sự trong truyện ngắn của Lê
Minh Khuê, chủ yếu là qua hai tập Một mình qua đường (là tập hợp các
truyện ngắn của bà trước năm 2006, do nhà văn cung cấp) và tập Nhiệt đới

8



9


Nhiệt đới gió mùa) thống kê và phân loại các vấn đề trong tác phẩm để thấy
được biểu hiện của cảm hứng thế sự cũng như phương thức thể hiện
5.3. Phương pháp phân tích tổng hợp
Phân tích những đặc điểm về cảm hứng thế sự, đời tư với những biểu hiện
và nghệ thuật thể hiện cảm hứng đó, tổng hợp kết quả phân tích để thấy được
biểu hiện cụ thể của cảm hứng thế sự, đời tư trong các sáng tác của Lê Minh
Khuê sau 1975 .
5.4. Phương pháp so sánh đối chiếu
Tiến hành so sánh các tác phẩm của Lê Minh Khuê trước và sau năm
1975, các tác phẩm của Lê Minh Khuê với các tác phẩm của các tác giả khác
để thấy được rõ nét cảm hứng thế sự trong các sáng tác của Lê Minh Khuê từ
sau năm 1975.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài hai phần MỞ ĐẦU và KẾT LUẬN, luận văn có bố cục gồm ba
chương như sau:
Chương I: CƠ SỞ HÌNH THÀNH CẢM HỨNG THẾ SỰ TRONG CÁC
SÁNG TÁC CỦA LÊ MINH KHUÊ SAU 1975
Chương II: NỘI DUNG THẾ SỰ TRONG CÁC SÁNG TÁC CỦA LÊ
MINH KHUÊ SAU 1975
Chương III: PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CẢM HỨNG THẾ SỰ
TRONG CÁC SÁNG TÁC CỦA LÊ MINH KHUÊ SAU 1975

10


NỘI DUNG


bao sự xô bồ, “ác hiểm” (chữ dùng của Ý Nhi). Điều này khiến cho các nhà
buộc phải tự điều chỉnh nhận thức về đời sống, thậm chí phải thay đổi triệt để,
để can đảm “ai điếu cho một giai đoạn văn học minh họa”. Lời kêu gọi “nhìn
thẳng sự thật, nói rõ sự thật” trong thời kì này vừa là một yêu cầu bức thiết
của hiện thực, đồng thời cũng là một nhu cầu tự thân, mang tính sống còn của
nghệ sĩ, nếu như không muốn sáng tác của họ bị bỏ lại đằng sau thực tại đời
sống mà chính họ đang tham dự và đối mặt.
Trên thực tế, đến những năm 80 của thế kỉ XX, sau những lúng túng tìm
đường, nhiều nhà văn thế hệ chống Mỹ đã nhanh chóng bứt ra khỏi từ
trường của “khoảng chân không văn học” (Nguyên Ngọc) để tiếp tục dấn
bước sáng tạo. Không hẹn mà gặp, trong sáng tác của nhiều tác giả này,
chẳng hạn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Lê Lựu, Chu
Lai…, cảm hứng sử thi dần được thay thế bằng cảm hứng nhân sinh, thế sự,
đời tư. Với nhu cầu nhận thức lại hiện thực, thay cho cái nhìn đơn tuyến và
đậm tính lí tưởng trước đây là một cái nhìn đa chiều, gai góc, đậm tính phê
phán. Cảm hứng này sẽ còn được tiếp tục đậm nét hơn, đa dạng hơn trong
sáng tác của các nhà văn thế hệ sau như Nguyễn Huy Thiệp , Phạm Thị Hoài,
Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Thị Thu Huệ… và không thể không kể
đến Lê Minh Khuê.
1.3. Con đường đến với văn chương và quan niệm sáng tác của Lê

Minh Khuê
1.3.1. Con đường đến với văn chương của Lê Minh Khuê
Lê Minh Khuê sinh ngày 06-12-1949, quê ở xã An Hải, huyện Tĩnh Gia,
tỉnh Thanh Hóa. Bà còn có một bút danh khác là Vũ Thị Miền.
Thời đại sớm gieo vào tâm hồn nữ nhà văn những dấu ấn không thể phai
mờ. Sinh ra trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trưởng thành trong
cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Lê Minh Khuê cũng như bao thanh niên


bồi dưỡng Thông tín viên do báo tổ chức...

16


Đầu năm 1969, thể theo yêu cầu của báo Tiền Phong, cơ quan Trung Ưng
của Đoàn Thanh niên lao động Việt Nam, cô thông tín viên Lê Minh Khuê đã
chuyển công tác từ đơn vị thanh niên xung phong về làm phóng viên của
báo... Rồi Lê Minh Khuê xung phong về Đài Phát thanh Giải phóng vào tận
chiến trường khu Năm. Năm 1975, nhà văn đi cùng một cánh quân vào giải
phóng thành phố Đà Nẵng. Sau đó, bà được chuyển về làm biên tập viên văn
nghệ Đài truyền hình Việt Nam.
Năm 1978, Lê Minh Khuê được chuyển sang làm biên tập viên văn học, ở
Nhà xuất bản Tác phẩm mới, nay là Nhà xuất bản Hội nhà văn Việt Nam.
Dường như đây là công việc phù hợp và giúp ích cho Lê Minh Khuê rất nhiều
như chính tâm sự của bà: Nghề biên tập viên đã làm chỗ dựa để có thể hết
mình với nghiệp văn [ 29, 21].
Hiện nay đã nghỉ hưu nhưng Lê Minh Khuê vẫn được tín nhiệm đảm
trách cương vị Chủ tịch Hội đồng văn xuôi Hội nhà văn Hà Nội, phó chủ
tịch Hội đồng văn xuôi Hội nhà văn Việt Nam. Và bà vẫn không ngừng
nghỉ tìm tòi, sáng tạo, tiếp tục cuộc hành trình trên con đường văn học mà
điều đáng ghi nhận là “sáng tác Lê Minh Khuê ngày càng đằm hơn và sâu
sắc hơn” [ 55, 29].
Các tác phẩm chính:
- Những ngôi sao xa xôi (1973).
- Cao điểm mùa hạ (1978).
- Một chiều xa thành phố (1986).
- Tôi đã không quên (1991).
- Bi kịch nhỏ (1993).
- Lê Minh Khuê truyện ngắn (1995).

Những nỗ lực của Lê Minh Khuê đã được ghi nhận với những giải thưởng
danh giá:

18


- Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1987 (Tập truyện ngắn: Một
chiều xa thành phố).
- Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2001 cho tập truyện ngắn
Trong làn gió heo may.
- Giải thưởng văn học mang tên văn hào Byeong-ju Lee của Hàn Quốc(1)
vào năm 2008 với tập Những ngôi sao, trái đất, dòng sông (The stars, the
earth, the river)- Nhà xuất bản Curbstone Press ấn hành ở Mỹ.
Và quan trọng hơn, đó chính là vị trí của Lê Minh Khuê trong lòng độc giả
với những “ấn tượng” sâu đậm bởi văn phong “lão luyện” (Tạ Duy Anh).
1.3.2. Quan niệm sáng tác của Lê Minh Khuê
Mười sáu tuổi, Lê Minh Khuê đã hăng hái tham gia thanh niên xung phong
rồi trở thành phóng viên chiến trường, xuôi ngược khắp các chiến trường, gắn
bó với những người lính. Bà là nhà văn trưởng thành từ cuộc kháng chiến
chống Mĩ và không khí thời đại đã thể hiện rõ nét trong những sáng tác đầu
tay của bà.
Trong thời kì chiến tranh, cũng như bao nhà văn cùng thời, Lê Minh Khuê
cũng say sưa với hình ảnh những người lính trong chiến đấu với cảm hứng
ngợi ca. Lê Minh Khuê từng kể lại: Tôi viết văn trong giai đoạn chiến tranh,
khi còn là thanh niên xung phong làm đường, lấp hố bom. Bom đạn cả ngày,
hai tai ù đặc, nhìn thấy người chết thường xuyên, nhưng hồi ấy tôi còn nhỏ
quá, không biết sợ là gì. Những bài báo, bút ký chiến trường tôi thường ngồi
trong hầm kê giấy lên đầu gối để viết, viết xong là gửi những người ra Bắc
mang giúp đến tòa soạn báo. Có cái đến được, có cái không. Tôi viết cho vui,
không ngờ lại là ám ảnh đam mê theo mình suốt đời. Tôi mãi có ấn tượng về

chủ đạo trong các sáng tác của Lê Minh Khuê. Bà viết với một niềm say mê
lạc quan, một niềm tin mãnh liệt: “ sau khi chiến tranh. Khi con đường chúng
tôi bảo vệ đây sẽ rải nhựa phẳng lì. Điện sẽ dăng dây vào rừng sâu và những
nhà máy gỗ sẽ đêm ngày không ngủ...Ba chúng tôi đều hiểu như vậy. Hiểu và
tin với một niềm tin mãnh liệt” [ 5, 169]. Niềm tin ấy không phải không có
căn cứ bởi những người lính ấy đã chiến đấu bằng tất cả con người, tuổi thanh

20


xuân, với sức mạnh vô địch: “ xe đi dăng hàng, thành khối trên đường, không
ánh đèn. Lá ngụy trang làm mối xe to ra gấp đôi. Đối với tôi, bao giờ những
đoàn xe ấy cũng vô tận, không có sức mà đếm. Dài. Nhiều. Khổng lồ.” (
Những ngôi sao xa xôi).
Từ sau 1975, tác phẩm của bà mở ra những chân trời hiện thực mới.
Không còn mải miết với cái đẹp hào hùng, các tác phẩm của Lê Minh Khuê
tập trung vào đề tài số phận con người trong xã hội – hay nói cụ thể hơn, tác
phẩm của bà hướng vào thế sự (và đời tư) một cách có ý thức sâu sắc. Với
khả năng nhìn đâu cũng ra truyện ngắn, từ những cái hằng ngày, bình thường,
lặt vặt, Lê Minh Khuê đều nâng chúng lên tầm triết lí nhân sinh sâu sắc mà ta
có thể gặp những cảnh người, cảnh đời, cảnh sống rất thật và gần gụi ngay
trong những trang truyện của Lê Minh Khuê sau 1975.
Trong sách Nhà văn Việt Nam hiện đại (Nhà xuất bản Hội Nhà văn,
1997) nữ văn sĩ Lê Minh Khuê tâm sự: "Văn chương như thể thao. Mỗi lần
nhảy qua được xà, nhà văn muốn đạt kỷ lục cao hơn chút nữa. Nhưng tôi lại
mong người ta cư xử với nhà văn như một ngôi sao sáng trong thể thao. Anh
ta có thể dừng lại ở mức nào đấy và hãy xem anh ta đã đạt được chiến
công.... Tôi cũng mê những người nhìn được bí mật của tương lai... Văn
chương sẽ sống cái sức sống tự nhiên của nó. Nhưng như tất cả mọi việc trên
đời này, văn chương cũng có giới hạn, có sự sáng lên, sự mất đi, có cái cao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status