LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến Cô giáo PGS.TS Lã
Thị Bắc Lý – người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành
Luận văn này.
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến với:
Các thầy giáo, cô giáo Khoa Giáo dục Mầm non; Ban giám hiệu; Phòng sau đại
học; Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập và nghiên cứu.
Ban Giám hiêu, Ban Chủ nhiệm khoa Tiểu học – Mầm non Trường cao đẳng sư
phạm Salavanh đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu.
Ban giám hiệu, tập thể giáo viên cùng các cháu mẫu giáo hai trường mầm non:
Trường tư thục Lào-Việt Nguyễn Du, xã Đông Pa Lẹp, Huyện Chan Thu Bu Ly,
Thủ đô Viêng Chăn và trường song ngữ Lào-Việt Khongsedon, xã Khong Nhay,
Huyện Salavanh, Tỉnh Salavanh đã tạo điều kiện thuận lợi giup tôi tiến hành
nghiên cứu để hoàn thành Luận văn.
Cảm ơn gia đình, anh chị em đồng nghiệp, bạn bè đã hết lòng giúp đỡ, khích lệ,
động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, tháng 10 năm 2016
Tác giả
Vanchay Bouakasy
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
MG: Mẫu giáo
MN: Mầm non
GVMN: Giáo viên mầm non
MTXQ: Môi trường xung quanh
TC: Tiêu chí
TN: Thực nghiệm
người xung quanh, đồng thời làm phong phú thêm đời sống tinh thần cho trẻ. Nó
là điều kiện phát triển tư duy, giúp trẻ tự tin, chủ động và tích cực hơn khi tham
gia vào các hoạt động ở trường mầm non cũng như hoạt động giao tiếp mọi lúc,
mọi nơi. Vì vậy, giáo dục mầm non coi việc hình thành và phát triển vốn từ là
một nhiệm vụ quan trọng trong nội dung giáo dục trẻ. Phát triển vốn từ là một
1
quá trình lâu dài, nó bao gồm hai mặt: tích lũy số lượng và nâng cao chất lượng
từ vựng.
Hoạt động khám phá môi trường xung quanh được coi là phương tiện
quan trọng để phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non. Mục tiêu của khám phá
MTXQ là: Giúp trẻ có những hiểu biết đơn giản, chính xác, cần thiết về các sự
vật, hiện tượng xung quanh; phát triển các kỹ năng nhận thức, kỹ năng xã hội và
hình thành cho trẻ thái độ sống tích cực trong môi trường, trong đó mục tiêu
phát triển kỹ năng là mục tiêu cơ bản.Trong hoạt động này giáo viên có thể lựa
chọn những đè tài, nội dung khám phá phong phú.Chính vì vậy mà thông qua
hoạt động này,trẻ được tiếp xúc với nhiều từ loại khác nhau hấp dẫn, khơi dậy
tính tò mò, phát triển tư duy, tình cảm và yếu tố thẩm mỹ. Nếu biết cách khai
thác để phát triển vốn từ cho trẻ thông qua khám phá môi trường xung quanh thì
không những vốn từ của trẻ được tăng lên, trẻ có khả năng sử dụng và cảm nhận
ngôn ngữ nghệ thuật tốt hơn mà còn phát triển đời sống tinh thần, giúp trẻ hiểu
biết thế giới xung quanh đa dạng và sâu sắc hơn để phát triển nhân cách một
cách toàn diện.
1.3. Ý nghĩa của việc dạy Tiếng Việt cho trẻ MG Lào: Trong thời đại công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, Việt Nam – Lào đã và đang thực hiện chính sách mở
cửa hội nhập với kinh tế thế giới. Mặc dù phải trải qua nhiều thử thách, nhưng
với quyết tâm khẳng định mình, Lào đã không ngừng học hỏi, không ngừng
vươn lên để lớn mạnh hơn, sánh vai với các nước trên thế giới và trong khu vực.
càng phát triển bấy nhiêu. Có rất nhiều biện pháp để phát triển ngôn ngữ cho trẻ
nhưng theo các nhà khoa học, một trong những biện pháp hữu hiệu và dễ dàng
sử dụng nhất đối với cô và trẻ là phương pháp quan sát vật thật, tranh ảnh, kể
truyện, thăm quan, hay tổ chức trò chơi cho trẻ. Những tư tưởng của bà còn
được nhiều nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam tiếp tục nghiên cứu và phát
triển như: M.M Kônxôva: “Dạy nói cho trẻ trước tuổi đi học”, L.P Pheedorencô:
“Phương pháp phát triển lời nói cho trẻ mẫu giáo”, A.P. Uxôva: “dạy học ở mẫu
giáo” . Tại Việt Nam, tác phẩm “Phát triển ngôn ngữ trẻ em trước tuổi đến
trường phổ thông” đã được lựa chọn để đem vào sử dụng như một tài liệu giảng
3
dạy chính thức trong các trường sư phạm MN từ những năm 70 của Thế kỉ XX
vẫn còn giữ nguyên giá trị đến ngày nay.
Các tác phẩm trên đều đã nghiên cứu và phát triển ngôn ngữ trẻ em về: ngữ
âm, từ vựng, ngôn ngữ mạnh lạc trước tuổi đi học để từ đó đề ra các nhiệm vụ,
phương pháp, biện pháp đề phát triển từng mặt. Bên cạnh đó, Kaka-hai-no-dich
trong tác phẩm: “dạy trẻ học nói như thế nào” cũng đề cập đến nhiều vấn đề dạy
trẻ học nói. Ông cho rằng “sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em trải qua các giai
đoạn từ thấp đến cao”. Ông đã đưa ra nhiều phương tiện, biện pháp và cách thức
giúp những bậc cha mẹ áp dụng trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày vào việc
dạy trẻ học nói và phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Ở Việt Nam, trong những thập niên gần đây đã và đang có rất nhiều cố gắng
trong nghiên cứu tiếng mẹ đẻ cho trẻ. Bên cạnh đó cũng đưa ra nhiều phương
pháp giáo dục thích hợp cho trẻ ở Việt Nam thông qua các công trình nghiên
cứu về phát triển ngôn ngữ cho trẻ của các tác giả như: Nguyễn Huy Cẩn,
Nguyễn Xuân Khoa, Đinh Hồng Thái, Lê Thị Ánh Tuyết, Lã Thị Bắc Lý, Ngô
Thu Thủy, Bùi Kim Tuyến, Lưu Thị Lan,… và rất nhiều tác giả khác nữa.
Tác giả Đinh Hồng Thái có thể nói là một trong những nhà nghiên cứu hàng
được quan tâm trong thời kỳ hội nhập quốc tế” ( Kỷ yếu hội thảo GVMN trong
thời kỳ hội nhập quốc tế), tác giả Lã Thị Bắc Lý đã đề cập đến việc phát triển
ngôn ngữ cho trẻ thuộc đối tượng đặc biệt về ngôn ngữ và văn hóa ( trẻ em
khuyết tật và trẻ dân tộc thiểu số). Tác giả khẳng định GVMN cần đặc biệt quan
tâm đến hai nhóm đối tượng này, nhất là quan tâm đến mặt ngôn ngữ để đảm
bảo quyền lợi và công bằng cho các em được đến trường phổ thông, được hưởng
thụ nền giáo dục về văn hóa của dân tộc và nhân loại.
Bài viết” Can thiệp lời nói và ngôn ngữ cho trẻ nhỏ: Một số kỹ năng cơ bản
trong việc xây dựng mục tiêu can thiệp” của tác giả Phạm Thị Bền đã bàn đến
môt số kỹ năng cũng như kỹ thuật cần thiết để xây dựng mục tiêu can thiệp lời
nói và ngôn ngữ cho trẻ thuộc đối tượng này.
Bên cạnh đó còn rất nhiều công trình nghiên cứu, luận án, luận văn, khóa
luận tốt nghiệp đề cập đến vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
5
Như vậy, việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một khoa học. Muốn phát triển
ngôn ngữ cho trẻ tốt nhất cần phải có sự định hướng, giáo dục từ người lớn.
Thành tựu của các công trình nghiên cứu trên chính là cơ sở, nền tảng góp phần
quan trọng trong việc giáo dục ngôn ngữ trẻ em nói riêng và giá trị của ngôn ngữ
nói chung góp phần phát triển toàn diện nhân cách trẻ.
2.2 Các công trình nghiên cứu về phát triển vốn từ tiếng Việt cho trẻ mẫu
giáo Lào
Các công trình nghiên cứu về vấn đề phát triển vốn từ tiếng Việt cho trẻ mẫu
giáo Lào gần như không có. Giáo viên mầm non của Lào hầu như giảng dạy
bằng kinh nghiệm của bản thân mình.
3. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng một số biện pháp phát triển vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 5 – 6
tuổi lớp MG song ngữ Lào – Việt thông qua hoạt động khám phá môi trường
tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh
6.3.
Đề xuất một số biện pháp phát triển vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 5 – 6
tuổi ở lớp MG song ngữ Lào – Việt thông qua hoạt động khám phá
môi trường xung quanh
6.4.
Tổ chức thực nghiệm nhằm đánh giá hiệu quả của các biện pháp đã đề
xuất
7. Phạm vi nghiên cứu
7.1.
Phạm vi về trẻ
Trẻ 5- 6 tuổi tại Lào, lớp MG song ngữ Lào – Việt
7.2.
Phạm vi về khám phá môi trường xung quanh
Môi trường xung quanh rất đa dạng nên có nhiều chủ đề như động vật,
thực vật, đất, nước, không khí, …Trong phạm vi đề tài này, tôi xin phép
trọng tâm chủ đề “Thực vật”
7.3.
Phạm vi về hoạt động
Trong luận văn tôi chủ yếu phát triển vốn từ cho trẻ thông qua hoạt động
5 – 6 tuổi ở lớp MG song ngữ thông qua hoạt động khám phá môi trường xung
quanh.
8.2.3. Phương pháp quan sát
Quan sát cô và trẻ trong quá trình giáo viên tổ chức hoạt động cho trẻ khám phá
môi trường xung quanh để thu thập những thông tin cần thiết.
8.2.4. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Phân tích và đánh giá giáo án của giáo viên.
8.3.
Nhóm phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê
Chúng tôi ứng dụng toán thống kê vào việc xử lý các số liệu thu thập được để từ
đó đưa ra những đánh giá, nhận xét một cách chính xác và khách quan.
9. Đóng góp của đề tài
• Về lý luận: Xây dựng cơ sở lý luận về việc phát triển vốn từ Tiếng Việt cho
trẻ 5 – 6 tuổi ở lớp MG song ngữ thông qua hoạt động khám phá môi trường
xung quanh.
• Về thực tiễn:
+ Làm rõ thực trạng phát triển vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 5 – 6 tuổi ở lớp
MG song ngữ Lào – Việt thông qua hoạt động khám phá môi trường
xung quanh, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế đồng thời phân tích
nguyên nhân của thực trạng đó.
+ Xây dựng một số biện pháp phát triển vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 5 – 6
tuổi ở lớp MG song ngữ thông qua hoạt động khám phá môi trường
xung quanh.
10. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu thamk khảo, nội dung
chính của luận văn gồm có ba chương:
8
nhà khoa học đã chối bỏ khái niệm “từ” hoặc nếu thừa nhận thì họ cũng tránh
đưa ra một khái niệm chính thức.
Trong các định nghĩa hiện có thì định nghĩa của Giáo sư Đỗ Hữu Châu –
nhà nghiên cứu từ vựng tiếng Việt là bao quát hơn cả. “Từ của tiếng Việt là một
hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp cố định,
nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất
để tạo câu”.
Định nghĩa trên đã khái quát được các đặc điểm cơ bản của từ tiếng Việt, đó là:
10
- Từ tiếng Việt là một âm tiết như: đi, cây, bố, mẹ… từ tiếng Việt có một số âm
tiết như: chủ nghĩa xã hội, hợp tác xã, xinh đẹp… Từ tiếng Việt cố định, bất biến
về hình thức ngữ âm.
- Mỗi từ tiếng Việt mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định. Đó là đặc điểm
về khả năng kết hợp với các từ khác, khả năng đảm nhiệm những chức vụ ngữ
pháp trong câu…
- Mỗi từ tiếng Việt nằm trong một kiểu cấu tạo nhất định: không là từ đơn thì là
từ láy, từ ghép.
- Các từ thuộc cùng một kiểu cấu tạo sẽ có cùng một kiểu ý nghĩa. Ví dụ: từ
ghép đẳng lập có nghĩa mang tính khái quát (ví dụ: học tập, ăn uống, nhà cửa,
bàn ghế…), từ ghép chính – phụ có nghĩa mang tính phân loại (ví dụ: xanh lơ,
máy bay, cá voi…)
- Từ là đơn vị lớn nhất trong tiếng Việt vì không đơn vị ngôn ngữ nào có sẵn mà
lại lớn hơn từ. Với tư cách là đơn vị tạo câu thì từ được coi là đơn vị nhỏ nhất.
1.1.2 Chức năng của từ Tiếng Việt
Từ có các chức năng sau: chức năng biểu danh, chức năng biểu niệm và
chức năng biểu cảm.
Chức năng biểu danh (còn gọi là chức năng biểu vật): là chỉ vật được nói tới.
Trong bài viết "Về một cách hiểu ý nghĩa các từ loại trong tiếng Việt" của
Đinh Văn Đức cho rằng: Trong bản thân ý nghĩa của mỗi từ loại, thực từ bao
giờ cũng chứa đựng sự thống nhất của các nhân tố "từ vựng" và nhân tố "ngữ
pháp".
Thực từ là từ có "nghĩa thực" (hoặc nghĩa từ vựng) về sự vật, hiện tượng,
loại nghĩa mà nhờ nó có thể làm được sự liên hệ giữa các từ với sự vật, hiện
tượng nhất định. Ví dụ: cơm, bánh, ăn, sản xuất, ngon, giỏi, tích cực... Thực từ
có thể dùng làm phần đề và phần thuyết trong một nòng cốt câu. Với hai thực từ
đã có thể cấu tạo được một nòng cốt câu đơn theo "Ngữ pháp tiếng Việt" của Ủy
ban Khoa học xã hội Việt Nam.
Giáo trình “Tiếng Việt và tiếng Việt thực hành” của nhóm tác giả: Lã Thị
Bắc Lý, Phan Thị Hồng Xuân, Nguyễn Thị Thu Nga đã phân chia từ loại tiếng Việt
12
gồm: thực từ, hư từ và lớp từ trung gian. Đề tài của chúng tôi chỉ quan tâm tới lớp
thực từ.
Thực từ gồm các từ loại: danh từ, động từ, tính từ, số từ.
-
Danh từ có ý nghĩa khái quát chỉ sự vật ( sự vật được hiểu theo nghĩa
khái quát nhất: đồ vật, động vật, cây cối, con người...)
Danh từ có khả năng kết hợp với các từ chỉ số lượng ở trước và từ chỉ
định ở sau để tạo nên cụm danh từ mà nó là thành tố trung gian.
Danh từ có khả năng đảm nhiệm thành phần chính và thành phần phụ
trong câu.
Danh từ được chia thành các tiểu loại như sau : danh từ riêng, danh từ
chung.
Số từ có khả năng kết hợp với danh từ làm thành tố phụ chỉ số lượng sjw vật
hoặc chỉ thứ tự sự vật.
Trong câu, số từ cũng có khả năng độc lập thực hiện chức vụ của các thành phần
câu như làm vị ngữ nhưng rất hạn chế.
1.2 Vốn từ
1.2.1 Khái niệm vốn từ
Vốn từ là số lượng từ hay còn gọi là từ vựng. Đó là tập hợp các từ và cụm
từ cố định. Vốn từ vựng của ngôn ngữ bao gồm nhiều lớp từ, nhiều nhóm từ
không đồng nhất và có chất lượng khác nhau. Vốn từ bao gồm các cơ cấu từ loại
như: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ... Trong vốn từ vựng của một số
ngôn ngữ đều có những từ cũ và mới, những từ phổ biến, từ địa phương, từ
chuẩn mực và những từ vạy mượn, từ chuyên môn.
Số lượng từ trong Tiếng Việt vô cùng lớn. Vốn từ của một ngôn ngữ là tổng số
và hệ thống hóa toàn bộ từ và cụm từ cố định của ngôn ngữ đó. Vốn từ vựng của
một ngôn ngữ bao gồm nhiều lớp từ, nhiều nhóm từ không đồng nhất và có chất
lượng khác nhau. Vốn từ bao gồm từ mới, từ cũ, từ phổ thông, từ địa phương, từ
chuẩn mực, từ vay mượn, từ chuyên môn.
Đối với mỗi cá nhân khác nhau thì có Vốn từ khác nhau, vốn từ này phụ
thuộc vào độ tuổi, sự phát triển trí tuệ, nhận thức và văn hóa của từng cá nhân.
Vốn từ của trẻ 4 tuổi có khoảng 1035 từ, trẻ 5 tuổi có 1204 từ, trẻ 6 tuổi 1423 từ.
Vốn từ của người có trình độ văn hóa cao khoảng 6000-9000 từ, nhà thiên tài
xấp xỉ 20.000 từ.
Dựa vào tần xuất sử dụng từ trong đời sống xã hội, người ta phân chia vốn
từ thành hai loại: vốn từ tích cực và vốn từ thụ động.
Vốn từ tích cực là vốn từ được con người hiểu và sử dụng trong hoạt động
giao tiếp.
14
Vốn từ thụ động là những từ con người mới lĩnh hội, chưa hiểu rõ nghĩa
bình quân đến 1.204 từ; tính từ và các loại từ khác đã chiếm một tỉ lệ cao hơn.
Trẻ 6 tuổi có 1.423 từ. Hầu hết các loại từ đã xuất hiện trong vốn từ của trẻ.
Những trẻ có số lượng từ nhiều thường là những trẻ có điều kiện sống tốt hơn,
được kết hợp bởi các yếu tố như: bố mẹ có trình độ văn hóa, trẻ thường xuyên
được tiếp xúc bằng ngôn ngữ với mọi người xung quanh. Sự chênh lệch về số
lượng từ của trẻ trong cùng một năm ở trẻ dưới 3 tuổi lớn hơn nhiều so với trẻ từ
5– 6 tuổi. Do vậy, ở trẻ 5 – 6 tuổi sự khác biệt trong vốn từ của trẻ về cơ bản đó
là khả năng và trình độ sử dụng vốn từ vào các nội dung và hoàn cảnh khác
nhau. Điều này liên quan đến khả năng hiểu nghĩa từ cũng như trình độ nhân
thức, trình độ tư duy của trẻ.
Về khả năng hiểu nghĩa của từ ở trẻ diễn ra với nhiều mức độ khác nhau,
nó phụ thuộc vào độ tuổi và khả năng nhận thức của trẻ, nhất là khả năng khái
quát hóa. Trẻ 5 – 6 tuổi có khả năng hiểu nghĩa của nhiều từ loại khác nhau,
không chỉ là những từ biểu thị các sự vật, hành động, tính chất cụ thể mà còn
hiểu được những từ mang tính chất trừu tượng, biểu cảm. Do vậy, trẻ có khả
năng sử dụng đúng từ ngữ với nghĩa mà từ biểu thị trong những hoản cảnh cụ
thể. Tuy nhiên, trẻ 5 – 6 tuổi là thời kỳ tiếp thu và sử dụng từ. Đôi khi có trường
hợp trẻ nhớ được từ nhưng chưa hiểu được nghĩa của từ trong các hoản cảnh
giao tiếp nên sử dụng chưa đúng với nghĩa của nó trong câu.
Ở tuổi mẫu giáo, trẻ phải nắm được một số vốn từ cần thiết đủ để cho
chúng giao tiếp được với bạn bè, người lớn, tiếp thu các tri thức ban đầu trong
trường MN, chuẩn bị học tập ở trường phổ thông hay xem các chương trình
truyền hình, truyền thanh, tham gia các sinh hoạt xã hội gần gũi với đời sống của
trẻ. Vì thế, giáo dục học mẫu giáo coi việc hình thành vốn từ là một nhiệm vụ
quan trọng trong nội dung giáo dục trẻ. Phát triển vốn từ là một quá trình lâu dài
của việc lĩnh hội vốn từ mà con người đã lĩnh hội được trong lịch sử. Trong
hoàn cảnh khác nhau, điều kiện khác nhau thì sự tiếp xúc của trẻ với con người
và sự vật, hiện tượng xung quanh khác nhau sẽ dẫn đến mức độ và khả năng sử
dụng từ của trẻ là khác nhau. Những trẻ được giáo dục chu đáo, được tiếp xúc
nhất là sự hình thành và phát hiện tư duy con người. Do vậy, khi ta tiến hình
những tác động sư phạm ở giai đoạn 5 – 6 tuổi không thể đòi hỏi trông thấy
17
ngay được sự phát triển về chất trong việc trẻ lĩnh hội, sử dụng vốn từ nói riêng
và tiếp thu ngôn ngữ nói chung mà chúng ta phải tiến hành một cách từ từ, kiên
trì tránh gây cho trẻ những căng thẳng, áp lực. Mặt khác, trẻ từ 1 – 6 tuổi là thời
kỳ đang hình thành và phát triển ngôn ngữ với các bước phát triển về mặt ngữ
âm, từ vựng, ngữ pháp. Ở độ tuổi này trẻ có một số lượng từ nhất định và nó
được tăng lên theo độ tuổi. Trong quá trình dạy trẻ có thể dựa vào đặc điểm tư
duy, nhận thức và vốn từ hiểu biết của trẻ để làm giàu vốn từ cho trẻ thông qua
các hoạt động khác nhau. Để phát triển vốn từ cho trẻ thì chúng ta chỉ nên dừng
lại ở việc tạo hứng thú, yêu thích việc nghe – nói để từ đó trẻ có ý thức sử dụng
ngày càng nhiều vốn từ của mình.
Vốn từ là điều kiện, phương tiện quan trọng để phục vụ cho hoạt động
giao tiếp của trẻ. Không có một vốn từ đầy đủ thì không thể nắm ngôn ngữ như
một phương tiện giao tiếp. Nó thể hiện ở chỗ người nói có thể diễn đạt, miêu tả
một cách sinh động, cụ thể, chính xác, logic các sự vật, hiện tượng làm cho
người nghe cảm thấy bị lôi cuốn và dễ dàng hiểu được ý của người nói. Mọi sự
vật, hiện tượng trở nên có hồn hơn dưới tác dụng tích cực của ngôn ngữ, bởi khi
vốn từ phong phú người nói có thể dễ dàng lựa chọn và sử dụng từ ngữ một cách
phù hợp, linh hoạt và sáng tạo trong hoạt động giao tiếp làm cho lời nói của
mình thêm sinh động, biểu cảm và sắc bén hơn. Ngược lại, nếu vốm từ nghèo
nàn thì người nói sẽ gặp khó khăn trong việc lựa chọn từ ngữ phù hợp với hoàn
cảnh giao tiếp. Sự linh hoạt, sáng tạo và biểu cảm trong lời nói cũng khó có thể
đạt tới một cách dễ dàng. Cho nên vốn từ nghèo nàn có ảnh hưởng rất lớn đến
hiệu quả của hoạt động giao tiếp, không gây được ấn tượng cũng như sự chú ý
đặc biệt đối với người nghe, đôi khi còn mang cảm giác khó hiểu cho người
nghe hoặc cũng có thể làm cho người nghe hiểu nhầm ý của người nói.
mỗi sáng, nhưng trái lại cũng có rất nhiều em có tâm lý sợ tới trường. Mặc dù ở
đó có bạn bè để chơi, có thầy cô, nhưng với các em, vẫn luôn sợ tới lớp. Thậm
trí có những em nhỏ thường kêu với bố mẹ đau bụng vào sáng thứ 2, tuy nhiên
triệu chứng này của các em cũng nhanh biến mất nếu như cha mẹ cho phép nghỉ
học ở nhà buổi hôm đó. Rõ ràng đó là những dấu hiệu tâm lý của trẻ em sợ đi
học. Nguyên nhân chính đó là các em chưa tìm thấy hứng thú trong việc đi học,
19
hoặc cảm thấy sợ cô giáo, sợ bị bạn bắt nạt….Những em nhỏ nào có hứng thú
với việc đi học ở trường mầm non thì trong kí ức của các em sau này, trường
mầm non là một thế giới tuyệt vời, và rất nhiều kỉ niệm đẹp.
Cũng trong giai đoạn này trẻ em có hứng thú với việc khám phá thế giới
xung quanh, tò mò và liên tục thắc mắc các vấn đề với cha mẹ. Nếu cha mẹ hiểu
được tâm lý của con, và định hướng sẽ có thể đem lại nhiều hiệu quả tích cực.
Ở giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi, trí tưởng tượng của trẻ phát triển mạnh và
phần lớn thời gian của trẻ là chơi đùa. Trẻ chơi mà học và học mà chơi.
Chúng tự nghĩ ra những trò chơi và chơi mãi không chán, đôi khi quên cả đi
vệ sinh. Trẻ con ở lứa tuổi này không thích những trò chơi phức tạp, nhiều
quy tắc. Những trò chơi ngắn sẽ thích hợp với trẻ ở lứa tuổi này vì khoảng
thời gian chú ý, tập trung của trẻ không kéo dài. Trẻ thường bắt chước theo
các nhân vật trên phim, kịch. Nhiều lúc cha mẹ sẽ cảm thấy vui vui vì nghe
chúng lặp lại nguyên văn lời thoại các nhân vật mà chúng yêu thích. Chúng ca
hát, múa, uốn éo thân hình như các ca sĩ, người mẫu trên ti vi trông rất ngộ
nghĩnh và đáng yêu làm sao.
Trẻ mẫu giáo ở Lào luôn muốn là trung tâm chú ý của người lớn. Khi trẻ
làm được việc gì mà trẻ cho là rất “xuất sắc” nhưng với người lớn thì họ cho
rằng rất bình thường, trẻ thường cáu giận, quấy khóc cho đến khi được người
khác công nhận.Trẻ không thích bị chê trong tuổi này và rất dễ tủi thân, hay
vùng vằng, làm mình mẩy để được dỗ dành. Hiểu được tâm lý của trẻ giai đoạn
Hiện nay tiếng Lào được 2 'trường phái' khác nhau phiên âm, một là do
các Hiệp hội Văn hóa Hữu nghị Lào - Việt thực hiện thì họ phiên sang âm tiếng
Việt vì tiếng Việt gần như có khá đầy đủ các bộ âm chuẩn mà không thể phát âm
sai được.
Một trường phái khác là phiên âm sang hệ ngữ Latinh nhưng rất lung
tung, cũng giống như tiếng Thái khi phiên âm sang hệ ngữ Latinh thì người ta dễ
nhầm lẫn giữa các Phụ âm như 'p' có thể bị đọc thành 'f' mà cũng có thể bị đọc
thành 'ph', 't' thì cũng có thể bị đọc thành 't' mà cũng có thể thành 'th'... ngoài ra
21
sự hợp ngữ giữa các Nguyên âm cũng bị phiên rất lung tung nên khó mà đọc
chuẩn xác nếu căn cứ theo phiên âm Quốc tế.
Vì vậy, phiên âm theo tiếng Việt là cách phiên âm chuẩn nhất đối với
tiếng Lào và tiếng Thái nói chung (mặc dù có nhiều bộ âm của Lào và Thái
không thể phiên âm sang tiếng Việt được nhưng vẫn đạt được khoảng 85-90%
so với tiếng Lào và khoảng 70-75% so với tiếng Thái thì dù sao vẫn tin cậy hơn
là phiên sang các Hệ ngữ Quốc tế khác).
Chính vì vậy, nếu học tiếng Lào và tiếng Thái qua các Ngôn ngữ khác thì
sẽ cực kỳ khó khăn bởi các ngôn ngữ khác không có thanh điệu và âm ngữ của
các nước khác thường bị biến đổi khó phù hợp với các quy tắc của tiếng Thái và
tiếng Lào.
1.3.3 Ý nghĩa của việc phát triển vốn từ tiếng Việt cho trẻ 5 – 6 tuổi ở lớp MG
song ngữ Lào – Việt
Ngoại ngữ, hay ngôn ngữ thứ hai là thứ tiếng được phát triển có thể sau,
có thể đồng thời với ngôn ngữ được nói nhiều nhất trong gia đình hay cộng đồng
chúng ta đang sống. Học Tiếng Việt hay bất cứ ngoại ngữ nào với trẻ nhỏ là làm
quen với ngôn ngữ thứ hai qua nhiều hình thức, hoạt động phù hợp với nhận
thức, cảm xúc, kỹ năng, nhu cầu sử dụng ngôn ngữ của từng lứa tuổi để ngôn