Một số giải pháp giáo dục học sinh phát triển toàn diện trong công tác chủ nhiệm ở trường THCS - Pdf 41

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI

TRƯỜNG THCS XUÂN LA
-------------------------------

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH PHÁT
TRIỂN TOÀN DIỆN TRONG CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM
Ở TRƯỜNG TRUNG HOC CƠ SỞ

Lĩnh vực: Công tác chủ nhiệm lớp
Tên tác giả: Hoàng Thị Thu
GV môn: Ngữ văn

1


NĂM HỌC 2011-2012

2


MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ
NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM Ở TRƯỜNG THCS HIỆN NAY
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN
TRONG CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

10
10
11
13
14
16
17
17
21
21
24
26
26
28
29

3


ĐẶT VẤN ĐỀ
"Nếu người kỹ sư vui mừng nhìn thấy cây cầu mà mình vừa mới xây
xong, người nông dân mỉm cười nhìn đồng lúa mình vừa mới trồng, thì người
giáo viên vui sướng khi nhìn thấy học sinh đang trưởng thành, lớn lên."
(Gôlôbôlin).
Khoa học giáo dục đã chứng minh, các em học sinh (HS) trong quá trình
hình thành nhân cách luôn luôn chịu tác động bởi ba yếu tố: Gia đình - Nhà
trường - Xã hội. Mỗi yếu tố có chức năng riêng nhưng lại có quan hệ chặt chẽ,
bổ sung hỗ trợ cho nhau. Giáo viên chủ nhiệm (GVCN) nằm trong yếu tố nhà
trường. Ở gia đình, bố mẹ là người nuôi dưỡng con từ khi còn “trứng nước” nên
bố mẹ là người rất hiểu tính nết, sở thích, sức khỏe... của con mình. Nhưng

Thực tiễn là như vậy, để đạt được kết quả tốt trong công tác chủ nhiệm,
đòi hỏi giáo viên phải thực sự yêu nghề mến trẻ. Có như thế mới dồn hết công
sức, tâm trí để tìm tòi, nghiên cứu và đưa ra các biện pháp giáo dục thích hợp
với HS lớp mình chủ nhiệm. Để từ đó có phương pháp chủ nhiệm có hiệu quả
nhất. Công tác chủ nhiệm của một giáo viên thành công đồng nghĩa với việc
giúp các em hoàn thiện mình hơn biết rèn đức luyện tài, xây dựng được tập thể
lớp vững mạnh, đưa nhà trường ngày càng tiến lên. Vì vậy, để góp phần cùng
với Nhà trường trong công tác giáo dục HS tốt hơn nữa, công tác chủ nhiệm ở
trường phổ thông nói chung và THCS nói riêng cần phải có những biện pháp
phù hợp.
Trong lĩnh vực giáo dục người thầy không chỉ có lòng “yêu nghề mến trẻ”
đem hết nhiệt tình để truyền đạt kiến thức cho HS mà quan trọng hơn nữa là
phải có một biện pháp, làm thế nào để HS có ý thức học tập và đi vào nề nếp
hơn. Muốn HS tiếp thu được tri thức mới, người GVCN phải có biện pháp giúp
các em có ý thức học tập chủ động tiếp thu kiến thức, hăng say thi đua trong học
tập, nhiệt tình trong hoạt động phong trào tập thể. Để làm được điều đó không
phải là việc đơn giản.

5


Như vậy, công tác chủ nhiệm đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc
giáo dục HS nói chung và HS THCS nói riêng phát triển toàn diện. Qua thực tế
làm công tác chủ nhiệm đã được nhiều năm, tôi xin trình bày “Một số giải pháp
giáo dục học sinh phát triển toàn diện trong công tác chủ nhiệm ở trường
THCS” để chia sẻ cùng các bạn đồng nghiệp.

6




và bảo vệ quyền lợi chính đáng của HS lớp mình phụ trách. Được gọi HS cá biệt
đến nơi làm việc để giáo dục HS và mời phụ huynh HS đến trường để phối hợp
giáo dục khi cần thiết. Giáo viên chủ nhiệm là người chủ chốt của nhà trường
làm công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho HS…
II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM Ở TRƯỜNG THCS HIỆN NAY
Trong những năm gần đây, sự phát triển kinh tế - xã hội đã mang lại
không ít những thuận lợi cho công tác chủ nhiệm trong nhà trường:
- Sự quan tâm đầu tư của Đảng, nhà nước cùng với sự hỗ trợ tích cực từ
phía xã hội. Cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục của nhà trường ngày một
khang trang, đầy đủ, đảm bảo cho việc dạy và học.
- Mô hình ít con, kinh tế ngày càng được cải thiện đã tạo thuận lợi cho trẻ
em được quan tâm và chăm sóc tốt hơn.
- Bên cạnh đó, sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đặc biệt
là công nghệ thông tin đã hỗ trợ cho giáo viên và phụ huynh trong việc liên lạc,
trao đổi, nắm bắt nhanh những thông tin cần thiết trong việc phối hợp giáo dục
đồng thời hỗ trợ tích cực cho hoạt động dạy của giáo viên trong những giờ lên
lớp và trong những hoạt động tập thể khiến HS thấy hứng thú hơn. Sự phối kết
hợp giữa các tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường ngày càng trở nên chặt
chẽ.
- Đại đa số các em ngoan, lễ phép kính trọng thầy cô giáo, đoàn kết với
bạn bè. Nhìn chung các em có tinh thần ham học, được gia đình quan tâm đúng
mức. Các tổ chức Đội trong nhà trường đã phối kết hợp tốt trong việc giáo dục
đạo đức cho HS, cán bộ Đội thật sự năng nổ, nhiệt tình, gương mẫu, có tinh thần
trách nhiệm cao trong công việc. Đôi ngũ cán bộ của lớp có ý thức, tinh thần
trách nhiệm, luôn gương mẫu trong mọi hoạt động, lớp có thức tự quản tốt, là
một tập thể đoàn kết và có hướng phấn đấu tốt.

8



Hơn nữa, công tác chủ nhiệm chủ yếu là kiêm nhiệm, thực tế hiện nay
chưa có một khoá đào tạo chính thức nào cho GVCN. Chính vì vậy, không
nhiều GVCN thực sự có năng lực làm chủ nhiệm mà chủ yếu bằng kinh nghiệm
của bản thân, cộng với trao đổi học hỏi trong nhà trường. Bên cạnh đó, số tiết
dành cho GVCN còn quá ít, chỉ bốn tiết trên tuần, chưa tương xứng công sức
giáo viên đầu tư vào công tác chủ nhiệm, dẫn đến nhiều giáo viên chưa hăng say
với công tác chủ nhiệm. Ngoài ra nội dung chương trình giảng dạy còn nặng về
kiến thức thuần tuý, số tiết giành cho giáo dục công dân, giáo dục đạo đức HS
còn quá ít, trong khi xã hội ngày càng phát triển. Hơn nữa ở lứa tuổi này, tâm
sinh lí của các em đang phát triển. Chính vì điều đó các em ngày càng có nhiều
nhu cầu hiểu biết, tìm tòi, bắt chước, thích giao lưu, đua đòi, thích sự khẳng
định mình..., trong khi kiến thức về xã hội, gia đình, sự hiểu biết về pháp luật
còn hạn chế, nên chiều hướng HS hư, lười học, hiện tượng bỏ giờ, trốn tiết, vi
phạm pháp luật, vi phạm đạo đức ngày càng có xu thế gia tăng.
Đó là khó khăn về mặt khách quan gây cản trở cho những người làm công
tác chủ nhiệm lớp. Tuy nhiên, về mặt chủ quan cũng phải nhìn nhận những thiếu
sót về phía đội ngũ GVCN. Một bộ phận giáo viên chưa thật nhiệt tình, một
phần do công việc giảng dạy chiếm nhiều thời gian, hiệu quả công tác chủ
nhiệm ít nhiều bị ảnh hưởng. Một thiếu sót khác là nhiều GVCN tiến hành công
việc khá cảm tính, chưa có phương pháp chủ nhiệm sáng tạo thích hợp. Có
người quá nghiêm khắc, có người quá dễ dãi. Người nghiêm khắc gò ép HS theo
khuôn khổ một cách máy móc. Và như thế, về mặt tâm lí, cả giáo viên và HS
đều như bị áp lực. Người dễ dãi thì lại buông lỏng công tác quản lí, thiếu quan
tâm sâu sát. Thực tế, nhiều khi giữa thầy, cô giáo chủ nhiệm và HS không phải
bao giờ cũng tìm được tiếng nói chung.
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN
CỦA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM Ở TRƯỜNG TRUNG HOC CƠ SỞ

10

11


sinh lí, nhu cầu, nguyện vọng, ước mong, khả năng trình độ của HS, nắm vững
hoàn cảnh sống, những tác động của gia đình, mối quan hệ xã hội, bạn bè của
HS,... Tôi đã cố gắng tìm hiểu HS thông qua nhiều biện pháp. Cụ thể như sau:
- Tìm hiểu HS qua các tài liệu liên quan: Xem học bạ, sơ yếu lí lịch, bản
tự nhận xét thông tin cá nhân của HS, nhận xét của GVCN cấp Tiểu học. Đây là
tài liệu đáng tin cậy ban đầu giúp tôi nhận biết và phân loại HS.
- Tìm hiểu HS thông qua quan sát trực tiếp: Quan sát trực tiếp HS hằng
ngày trong các hoạt động trên lớp, ngoài lớp để biết hành vi thái độ HS. Đây là
tài liệu sống, qua đó tôi cố gắng tìm ra những nét cá tính nhất của từng em. Tôi
quan sát lớp chủ nhiệm cả trong giờ ra chơi xem em nào nghịch thái quá, em
nào từ tốn, hiền lành,…Khi trên đường vào dạy lớp khác tôi cũng đi ngang qua
lớp chủ nhiệm để giám sát, nếu thấy những sai phạm của HS thì nhắc nhở kịp
thời.
- Tiến hành những thử nghiệm tìm hiểu HS: Đây là cách làm giúp cho
người GVCN có thể thu được thông tin về một hay nhiều vấn đề cần làm sáng
tỏ. Những thử nghiệm này là những bài tập tình huống đã được xây dựng về một
vấn đề nào đó để HS có dịp bộc lộ mình. Chẳng hạn có thể đưa ra tình huống
hoặc cho HS trả lời nhanh vào phiếu in sẵn một số câu hỏi về vấn đề định tìm
hiểu. Ví dụ: Tìm hiểu về thái độ của HS đối với gia đình, ước mơ, nguyện vọng
của cá nhân, mục đích học của các em, vv… bằng những câu hỏi đơn giản. Kết
quả thử nghiệm sẽ giúp GVCN lớp có thể nắm bắt được thêm những thông tin
mới, bổ sung cho những nhận định của mình về HS đồng thời giúp chúng ta
hiểu các em hơn, để từ đó giáo viên có thể sẻ chia, động viên hoặc điều chỉnh
kịp thời những suy nghĩ lệch lạc của các em.
3. Giáo dục học sinh tính tự giác, thực hiện nội quy của trường, lớp
Công việc này ban đầu khá vất vả, GVCN có thể phải thường xuyên đến
lớp vào đầu buổi học, giữa các tiết và cuối buổi học để uốn nắn kịp thời những

năm học và tính chất phát triển của tập thể HS. Nhiều GVCN chỉ căn cứ vào
một số tiêu chuẩn cán bộ lớp như học giỏi, đạo đức tốt, rất ít GVCN dựa vào đặc
13


điểm của quá trình phát triển của tập thể để xây dựng cấu trúc đội ngũ tự quản.
Nên căn cứ vào ba giai đoạn phát triển của tập thể lớp mà lựa chọn đội ngũ tự
quản. Ví dụ: ở giai đoạn đầu (tập thể mới hình thành) rất cần có một lớp trưởng,
lớp phó kỉ luật biết hi sinh, có uy tín, biết quan tâm đến người khác, gương mẫu,
biết cảm hoá các bạn..., không nhất thiết phải là HS học giỏi nhất lớp. Nhưng
sang giai đoạn hai và ba (khi tập thể đã phát triển) rất cần có “thủ lĩnh” năng
động, sáng tạo, luôn tìm tòi nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động
mọi mặt để cuốn hút các bạn. GVCN nên lấy hoạt động chiều sâu của nội dung
học tập, hoạt động ngoại khoá, văn hoá xã hội làm phương tiện giáo dục tập thể,
rèn luyện năng lực tự quản, thái độ, tình cảm và hành vi của HS (Như: Lớp phó
học tập, lớp phó văn thể mỹ, lớp phó đời sống). Để phát huy vai trò cố vấn,
GVCN cần có năng lực dự báo chính xác khả năng của từng HS trong lớp, biết
khơi gợi tiềm năng sáng tạo của các em trong việc đề xuất các nội dung hoạt
động, xây dựng kế hoạch hoạt động toàn diện phù hợp với nhiệm vụ và điều
kiện của mỗi tháng, mỗi học kì của từng năm học. GVCN chỉ là người giúp HS
tự tổ chức các hoạt động đã được kế hoạch hoá. Điều đó không có nghĩa là
GVCN khoán trắng, đứng ngoài hoạt động của tập thể lớp học mà nên cùng hoạt
động, điều chỉnh hoạt động, kịp thời giúp các em tháo gỡ những khó khăn trong
quá trình hoạt động.
Ngoài ra, GVCN cần tạo hứng thú trong công việc, tạo sự đoàn kết nhất
trí cao trong Ban cán sự để làm sao các em cũng phải biết làm việc “hết mình”,
biết phấn đấu vì tập thể và biết tự giác, chủ động điều hành lớp ngay cả khi
không có GVCN. Sử dụng phiếu giao việc cũng là một hình thức tạo cho HS
phát huy tính tự giác, tự quản, tinh thần trách nhiệm trong công việc. Trên cơ sở
được giao việc HS phải tự lập kế hoạch và GVCN cần xét duyệt. Nhìn chung

đua của lớp, sợ làm cô giáo buồn,…
Có em HS đầu năm học hay đi học muộn, trong lớp thường xuyên lười
ghi chép bài, nói chuyện vô tổ chức khiến nhiều giáo viên có cảm giác khó chịu.
Tôi phát hiện HS ấy có vấn đề về tâm lý (mắc chứng bệnh tăng động) nên đã
gặp gỡ phụ huynh của HS trao đổi để gia đình điều trị tâm lý cho con. Được cô
15


giáo động viên, sẻ chia nên em tiến bộ rất nhanh, chấm dứt hiện tượng đi học
muộn và tham gia rất tích cực vào các hoạt động của lớp. Qua trường hợp cụ thể
vừa nêu, tôi thấy việc sắp xếp thời gian đến thăm gia đình HS (đặc biệt là những
HS chưa ngoan) cũng đem lại nhiều hiệu quả trong công tác chủ nhiệm.
Ngoài ra, để tạo không khí cởi mở trong tập thể lớp và cũng là để giúp
cho mình hiểu HS hơn, tôi thường động viên các em ghi nhật ký lớp. Đôi khi tôi
lại cho HS viết cảm nhận về lớp mình. Có những điều thường ngày có khi khó
nói ra nhưng khi viết cảm nhận hoặc ghi nhật kí các em lại có dịp để giãi bày.
Qua bài viết, những trang nhật ký cô, trò, bạn bè hiểu nhiều về nhau hơn và tập
thể lớp ngày càng thêm gắn bó.
7. Phối hợp các lực lượng giáo dục
- Phối hợp với Ban giám hiệu nhà trường: GVCN là cầu nối giữa hiệu
trưởng với HS, truyền đạt chủ trương chính sách của ngành, nội quy của nhà
trường đến HS không phải bằng mệnh lệnh mà bằng sự thuyết phục cảm hoá,
gương mẫu của bản thân mình. Bên cạnh đó GVCN phát hiện kịp thời các hành
vi xấu của HS, đề nghị nhà trường xét kỷ luật nghiêm khắc nhằm ngăn chặn
hành vi xấu khác có thể xảy ra tiếp.
- Phối hợp với giáo viên bộ môn: Biết lắng nghe những nhận xét của giáo
viên bộ môn, thậm chí là những phê phán cá nhân, tập thể lớp mình sau đó chọn
lọc, phân tích thông tin để phối hợp tác động giáo dục cùng chiều, khắc phục
khó khăn, vướng mắc của HS trong quá trình học tập, đề đạt nguyện vọng của
HS với giáo viên bộ môn để nâng cao chất lượng giáo dục.

như sau:
Lần đầu đến thăm gia đình không nên bàn chuyện giáo dục HS mà chủ
yếu là xã giao và lấy thiện cảm từ phụ huynh HS, nếu muốn bàn chuyện giáo
dục các em phải thật bình tĩnh, trao đổi ôn hoà, đừng để phụ huynh có cảm nhận
là mình mắng khéo. Có cách nói làm sao để cho phụ huynh lắng nghe, tiếp thu
thay vì làm cho họ khó chịu.
17


Theo tôi, việc đến thăm gia đình của các em sẽ giúp cho phụ huynh biết
khá tường tận về con em mình. Từ đó họ chú ý hơn, quan tâm hơn đến việc dạy
bảo các em. Bản thân các em cũng sợ điều này nên cố gắng sửa chữa những sai
sót của mình để thầy cô không đến nhà mình.
Khi HS vi phạm khuyết điểm, việc mời phụ huynh HS đến trường gặp
GVCN để trao đổi là việc rất hy hữu vì làm như vậy mất thời gian của phụ
huynh HS mà chính bản thân giáo viên cũng không biết rõ HS mình có một gia
đình như thế nào. Hơn nữa, có một số phụ huynh khi nhận được lời mời đến
trường để nghe thầy cô trao đổi về con mình họ rất bực mình và thường là khi
về nhà họ trút hết tức giận vào con bằng những trận đòn nhừ tử. Như vậy chẳng
những không đạt kết quả mong muốn mà còn gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc,
khó lường.
Đến thăm gia đình, cùng trao đổi việc giáo dục HS là việc nên làm thường
xuyên, tuy mất nhiều thời gian của GVCN nhưng sau mỗi lần được GVCN đến
thăm HS thường có tiến bộ.
- Phối hợp một cách hài hòa với cha mẹ HS: Tôi luôn ý thức rằng phụ
huynh HS là người cùng hội, cùng thuyền để cùng tôi chèo chống đưa các con
HS cập bến tương lai một cách bình yên, hạnh phúc. Ngoài ra, khi có chuyện
buồn, vui chúng tôi luôn cùng nhau sẻ chia. Chính vì điều đó mà các bậc cha mẹ
đó rất tin tưởng ở tôi trong công tác giảng dạy, việc chủ nhiệm lớp cũng như
nhiều vấn đề khác trong đời sống của con họ và ngay chính bản thân họ. Chính

Tôi luôn dạy các em cách học làm người, cách sống, cách ứng xử với mọi
người. Có những tiết sinh hoạt lớp tôi không nhận xét, đánh giá gì cả mà chỉ kể
cho các em nghe một mẩu chuyện trong sách, báo, internet mà tôi sưu tầm được
để các em tự rút ra bài học cho mình.
Cách thức tổ chức các giờ sinh hoạt lớp cũng nên linh hoạt. Giờ sinh hoạt
không nên chỉ kiểm điểm HS, hoặc có kiểm điểm thì cũng không nên máy móc.
Đôi khi có thể biến giờ sinh hoạt thành những cuộc hội thảo, tổ chức các
19


gameshow theo từng chủ đề của các môn học. Lúc này tôi trở thành ban giám
khảo và học sinh là người tham gia, điều khiển cuộc chơi. Qua gameshow đó
các em hiểu bài, hứng thú với các môn học hơn. Ngoài ra còn tổ chức các cuộc
thi với chủ đề: Chắp cánh ước mơ, Hội thi thơ, Hội thi văn nghệ, Làm thế nào
để sống đẹp mỗi ngày?, Văn minh trong cách tặng quà, Kể chuyện theo sách,
Thi hùng biện về Tuổi trẻ và ước mơ, Mục đích học tập của bạn, Nét đẹp của
người Hà Nội, Theo dòng lịch sử,...Từ các cuộc thi các em mạnh dạn, tự tin khi
đứng trước đám đông, biết đoàn kết sẻ chia, thương yêu bạn, kính trọng giáo
viên, có tinh thần trách nhiệm cao với tập thể và sống đẹp hơn. Cũng từ đó, tôi
đã huấn luyện được khá nhiều HS có khả năng dẫn chương trình tốt, biết sáng
tạo tổ chức các hoạt động hấp dẫn giàu tính nhân văn và có khả năng giao tiếp,
ứng xử tốt. Khi HS vi phạm kỷ luật tôi thay những lời phê bình gay gắt bằng
một câu chuyện ngụ ngôn nào đó có thể có trong sách vở hoặc tôi tự nghĩ ra.
Như vậy không kiểm điểm mà lại hoá ra kiểm điểm những giờ sinh hoạt bớt
căng thẳng mà lại có hiệu quả.
9. Chú trọng việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
- Kĩ năng sống của con người nói chung đó là sự tự ý thức vai trò trách
nhiệm của bản thân mình trong việc ứng xử với mọi người xung quanh và môi
trường tự nhiên trong đó con người đang tồn tại. Từ những ngày học đầu tiên ở
trường Trung học cơ sở, HS đã được bồi dưỡng cả hai mặt đức dục và trí dục.

hình thức như:
+ Tổ chức các hoạt động tập thể, ngoại khoá để các em được tham gia vào
hoạt động thực tiễn của cuộc sống, tạo cơ hội bộc lộ chân thật những suy nghĩ,
tình cảm, hành vi trong công việc, chia sẻ những khó khăn và niềm vui cũng
như hoàn thiện dần dần các kĩ năng thực hành một cách tự nhiên. Từ đây, tính
ích kỷ cá nhân, ngại khó, vụng về, rụt rè sợ sệt sẽ nhường chỗ cho lòng bao
dung, sự tự tin, dũng cảm, tháo vát, nhanh nhẹn, khéo léo, tinh tế, hoà đồng và
thân thiện. Nội dung hoạt động cũng khá đa dạng như: hội trại, thể thao, văn
nghệ, tham quan; chăm sóc di tích cách mạng, văn hoá lịch sử; trò chơi tập thể,
câu lạc bộ xanh; thi phòng tránh tai nạn giao thông, diễn thuyết tranh luận về
21


bảo vệ môi trường, quyền trẻ em, xử lý tình huống khẩn cấp,… Có thể tổ chức
theo lớp, khối, toàn trường hoặc từng nhóm nhỏ từ 8-10 em và chú ý xác định rõ
kĩ năng sống cần đạt được cho HS sau mỗi hoạt động. Nên để cho HS viết lại,
nói lại những điều mà các em cảm thấy thú vị và bổ ích nhất.
+ Một hình thức nữa để giáo dục kĩ năng sống cho HS đó là thông qua
hoạt động dạy học trên lớp. Trong mỗi tiết dạy, ngoài yêu cầu về kiến thức thì
yêu cầu về kĩ năng và thái độ luôn được đặt ra và đó cũng chính là yêu cầu về
giáo dục kĩ năng sống. Do vậy, trong các giờ lên lớp tôi đều có sự liên hệ với
thực tế cuộc sống của HS ở cả hai mặt tích cực và hạn chế. Tuỳ theo bài học mà
hình thành những kĩ năng thích hợp cho HS như kĩ năng đặt câu hỏi và trả lời, kĩ
năng trình bày, kĩ năng phân tích tổng hợp, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng xử lý
tình huống, kĩ năng tự học, kĩ năng làm việc hợp tác (còn gọi là hợp tác nhóm
hay hoạt động nhóm)… Trong đó, kĩ năng làm việc hợp tác cần được đặc biệt
quan tâm vì đây là kĩ năng sống mang tính thời đại, nó thể hiện cách làm việc
theo cơ chế phân công hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích của từng thành viên
và cùng nhau phát triển. Qua sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên, HS được chia
thành các nhóm. Mỗi em được phân công đảm trách một công việc của nhóm

còn có những cái nhìn ái ngại mà trở nên dạn dĩ hơn, tự tin với ý kiến của
mình.Cộng thêm một môi trường giáo dục thân thiện hoà đồng, cho phép các em
tiến đến gần và hoà nhập với nhau, sau đó là những điều khác như đóng góp ý
kiến cho tập thể, ý tưởng độc đáo cho các hoạt động của lớp phong phú hơn,
hiệu quả hơn và đặc biệt kỹ năng làm việc nhóm, các em được trang bị lý thuyết
cụ thể, rồi thực hành để hiểu. Với kỹ năng làm việc nhóm, các em được tập làm
việc để biết cách hợp tác và chấp nhận lẫn nhau trong mọi hoàn cảnh. Mục đích
quan trọng nhất là giúp các em tự tin hơn, tự lập hơn trong cuộc sống, đây là
điều rất cần thiết trong cuộc sống của các em sau này.
10. Mối quan hệ tình cảm thân thiện
- Tình cảm yêu thương, tôn trọng, gắn bó, chia sẻ giữa các giáo viên, giữa
giáo viên với HS và giữa các HS với nhau. “Lớp học thân thiện” không chấp
23


nhận sự xúc phạm về nhân phẩm và danh dự, không chấp nhận sự xúc phạm về
thân thể.
- “Tình cảm thân thiện” luôn đảm bảo sự bình đẳng, dân chủ về mặt pháp
lí và đạo đức, không thể chấp nhận sự trù dập hay thiên vị, sự vu khống hay bao
che.
11. Sự hợp tác thân thiện và tích cực
- Hợp tác giữa GVCN với các giáo viên giảng dạy và giáo viên giám thị:
Muốn sự hợp tác có hiệu quả thì các giáo viên phải nắm vững phương pháp và
nghiệp vụ sư phạm, hiểu và thực hiện đúng quy chế, nội qui; trao đổi và thống
nhất cách dạy cách quản lí; thường xuyên nắm bắt thông tin.
- Hợp tác giữa giáo viên với HS: Được thể hiện qua hoạt động dạy và
học, hoạt động ngoài giờ.
+ Trong hoạt động dạy và học:
Giáo viên: Tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, hướng dẫn HS
phương pháp tự học, tạo bầu không khí thân thiện, khuyến khích sự chuyên cần

bộ lớp càng nhiều càng tốt để khích lệ tinh thần trách nhiệm của các em với tập
thể, đồng thời giúp HS thêm bạo dạn và tự tin trong mọi phương diện.
Ví dụ: Cơ cấu và kết quả bầu ban cán dự lớp 6E (lớp tôi chủ nhiệm) được
trình bày trong bảng 1.
Bảng 1. Danh sách HS và ban cán sự lớp 6E
STT

Họ và tên

Điện thoại

Chức vụ

Phân tổ

1

Ng. Hà Trường An

37581609

Quản lý ghế

Tổ 1

2

Trần Đức Anh

37531935


Tổ 2

6

Nguyễn Quỳnh Giang

37589294

Lớp phó Kỷ luật

Tổ 1

01282087516

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status