SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 6
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH THPT CÁ BIỆT
TRONG CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM
Người thực hiện: Nguyễn Thị Lê
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực: Công tác chủ nhiệm
THANH HOÁ NĂM 2017
MỤC LỤC
Trang
I. MỞ ĐẦU ...............................................................................................
1
1. Lý do chọn đề tài .....................................................................................
1
.1
1
2. Mục đích nghiên cứu ...............................................................................
2
.1
2
3. Đối tượng nghiên cứu .............................................................................
.2
việc
giáo
dục
HSCB 10
..............................................................................................................................
.3
10
2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng SKKN ....................................
11
.3
3. Các SKKN đã áp dụng để giải quyết vấn đề ...........................................
13
.5
13
3.1. Khảo sát tình hình HSCB của lớp chủ nhiệm
..............................................................................................................................
14
.5
3.2. Tìm hiểu nguyên nhân dẫn HS thành HSCB
16
...............................................................................................................................
7
17
3.3. Xác định rõ những yếu tố cần có của GVCN trong việc
17
giáo dục HSCB ..........................................................................
17
3.3.1. GVCN phải tâm huyết và trách nhiệm với HSCB
...............................................................................................................................
9
HSCB
Học sinh cá biệt
2
HS
Học sinh
3
GV
Giáo viên
4
GVCN
Giáo viên chủ nhiệm
5
GVBM
Giáo viên bộ môn
6
TL
Tỉ lệ
12
VD
Ví dụ
13
CBGV – NV
Cán bộ giáo viên – Nhân viên
14
GD & ĐT
Giáo dục và Đào tạo
15
SKKN
Sáng kiến kinh nghiệm
HS có lối sống tự do, buông thả, coi thường nền nếp, kỉ cương, vi phạm đạo đức,
pháp luật. Những HS này gọi chung là HS cá biệt (HSCB). Số HS này đang có
xu hướng gia tăng, làm đau lòng cha mẹ, đau đầu thầy cô, ảnh hưởng nghiêm
trọng đến sự bình yên của mỗi tổ ấm gia đình cũng như sự phát triển chung của
toàn xã hội.
Là một GV, tôi luôn ý thức được HSCB trong mỗi trường học là đối tượng
mà nhà trường và GV phải lo lắng, quan tâm, đầu tư nhiều công sức và tâm
huyết. Đã vậy gần như ở cấp học nào, khối lớp nào cũng có HSCB. Đặc biệt với
HS cấp THPT ở độ tuổi giáp danh giữa trẻ em và người lớn với những biến đổi
về tâm sinh lí, sức khỏe, nhận thức thì tính “cá biệt” của một bộ phận HS ở lứa
tuổi này có thể gây hậu quả đáng tiếc nếu nhà trường và gia đình không có
những biện pháp thích hợp để ngăn ngừa.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, tôi đã đi sâu tìm tòi,
nghiên cứu các giải pháp giáo dục HS đặc biệt là HSCB để tìm ra giải pháp tối
ưu. Trong năm học 2016 – 2017 với cương vị là GVCN tôi đã chọn đề tài “Một
số giải pháp giáo dục HS THPT cá biệt trong công tác chủ nhiệm” làm đề tài
sáng kiến kinh nghiệm của mình.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Qua đề tài này giúp:
- HS trở thành một công dân có ích cho đất nước.
- Biết tôn trọng chính bản thân mình.
- Hiểu được ý nghĩa của việc học từ đó có thêm lòng đam mê trong học
tập và nghiên cứu.
1
- HS thấy được công lao to lớn của Thầy cô, cha mẹ… từ đó có lòng trung
thực, nhân ái… và trở thành một con người đáp ứng được yêu cầu của xã hội.
- Giúp một phần nhỏ các GV những người làm công tác giáo dục biết rõ
vai trò quan trọng của mình và có thêm được giải pháp hợp lí trong sự nghiệp
khuyết về đạo đức nhân cách trong quá trình giáo dục.
- Theo quan điểm giáo dục đúng đắn đối với loại HS có khiếm khuyết về
đạo đức, nhân cách, nên thống nhất dùng khái niệm: HSCB.
1. 2. Một số biểu hiện hành vi của HSCB.
2
Những biểu hiện về mặt hành vi của những HS này thường là:
- Vi phạm nội quy của nhà trường, của lớp như: Mất trật tự có hệ thống
trong giờ học, lười học bài, đi học muộn, ...
- Vi phạm những chuẩn mực đạo đức, hỗn láo với thầy cô, cha mẹ, hay
nói tục chửi thề, ...
- Vi phạm pháp luật như: Đánh nhau, trộm cắp, trấn lột, cờ bạc, lô đề, ...
- Tự ti, trầm cảm, ngại tiếp xúc với thầy cô, bạn bè, tiêu cực trong suy
nghĩ, ....
1. 3. Ý nghĩa của việc giáo dục HSCB [3].
- Giáo dục HSCB trở thành HS tốt là một trong những nhiệm vụ vô cùng
khó khăn của GVCN nhưng lại có ý nghĩa hết sức to lớn đối với bản thân
HSCB, với nhà trường, với gia đình HS và xã hội.
- Theo điều tra, HSCB thường là những HS tháo vát, có những khả năng
tốt về văn nghệ, thể thao, khả năng tổ chức... Vì vậy GVCN có thể giúp các em
phát triển đúng hướng, phát huy tài năng, hoàn thiện nhân cách, đạo đức để trở
thành một người công dân có ích.
- Đối với lớp: Nhiệm vụ giáo dục có kết quả đối với HSCB là một trong
những điều kiện đảm bảo cho lớp học ổn định trật tự, nề nếp. Mọi thành viên
khác của lớp đều có điều kiện học tập, tu dưỡng đạt kết quả tốt.
- Đối với cha mẹ HSCB: Thành công trong nhiệm vụ giáo dục HSCB
của GVCN giúp gia đình HS tránh được sự bất hạnh, đem lại nguồn hạnh phúc
lớn lao cho họ.
- Đối với xã hội: Thành công trong nhiệm vụ giáo dục HSCB của GVCN
Khối 12
SL
TL
SL
TL
SL
TL
- Vi phạm nội qui của Nhà trường, của
lớp, mất trật tự trong giờ học, lười học
bài, đi học muộn, ….
17
83.5
%
12
80
%
10
20
%
3
23%
- Vi phạm pháp luật, đánh nhau, trộm cắp,
trấn lột, cờ bạc, lô đề…
4
20
%
4
27
%
2
15%
- Tự ti, trầm cảm, ngại tiếp xúc với thầy
cô, bạn bè, hoang mang, sợ hãi, tiêu cực
trong suy nghĩ, …
2
STT
Họ tên HSCB
Hành vi cá biệt
1
Lê Văn Dương
- Ngủ gật, hay đi học muộn, nghỉ học vô lí do
2
Lê Văn Hiếu
- Nói tục, chửi thề, mất trật tự trong lớp, đánh nhau
3
Hồ Văn Thanh
- Ngủ gật, bỏ tiết, lười học bài
4
Lê Hữu Thiện
8. Những thuận lợi, khó khăn, rào cản trong việc thực hiện mục tiêu,
mong muốn:
9. Những ảnh hưởng tích cực, tiêu cực từ gia đình, bạn bè, môi
trường sống, học tập:
10. Bản thân cần sự giúp đỡ nào từ GV, bạn bè:
5
11. Bản thân định sẽ làm gì để đạt được những mong muốn, mục tiêu
của mình:
Thông qua việc làm này HS có thể nhận thức về bản thân về những
điểm mạnh điểm yếu cần khắc phục của mình. Đồng thời GV có thể nắm được
thông tin cơ bản về cá tính của từng HS, giúp GV có cách tiếp cận phù hợp để
giúp đỡ các em tiến bộ.
- Tìm hiểu thông tin về HSCB thông qua GVCN cũ và các GVBM:
Vì GVCN cũ của lớp là cô Lê Thị Hương đã nghỉ sinh sau khi kết thúc
năm học lớp 10 của lớp A2. Lớp 11 tôi được phân công làm công tác chủ nhiệm
thay thế. Để làm tốt nhiệm vụ của mình tôi đã trò chuyện với GVCN cũ và các
GVBM của lớp để nắm bắt tình hình học tập và rèn luyện của HS, đặc biệt là các
HSCB của lớp. Đây là nguồn cung cấp thông tin quý giá giúp tôi lập hồ sơ HS
một cách chính xác và nhanh nhất.
- Thu thập thông tin HSCB thông qua bạn bè và gia đình:
Thông tin về HSCB có thể thu thập bổ sung thêm thông qua bạn bè. Rất
nhiều điều mà GV không biết nhưng bạn bè lại biết. Khai thác được nguồn
thông tin này GVCN mới có thể đưa ra giải pháp giáo dục HSCB hợp lí cho
từng HS.
Thông tin về HSCB thu thập qua tiếp xúc, trò chuyện với gia đình HS
cũng rất quý giá để GVCN lập hồ sơ HS. GVCN có thể nắm được về hoàn cảnh
gia đình, đặc điểm của HS qua nhận định của cha mẹ HS để so sánh đối chiếu bổ
sung cho những thông tin mình đã thu thập được…
tuy nhiên nó lại có ảnh hưởng không nhỏ và dễ lây lan trong tập thể HS. Để tìm
những nguyên nhân trên tôi đã tiến hành khảo sát ý kiến của 60 người là GVCN,
GVBM, công tác quản lí và HS. Kết quả thể hiện ở bảng sau:
Bảng: Những nguyên nhân ảnh hưởng đến hành vi cá biệt của HS.
TT Các nguyên nhân
Số ý kiến
Tỉ lệ
Xếp bậc
1
Gia đình, xã hội chưa quan tâm giáo dục
các em đầy đủ
50
83.3%
1
2
Người lớn chưa gương mẫu
47
78%
65%
5
6
Tác động tiêu cực của nền kinh tế thị
trường
35
58.3%
6
7
Một bộ phận thầy cô chưa quan tâm giáo
dục đạo đức cho HS
27
45%
8
8
Ảnh hưởng của sự bùng nổ thông tin,
truyền thông
TT Các nguyên nhân
Số ý kiến
Tỉ lệ
Xếp bậc
11
Phim ảnh, sách báo không lành mạnh, các
trò chơi trên mạng
21
35%
11
12
Nhiều đoàn thể xã hội chưa quan tâm đến
giáo dục đạo đức.
17
28.3%
kinh tế tốt nhưng do bố mẹ nuông chiều, đáp ứng mọi nhu cầu vật chất mà ít
quan tâm đến đời sống tinh thần và những đặc điểm phát triển tâm sinh lí lứa
tuổi của con cái. Bố mẹ chỉ lo làm giàu mà khoán trắng việc giáo dục con cái
cho nhà trường. Bên cạnh đó, nhiều gia đình bố mẹ thường xuyên cãi vã hoặc li
dị nhau… . Sự thiếu gương mẫu của người lớn chính là điều kiện để trẻ học tập
những thói hư tật xấu, là môi trường thuận lợi cho sự phát triển tình trạng
HSCB.
- Nguyên nhân từ phía nhà trường: Do sự giáo dục của nhà trường còn
nặng về kiến thức văn hóa, đôi khi lãng quên đi nhiệm vụ giáo dục con người
“tiên học lễ hậu học văn”. Mặt khác năng lực của một số GVCN lớp còn hạn
chế, chưa đi sâu đi sát từng HS để nắm bắt hoàn cảnh riêng của từng em, tìm
hiểu tâm tư nguyện vọng của các em. Một số ít GV thậm chí cả cán bộ quản lí
đôi lúc còn thiếu gương mẫu trong đạo đức, lối sống, chưa thực sự là “tấm
gương sáng để HS noi theo”. Việc áp dục các phương pháp giáo dục đạo đức
còn cứng nhắc, thậm chí sai nguyên tắc: Xem nhẹ yếu tố thuyết phục, thô bạo
trong đối xử với HS, …
- Nguyên nhân từ xã hội: Khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng đã
làm thay đổi nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc biệt Internet là kho tài
nguyên vô tận, mang lại nhiều lợi ích cho con người nhưng nó cũng có mặt trái
ảnh hưởng đến giới trẻ như: Phim ảnh khiêu dâm, đồi trụy, bạo lực, những câu
chuyện trái với đạo đức thuần phong mỹ tục đã gieo vào lòng các em những suy
nghĩ lệch lạc, bắt trước, … Đây là nguyên nhân quan trọng dẫn đến HS trở thành
HSCB.
8
- Nguyên nhân từ bản thân HS: Đó là những biến đổi tâm sinh lí lứa tuổi
HS THPT. Do các đặc điểm tâm sinh lí tuổi dậy thì, tình cảm của các em chưa
bền vững, không ổn định, khả năng làm chủ bản thân, bản lĩnh còn yếu trước
thức được sai lầm, có chí thú học hành và hạ quyết tâm bỏ chơi game, …
VD 2: HS Lê Văn Dương đi học muộn, hay nghỉ học không có lí do,
ngủ trong lớp, GV bộ môn ai cũng phản ánh và đề nghị xếp loại HK Yếu…. Là
GVCN tôi đã bỏ công tìm hiểu thì được biết Dương vì cha mất sớm, hoàn cảnh
gia đình quá khó khăn em luôn phải thức khuya dậy sớm để phụ giúp người mẹ
tàn tật…. Em ngại với bạn, với thầy cô nên ko dám nói. Biết được điều đó tôi đã
động viên chia sẻ với em rất nhiều, trong lớp có Kiên thường hay đi học qua nhà
em, Kiên là HS có học lực khá và hạnh kiểm tốt. Tôi đã cố tình xếp Dương ngồi
cùng Kiên để các em thân nhau hơn, tôi động viên và nhắc nhở Kiên hãy chia sẻ
9
động viên Dương, dần dần Kiên và Dương trở thành đôi bạn thân tự lúc nào, giờ
đây mỗi khi Dương gặp khó khăn là Kiên xuất hiện, qua Kiên tôi cũng nắm bắt
rõ hơn về tình hình của em. Chính sự quan tâm này đã khiến em tự tin hơn,
quyết tâm học tập hơn, cuối năm học em đã đạt học lực khá, hạnh kiểm tốt. Tuy
vậy, đằng sau sự nhiệt tình, tâm huyết của GV đối với học trò cũng rất cần có sự
phối kết hợp giáo dục giữa nhà trường và gia đình.
3. 3. 2. GVCN phải biết lắng nghe và trò chuyện với HS, đặc biệt là
HSCB.
- Đối với HS nói chung và HSCB nói riêng GV cần phải biết lắng nghe.
Vì khi lắng nghe GV sẽ thấu hiểu được những tâm tư nguyện vọng của HS. Chỉ
khi thấu hiểu thì mới trò chuyện chia sẻ được.
- Bí quyết để lắng nghe và trò chuyện là GV cần phải tạo ra môi trường
an toàn, thân thiện để HS tin tưởng, cảm giác thoải mái. Để làm được như vậy
GV cần thể hiện cho HS đó thấy rằng mình muốn nghe từ cách nhìn cũng như
cử chỉ, thể hiện sự quan tâm lắng nghe để hiểu hơn là để đáp lại, tránh những
việc làm gây mất tập trung, giữ bình tĩnh và kiên nhẫn, không nóng vội, không
cắt ngang lời. Phải đặt mình vào vị trí của các em để có thể đồng cảm với các
em, tránh tranh cãi hoặc phê phán.
- HSCB thường là những HS không có lí tưởng sống, không có ước mơ,
hoài bão, không xác định được mục tiêu của cuộc đời mình nên không biết phải
rèn luyện những gì để giúp ích cho bản thân để hoàn thành nhiệm vụ học tập và
rèn luyện của mình. Chính vì vậy GVCN cần phải định hướng cho HS dựa trên
những thông tin thu thập được trong hồ sơ HS để giúp các em xác định được
hoài bão, ước mơ của cuộc đời mình và trở thành người hữu ích.
VD: Tôi rất ấn tượng với HS Lê Hữu Thiện của lớp mình. Nụ cười với
chiếc răng khểnh của em trông thật thiện cảm và đáng yêu. Tuy nhiên qua bạn
bè trong lớp và qua những lần tiếp xúc trò chuyện, lắng nghe em chia sẻ, tôi
được biết em thường tham gia vào việc chơi lô đề mỗi ngày, thi thoảng chơi bài
bạc. Trong một lần tiếp xúc, trò chuyện với em, em nói với tôi “em học kiếm sơ
sơ ít chữ sau này con em nhỏ hỏi, em có thể trả lời cho nó ít câu”. Câu nói này
đã khiến tôi trăn trở và tự hỏi “tại sao HS của mình đã có suy nghĩ học để dạy
con nhưng lại chỉ dạy khi con còn nhỏ?”, phải chăng em cảm thấy mình không
có khả năng chiếm lĩnh tri thức, không có khả năng học cao hơn, xa hơn? Hay
em không thấy được ý nghĩa của việc học?. Chính điều đó đã thôi thúc tôi phải
làm gì đó cho Thiện để giúp em có suy nghĩ và mục tiêu đúng đắn hơn.
Thường ngày những khi rãnh rỗi, có điều kiện tiếp xúc với em tôi thường
động viên, khích lệ em để em thấy được khả năng của mình và tự tin hơn. Đồng
thời tôi cũng giúp em định hướng cho mình một nghề nghiệp trong tương lai.
“Mưa dầm thấm lâu”, “có công mài sắt, có ngày nên kim”, cuối cùng Thiện cũng
tìm thấy được con đường đi đúng đắn cho mình, từ bỏ việc chơi lô đề hàng ngày,
và em nói với tôi “từ nay cô và các bạn sẽ không bao giờ nhìn thấy em chơi lô
đề, bài bạc nữa”. Đó là thành quả lớn lao mà tôi gặt hái được trong công tác chủ
nhiệm của mình.
3. 4. Tin tưởng giao việc phù hợp với khả năng của HSCB.
Là HSCB nhưng mỗi em đều có điểm mạnh, điểm yếu và sở thích riêng.
Nếu GVCN biết cách khai thác các điểm mạnh, sở thích đó của HSCB sẽ giúp
ích rất nhiều trong việc giáo dục các em. Thông qua hồ sơ HS để biết rõ về từng
HSCB, tôi đã tìm cách lôi cuốn các em vào công việc của lớp hợp với sở thích
giảm đi rất nhiều.
3. 5. Giáo dục giá trị sống và rèn luyện kĩ năng sống cho HSCB.
Trong thời gian qua, giáo dục kĩ năng sống đã được coi trọng và thực thi
ở nhiều trường lớp dưới nhiều hình thức khác nhau như: Tích hợp, lồng ghép
vào các môn học và ở một số hoạt động ngoại khóa ngoài giờ lên lớp, … Tuy
nhiên, hiệu quả của công tác này vẫn còn nhiều hạn chế, thực trạng học sinh
thiếu kĩ năng sống cơ bản như: Kĩ năng ứng xử, kĩ năng kiểm soát cảm xúc, kĩ
năng giải quyết xung đột, …. là một trong những nguyên nhân dẫn tới số lượng
HSCB ngày một gia tăng. Vì vậy tăng cường giáo dục giá trị sống và rèn luyện
kĩ năng sống cho HS là biện pháp cần thiết để góp phần ngăn chặn HS trở thành
HSCB.
- Để thực hiện GV có thể lồng ghép vào trong các tiết dạy các môn học
những nội dung cơ bản về kĩ năng sống nhằm hướng cho HS tới các giá trị cơ
bản của cuộc sống như: Giản dị, khiêm tốn, khoan dung, trung thực, tôn trọng,
hợp tác, đoàn kết, trách nhiệm, tự do, hòa bình, hạnh phúc, yêu thương.
- Bản thân là một GV bộ môn đồng thời là GVCN tôi đã lồng ghép các
nội dung giáo dục kĩ năng sống thông qua các tiết dạy và tiết sinh hoạt chủ
nhiệm như: Đưa ra các bài tập tình huống về kĩ năng sống và cách giải quyết để
rút ra bài học về giá trị sống, hay tổ chức hình thức sinh hoạt câu lạc bộ, và phối
kết hợp với các hoạt động do ĐTN phát động.
Với cách làm này đã giúp HS hiểu rõ hơn về các giá trị đích thực của
cuộc sống và rèn luyện kĩ năng sống, tạo điều kiện phát triển nhân cách HS một
cách đúng đắn, giúp các em vững tin trong cuộc sống và hướng tới thành công
trong tương lai.
3. 6. Tạo ra các sân chơi phù hợp cho HSCB.
- Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng HS trở thành HSCB
đó là vì các em không có sân chơi phù hợp với năng lực và sở thích của bản
thân. Chính vì thế các em không thấy trường học thú vị, các môn học không thể
lôi cuốn các em nên các em đều chán việc học ở trường và bỏ đi chơi tìm đến
các thú vui khác, có khi đó là những thú vui không lành mạnh.
hơn, hòa đồng hơn với các bạn trong lớp.
Ảnh: Nguyễn Thị Vân đứng trên bục vinh quang nhận giải
Với những kết quả đạt được ở trên là nguồn động lực lớn lao để tôi có
thêm niềm tin phát triển các câu lạc bộ vững mạnh hơn.
3. 7. Áp dụng biện pháp kỉ luật tích cực đối với tập thể lớp và
HSCB.
Để theo dõi mọi hoạt động của HS trong lớp tôi đã tiến hành lập ra cuốn
sổ “nhật kí lớp học” với mẫu sau:
14
SỔ NHẬT KÍ LỚP HỌC
Tháng/ Năm: …
STT
Tuần học
Thứ/ ngày
Họ tên HS
Việc tốt/ Điểm tốt
Việc xấu/ Điểm xấu
Xác nhận của TT
....
Lê Hữu Thiện
Việc xấu/ Điểm xấu
Văn: 4 (Miệng);
Xác nhận của TT
TT tổ 1: Lê Văn An
Tiết Văn: Nói chuyện
bị ghi SĐB
2
15
Thứ 6/ 22
Hoàng Thu Hà
3
15
Thứ 7/ 23
Lê Văn Dương
…
…
Việc làm này giúp GVCN cập nhật được đầy đủ các thông tin liên
quan đến HS như: Vắng/ chậm, bỏ tiết, vi phạm nội qui, vô lễ với thầy cô, các
điểm số đạt được trong tuần, … để nắm bắt đúng về tình hình học tập và rèn
luyện của HS trong từng tuần. Từ kết quả trên GVCN có thể đánh giá chính xác
kết quả của HS đồng thời có biện pháp giáo dục phù hợp, kịp thời và hiệu quả.
4. HIỆU QUẢ CỦA SKKN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC,
VỚI BẢN THÂN, ĐỒNG NGHIỆP VÀ NHÀ TRƯỜNG.
Từ việc vận dụng linh hoạt các giải pháp nêu trên đối với từng loại
HSCB đã giúp cho bản thân tôi thành công hơn trong công tác chủ nhiệm của
mình. Cụ thể kết quả cuối năm của lớp 11A5 năm học 2016 – 2017 đạt được như
sau:
Xếp loại
Học lực
Hạnh kiểm
SL
%
SL
%
Giỏi-Tốt:
01
2.2%
34
75.6%
Khá:
20
44.4%
10
22.2%
T.bình:
+ Giải nhì nề nếp năm học 2016 – 2017;
+ Giải nhì văn nghệ 20/11;
+ Giải khuyến khích khéo tay hay làm chào mừng ngày Quốc tế Phụ nữ
8/3; giải ba cầu lông đôi nam nữ 26/3.
Đây là thành quả lớn lao mà tôi gặt hái được trong công tác chủ
nhiệm của mình.
16
III.
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
1. KẾT LUẬN:
- Giáo dục HSCB thành HS ngoan hiền là điều hết sức cần thiết. Việc
vận dụng linh hoạt các giải pháp nêu trên của tôi đã đem lại hiệu quả rất cao. Đã
có nhiều HSCB chưa ngoan nhưng sau 3 năm học tập các em thực sự trưởng
thành, trở thành công dân có ích cho đất nước, biết tôn trọng bản thân, hiểu được
ý nghĩa của việc học và có thêm lòng đam mê học tập và nghiên cứu.
- Đã giúp được một phần nhỏ GV những người làm công tác giáo dục
biết rõ vai trò quan trọng của mình và có thêm được giải pháp hợp lí trong sự
nghiệp trồng người.
Công tác giáo dục HSCB luôn là một thử thách rất lớn đối với mỗi
GVCN, song làm tốt được điều này người GV mới trở thành một nhà giáo dục
đúng nghĩa.
2. KIẾN NGHỊ:
1. Đối với Nhà trường:
- Cần đề xuất với ban giám hiệu nhà trường không chỉ chú trọng đầu tư
cho việc bồi dưỡng HS giỏi mà cần có sự quan tâm, đầu tư cho việc giáo dục
HSCB, thậm chí có những chính sách khen thưởng cho việc rèn luyện giáo dục
1. Mô đun THPT 3 “Giáo dục HS THPT cá biệt” của Bộ GD & ĐT.
2. Mô đun THPT 35 “Giáo dục kĩ năng sống cho HS THPT” của Bộ
GD & ĐT.
3. Mô đun THPT 36 “Giáo dục giá trị cho HS THPT” của Bộ GD &
ĐT.
4. Mô đun THPT 41 “Tổ chức hoạt động tập thể cho HS THPT” của
Bộ GD & ĐT.
5. Nguyễn Công Khanh “Giao tiếp ứng xử tâm lý tuổi học đường” của
NXB Thanh niên, 2007.
6. Tham khảo một số tài liệu trên mạng Internet:
- Nguồn: http://thptthanglonghp.edu.vn/index.php/home/detail/76
- Nguồn:
http://www.vjol.info/index.php/sphcm/article/viewFile/11763/10724
DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Lê
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên – Trường THPT Triệu Sơn 6
TT
1.
Tên đề tài SKKN
Một số giải pháp trong công
Cấp đánh giá xếp