BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
--------/--------
-----/-----
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN NGỌC HÀ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI – 2016
1
Luận văn được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. ĐINH THỊ MINH TUYẾT
Phản biện 1:
khăn và chịu nhiều thiệt thòi, chưa được tiếp cận với các dịch vụ dành cho người
khuyết tật, nhiều trẻ em khuyết tật đang bị lãng quên.
Tại Việt Nam, sau chiến tranh chống Mỹ hàng triệu người bị thương và tàn tật,
những người còn sống tiếp tục phải đối mặt với các vấn đề nghiêm trọng về kinh
tế, xã hội và môi trường mà cuộc chiến đã gây ra, nhiều trẻ em dị tật bẩm sinh do
di chứng của chất độc da cam/ Đi ô xin, nhiều trẻ vẫn tiếp tục bị khuyết tật do bom
mìn chưa nổ còn sót lại sau chiến tranh. Ngoài hậu quả của chiến tranh, việc gây ra
khuyết tật còn do ô nhiễm môi trường, thiên tai, bệnh dịch, tai nạn…Sau khi giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Việt Nam đã có nhiều chương trình, đề án
hỗ trợ người khuyết tật, trẻ em khuyết tật, tuy nhiên đất nước trong thời kỳ đó còn
nghèo do đó việc hỗ trợ, chăm sóc cho người khuyết tật, trẻ em khuyết tật là rất
hạn chế.
Chuyển sang giai đoạn phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, Đảng, Nhà nước,
chính phủ cũng như các tổ chức chính trị xã hội đã có điều kiện quan tâm nhiều hơn
đến người khuyết tật và trẻ em khuyết tật thông qua hàng loạt các chính sách, đạo
luật nhằm hỗ trợ người khuyết tật như trong Bộ Luật lao động, Pháp lệnh người
khuyết tật được ban hành ngày 30 tháng 7 năm 1998, luật giáo dục, luật phổ cập
giáo dục tiểu học, luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, luật dạy nghề cùng hệ
thống văn bản pháp quy liên quan, gần đây là việc dự thảo, thu thập ý kiến đóng góp
xây dựng Bộ luật lao động sửa đổi, bổ sung và ban hành Luật NKT ngày 17/6/2010
nhằm bảo đảm sự bình đẳng cho NKT, TEKT, dần dần người khuyết tật, trẻ em
1
khuyết tật đã tiếp cận được các dịch vụ y tế, phục hồi chức năng, giáo dục, việc làm,
văn hóa, thể thao, giải trí, giao thông tại các nơi công cộng và công nghệ thông tin.
Căn cứ vào Luật người khuyết tật năm 2010; Nghị định Quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật; Đề án giúp người
khuyết tật giai đoạn 2012 đến 2020 (trong đó có nhiều phần về trẻ em khuyết tật),
nhiều chính sách cho người khuyết tật đã được xây dựng và tổ chức thực hiện, đặc
- Vụ Pháp chế, Bộ Lao động – Thương binh xã hội và Unicef (2009), “Xây
dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam: Đánh giá pháp luật và chính sách bảo
vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam”.
- Đề tài ”Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên ở cộng đồng Việt Nam”, của
Nguyễn Hữu Toàn (2010).
- Tác giả Trịnh Thắng và các cộng sự (2011), “Báo cáo về trẻ khuyết tật tại An
Giang và Đồng Nai năm 2011”.
- Tác giả Trần Nam, trong Mục chính sách và pháp luật, Hội nạn nhân Chất
độc Da cam/Dioxin – Việt Nam, năm 2012, “Chính sách đối với người bị nhiễm
chất độc hóa học còn nhiều bất cập”.
- Ban Điều phối các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam, Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội (2013), “Báo cáo năm 2013 về hoạt động giúp người
khuyết tật Việt Nam điều phối các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam.
- Nguyễn Hữu Hải (Chủ biên, 2014), Chính sách công - Những vấn đề cơ bản,
Nxb chính trị quốc gia.
- Đề tài “Đánh giá việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội đối với người
khuyết tật ở xã Hợp Đồng, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội”, của Nguyễn
Thị Quỳnh, năm 2014.
- Tác giả Thụy Bình, trong Tạp chí người khuyết tật, năm 2015, bài báo“Về
vấn đề gia tăng và một số giải pháp gia tăng người khuyết tật”.
- Tác giả Nguyễn Đức Minh, năm 2015, bài báo “Chính sách giáo dục hòa
nhập trẻ khuyết tật Việt Nam”. Mặc dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu về trẻ em, trẻ
em khuyết tật, nhưng chưa có một nghiên cứu nào đề cập một cách hệ thống việc
thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt Nam, do đó việc lựa chọn của
em không trùng với các công trình nghiên cứu khác.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài để hoàn thiện quy trình thực hiện chính sách đối với
TEKT ở Việt Nam.
6.1. Về lý luận
Luận văn đã hệ thống cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đối với trẻ em
khuyết tật ở Việt Nam
6.2. Về thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên
cứu, giảng dạy, học tập và cho các nhà hoạch định chính sách đối với trẻ em
khuyết tật, các cấp chính quyền địa phương.
7. Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở khoa học về thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt Nam
Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quy trình thực hiện chính sách
đối với trẻ em khuyết tật ở Việt Nam
4
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT
1.1. Khái niệm về trẻ em khuyết tật và thực hiện chính sách đối với trẻ em
khuyết tật
1.1.1. Trẻ em khuyết tật
1.1.1.1. Trẻ em
- Trong Công ước về quyền trẻ em 1989, văn kiện quốc tế cơ bản, toàn diện
nhất về trẻ em tính đến thời điểm này đã định nghĩa “Trẻ em có nghĩa là bất kỳ
người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em
đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” (Điều I).
- Theo quy tắc Bắc Kinh (Những quy tắc tối thiểu, phổ biến của Liên hợp quốc
về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên ngày 20/11/1985) nêu rõ
“người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi”.
- Khuyết tật nhìn
- Khuyết tật thần kinh, tâm thần
- Khuyết tật trí tuệ
- Khuyết tật khác
1.1.2.4. Đặc điểm của trẻ em khuyết tật
- Do chấn thương hay do bệnh bại liệt gây ra làm què cụt, khoèo, liệt chân tay,
ngoài ra trẻ em khuyết tật vận động do tổn thương khu vận động lão bộ.
+ Đối với trẻ bị tổn thương về lão bộ gây rất nhiều cản trở cho hoạt động nhận
thức của trẻ, thậm trí là trình độ nhận thức ở mức độ nặng.
+ Đối với trẻ chậm phát triển vận động, khó khăn khi nói, kém hiểu biết về các
quy luật xã hội căn bản, không ý thức về hậu quả về các hành vi của mình, khó
khăn khi tự phục vụ, phân tích màu sắc, dấu hiệu, chi tiết sự vật kém, thiếu tích cực
trong quan sát, tư duy của trẻ thường biểu hiện tính không liên tục, chậm hiểu cái
mới, quên nhanh cái vừa mới tiếp thu, thời gian chú ý của trẻ em chậm phát triển
trí tuệ kém hơn nhiều trẻ bình thường.
1.1.2. Chính sách đối với trẻ em khuyết tật
1.1.2.1. Khái niệm
Chính sách:
- Ở phạm vi hẹp, chính sách đặt trong mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng
quản lý, là những quy định, điều kiện của chủ thể quản lý đặt ra và thực thi nhằm
đưa hoạt động của đối tượng quản lý theo ý chí, mục đích của mình.
- Rộng hơn, chính sách đặt trong mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách
thể quản lý còn được hiểu như là những đối sách, ứng xử của tổ chức, quốc gia đối
với môi trường xã hội, tự nhiên và chính trị mà chính thể đó tồn tại. Nhất là trong
hệ thống mở về kinh tế, chính trị – xã hội hiện đại, ở đó xuất hiện nhiều mối quan
hệ với những vị trí, vai trò, sự tương tác khác nhau.
Chính sách đối với trẻ em
6
Một là, chính sách giáo dục đối với trẻ em khuyết tật
Hai là, chính sách bảo trợ xã hội
Ba là, chính sách chăm sóc y tế
Bốn là, chính sách về văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch
7
Năm là, chính sách ưu tiên cho trẻ em khuyết tật khi tham gia giao thông
bằng phương tiện giao thông công cộng
Sáu là, chính sách thông tin trợ giúp trẻ em khuyết tật
1.1.3. Thực hiện chính sách đối với trẻ TEKT
Thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật là quá trình biến các chính sách
thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà
nước nhằm hiện thực hóa các chính sách đối với trẻ em khuyết tật đã đề ra.
1.2. Quy trình thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật
1.2.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật.
1.2.2. Tổ chức thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật
1.2.3. Đôn đốc thực hiện chính sách đối với trẻ em khyết tật
1.2.4. Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm trong thực hiện chính sách đối với trẻ
em khuyết tật
1.3. Vai trò của thực hiện chính sách đối với trẻ em TEKT
1.3.1. Thực hiện định hướng của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với trẻ
em khuyết tật
1.3.2. Điều chỉnh chính sách của nhà nước đối với trẻ em khuyết tật
1.3.3. Huy động các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu chính sách đối với trẻ
em khuyết tật
1.3.4. Thực hiện an sinh xã hội đối với trẻ em khuyết tật
1.4. Các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật
1.4.1. Hệ thống thể thế nhà nước
Hiệu lực và hiệu quả của chính sách đối với trẻ em khuyết tật phụ thuộc vào
1.5.3. Kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở
nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa
1.5.4. Giá trị tham khảo cho Việt Nam
Một là, đưa ra nhiều biện pháp ngăn ngừa khuyết tật thông qua đẩy mạnh tuyền
truyền những kiến thức cần thiết, đẩy mạnh các dịch vụ chăm sóc y tế cho bà mẹ
và trẻ em, phòng tránh và căn thiệp sớm có thể gây ra khuyết tật.
Hai là, đẩy mạnh chính sách giáo dục hòa nhập để giúp trẻ khuyết tật tự tin
trong giao tiếp, hòa nhập với xã hội.
Ba là, xây dựng các công trình công cộng phù hợp cho trẻ em khuyết tật.
Bốn là, đâỷ mạnh chính sách phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật về địa
phương và gia đình.
Năm là, xây dựng một quỹ dành riêng cho trẻ em khuyết tật. Với nguồn quỹ
này các cấp, chính quyền địa phương sẽ chủ động trong việc thực hiện chính sách.
Ví dụ, như tại Nhật Bản, sau khi các em khuyết tật được đào tạo nghề nghiệp, bước
khởi nghiệp ban đầu của các em để tự lập cuộc sống thì các em được hỗ kinh phí
ban đầu từ nguồn quỹ của quốc gia và đã giúp các em giảm bớt các khó khăn trong
cuộc sống lập nghiệp giai đoạn đầu.
9
Tiểu kết chương 1
Chương 1 đã trình bày các khái niệm về TEKT, chính sách, khái quát về quy
trình tổ chức thực hiện chính sách đối với TEKT, vai trò của nhà nước trong thực
hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật, nội dung của từng chính sách đối với trẻ
em khuyết tật, các yếu tố tác động đến tổ chức thực thi chính sách cũng như kinh
nghiệm tổ chức thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở một số quốc gia và
giá trị tham khỏa cho Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu ở chương 1, học viên sử
dụng làm cơ sở nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết
tật ở Việt Nam. Việc nhận thức chung nhất về trẻ em khuyết tật là cơ sở quan
2.
Khuyết tật ngôn ngữ
21,4
3.
Khuyết tật về vấn đề hành vi
16.2
4.
Khiếm thị
14,6
5.
Khiếm thính
9,7
6.
Thiểu năng trí tuệ
3,6
giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện
kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện
để người khuyết tật và người nghèo được học văn hóa và học nghề”. Nhà nước và xã
hội luôn tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật được học văn hóa và học nghề phù hợp
bằng việc quy định chính sách học phí, học bổng phù hợp cho TEKT.
2.1.2.2. Chính sách bảo trợ xã hội
* Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng
* Đối tượng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng
* Nuôi dưỡng trẻ khuyết tật trong cơ sở bảo trợ xã hội
* Chính phủ quy định điều kiện thành lập, hoạt động, giải thể cơ sở chăm sóc
trẻ em khuyết tật.
* Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động cho cơ sở
chăm sóc trẻ em khuyết tật công lập.
* Xã hội hóa hoạt động trợ giúp trẻ em khuyết tật
2.1.2.3. Chính sách chăm sóc y tế
* Chăm sóc sức khỏe ban đầu tại nơi cư trú
* Khám bệnh, chữa bệnh
- Nhà nước bảo đảm để trẻ em khuyết tật được khám bệnh, chữa bệnh và sử
dụng các dịch vụ y tế phù hợp.
- Trẻ em khuyết tật được hưởng chính sách bảo hiểm y tế theo quy định của
pháp luật về bảo hiểm y tế.
- Gia đình có người khuyết tật, trẻ em khuyết tật có trách nhiệm tạo điều kiện
thuận lợi để trẻ em khuyết tật được khám bệnh, chữa bệnh.
2.1.2.4. Chính sách về văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch
12
- Nhà nước hỗ trợ hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch phù
hợp với đặc điểm của trẻ em khuyết tật; tạo điều kiện để trẻ em khuyết tật được
hưởng thụ văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch.
khi tham gia giao thông bằng phương tiện giao thông công cộng được giao cho các
bộ chuyên ngành theo lĩnh vực.
13
2.2.1.3. Đôn đốc thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật
Trong quá trình thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật, các bộ ngành,
các cấp chính quỳên Trung ương, địa phương, cán bộ, công chức có thẩm quyền
thường xuyên đôn đốc việc thực hiện chính sách thông qua các công cụ hữu ích
nhằm làm cho các chủ thể thực hiện nêu cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện
các biện pháp theo định hướng chính sách, không phải các địa phương nào cũng
đều làm tốt, thực hiện đúng tiến độ theo chương trình và kế hoạch.
2.2.1.4. Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách đối với
trẻ em khuyết tật
Kiểm tra, theo dõi giám sát đánh giá, sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm đã được
các Bộ, ngành và các địa phương triển khai thực hiện chính sách đối với TEKT
2.2.3. Kết quả thực hiện một số chính sách đối với trẻ em khuyết tật
2.2.2.1. Chính sách giáo dục
Nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước về việc đảm bảo bảo đầy đủ các
quyền cho trẻ khuyến tật, công tác giáo dục cho trẻ em khuyết tật đã đạt nhiều
thành tựu đáng kể:
- Ban Chỉ đạo Giáo dục trẻ em khuyết tật và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các Vụ, Cục và địa phương thực hiện các chương
trình, kế hoạch đã đề ra, các hoạt động giáo dục trẻ em khuyết tật của Bộ Giáo dục
và Đào tạo đã dần đi vào nề nếp và đạt được kết quả nhất định.
- Ban hành Thông tư liên tịch số 42/2013/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH – BTC
ngày 31/12/2013 quy định về chính sách giáo dục đối với người khuyết tật; xây
dựng nội dung quy định về chức danh nghề nghiệp đối với nhân viên hỗ trợ giáo
dục trẻ em khuyết tật trong các cơ sở giáo dục; nghiên cứu để ban hành Quy định
về thống nhất sử dụng ngôn ngữ trong toàn quốc.
2.2.2.5. Chính sách tiếp cận cơ sở hạ tầng, dịch vụ công cộng
Nhờ quán triệt tốt tinh thần và chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước
đối với trẻ em khuyết tật mà công tác đảm bảo quyền cho nhóm đối tượng này đã
đạt được nhiều kết quả tốt đẹp, chẳng hạn như tiếp cận các dịch vụ giao thông, cho
thấy, hoạt động tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về trẻ em khuyết tật được
tiến hành thường xuyên thông qua các buổi hội thảo, tập huấn. Bộ Giao thông vận
tải đã hợp tác với các cơ quan, tổ chức các tuyến xe buýt tiếp cận thí điểm tại
Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Hà Nội.
2.2.2.6. Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 – 2020
Tính đến nay, kết quả thực hiện Đề án trợ giúp người khuyết tật trong đó có trẻ
em khuyết tật đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận: 100% các xã, phường, thị
trấn trong cả nước đã thành lập Hội đồng xác nhận mức độ khuyết tật cấp xã theo
đúng quy định; 67 cơ sở trợ giúp NKT, TEKT (trong đó có 30 cơ sở công lập và 37
cơ sở ngoài công lập) cung cấp các dịnh vụ chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức
năng, dạy nghề, thể dục thể thao và văn hóa văn nghệ; các chế độ đối với NKT,
TEKT được hưởng chính sách bảo trợ xã hội tại cộng đồng và trong trung tâm bảo
trợ xã hội được thực hiện đúng quy định; trong công tác chăm sóc sức khỏe, Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo ban hành quy định về thống nhất sử dụng ngôn ngữ
15
kí hiệu trong toàn quốc, biên soạn ngôn ngữ kí hiệu dành cho các cấp học phổ
thông, xây dựng các chương trình giáo dục đặc biệt đối với trẻ khuyết tật.
2.3.1. Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở
Việt Nam
2.3.1. Kết quả thực hiện chính sách đối với TEKT ở Việt Nam
Thứ nhất, các bộ, ngành, các địa phương, các cơ quan hữu quan nghiêm túc
triển khai thực hiện Luật Người khuyết tật được Quốc hội thông qua năm 2010 và
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011; thúc đẩy thực hiện Đề án trợ giúp NKT
giai đoạn 2012 – 2020 như lên kế hoạch, đôn đốc, theo dõi, giám sát, kiểm tra việc
thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật thiếu chặt chẽ, hài hòa, không đồng
bộ nên hạn chế kết quả thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu đặt ra.
2.3.3. Nguyên nhân hạn chế trong thực hiện chính sách đối với trẻ khuyết
tật ở Việt Nam
Một là, hệ thống thể chế của Nhà nước ảnh hưởng đến thực thi chính sách đối
với trẻ em khuyết tật.
Hai là, trình độ, năng lực của một số cán bộ, công chức thực hiện chính sách
đối với trẻ em khuyết tật còn hạn chế, do đó công tác xây dựng các chương trình
giám sát, đánh giá, theo dõi thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật chưa
thật tốt; công tác thực hiện chính sách còn lúng túng; việc khảo sát, điều tra, phân
loại trẻ em khuyết tật nhẹ, đặc biệt nặng và nặng chưa chính xác đã ảnh hưởng đến
sự bất bình đẳng trong tổ chức triển khai thực hiện chính sách đối với trẻ em
khuyết tật.
Ba là, công tác phối hợp thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật còn
chưa hiệu quả.
Bốn là, công tác tuyên truyền về chế độ, chính sách đối với trẻ khuyết tật chưa
tốt, việc huy động các nguồn lực hỗ trợ trẻ em khuyết tật từ các tổ chức trong và
ngoài nước còn hạn chế, chưa hiệu quả.
Năm là, nguồn lực về tài chính, nhân lực chưa đáp ứng được với số lượng trẻ
em khuyết tật đông như hiện nay ở Việt Nam.
Tiểu kết chương 2
Chương 2 đã cung cấp những thông tin cơ bản nhất về tình hình trẻ em khuyết
tật ở Việt Nam hiện nay, thực trạng tổ chức thực hiện chính sách đối với trẻ em
khuyết tật ở Việt Nam, từ đó đưa ra những hạn chế và nguyên nhân trong thực hiện
chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt Nam. Qua phân tích thực trạng thực
hiện chính sách trên, ta nhận thấy, với khoảng 1,2 triệu trẻ em khuyết tật ở Việt
Nam, đây quả là vấn nạn khá lớn và vẫn đang có chiều hướng gia tăng do ô nhiễm
môi trường, biến đổi khí hậu, hậu quả của chiến tranh như ảnh hưởng của chất độc
da cam, của bom mìn cón sót lại từ chiến tranh, đặc biệt là tai nạn giao thông trong
những năm gần đây. Việc thực thi chính sách đối với trẻ khuyết tật ở nước ta đã đạt
cuộc sống; xây dựng và xuất bản các tác phẩm văn hóa, nghệ thuật nhằm động
viên, hướng dẫn NKT, TEKT.
Bốn là, đẩy mạnh công tác xã hội hóa việc trợ giúp về giáo dục văn hóa, đào
tạo nghề cho NKT, TEKT. Đẩy mạnh mô hình giáo dục hòa nhập, học văn hóa kết
hợp với phục hồi chức năng cho TEKT, đẩy mạnh chương trình phục hồi chức
năng đến vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Năm là, tiếp tục khuyến khích, tạo điều kiện để các tổ chức xã hội, các cá nhân
tham gia hoạt động trợ giúp NKT, TEKT.
Sáu là, nâng cao khả năng sử dụng các công trình, bảo đảm cho NKT, TEKT
ngày càng tiếp cận được dễ dàng, thuận lợi hơn. Mở rộng hoạt động văn nghệ, thể
18
dục, thể thao cho NKT, TEKT, tạo điệu kiện để người khuyết tật, trẻ em khuyết
tật có cơ hội tham gia các hoạt động xã hội, thúc đẩy hòa nhập cộng đồng.
Bảy là, tiếp tục duy trì và mở rộng hợp tác quốc tế với các tổ chức trong khu
vực và thế giới trong các hoạt động trợ giúp NKT, TEKT; tích cực hưởng ứng thực
hiện 7 lĩnh vực ưu tiên trợ giúp NKT, TEKT theo khuyến cáo Biwako; Công ước
quốc tế về quyền của NKT, Công ước quốc tế về quyền của TEKT, đẩy mạnh các
hoạt động trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm, trợ giúp kỹ thuật, đào tạo cán bộ
làm việc cùng NKT, TEKT.
3.1.2. Định hướng về giải quyết vấn đề trẻ em khuyết tật ở Việt Nam
3.1.2.1. Về an sinh xã hội
Như những trẻ em bình thường khác, để tồn tại, phát triển và có được những
quyền cơ bản, trẻ em khuyết tật cần được bảo đảm các nhu cầu cơ bản như nhu cầu
được chăm sóc về thể chất, tinh thần, được học tập; nhu cầu được bảo vệ; nhu cầu
được yêu thương; nhu cầu nhận thức và ý thức về bản thân; nhu cầu được thể hiện
bản thân. Đặc biệt bảo đảm cuộc sống bình thường cho các em.
3.1.2.2. Mục tiêu giải quyết vấn đề TEKT Việt Nam
• Mục tiêu tổng quát: Bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật, tạo hành lang
Việt Nam
3.2.1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và giáo dục nâng cao nhận thức xã
hội về trẻ em khuyết tật, phổ biến các chính sách đối với trẻ em khuyết tật
Công tác tuyên truyền phố biến nhận thức xã hội đối với trẻ em khuyết tật là
giải pháp đầu tiên và là bước đi ban đầu có ý nghĩa tiên quyết đối với hiệu quả thực
hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật.
3.2.2. Ban hành một số chính sách dành riêng cho đối trẻ em khuyết tật
Bên cạnh những chính sách, đề án dành cho người khuyết tật và trẻ em nói
chung (ví dụ như Đề án về trợ giúp người khuyết tật giai đoàn 2012 – 2020 được
Thủ tướng chính phủ ký ban hành Quyết định số 1019/QĐ – TTg về việc phê
duyệt Đề án), Đảng và Nhà nước cũng cần ban hành một số chính sách dành riêng
cho đối tượng là trẻ em khuyết tật với những hoạt động phù hợp với những đặc
điểm tâm sinh lý của nhóm chịu tổn thương kép này.
3.2.3. Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức làm
công tác thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thường xuyên tổ chức tập huấn cho
Chánh, phó Giám đốc các cơ sở bảo trợ xã hội, các Trưởng phòng Bảo trợ xã hội
thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố, Trưởng phòng tổ
chức Lao động và xã hội, lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ về nội dung hướng dẫn
triển khai Luật người khuyết tật, đặc biệt là Đề án hỗ trợ trẻ em khuyết tật giai
đoạn 2012 – 2020 bao gồm xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách, phổ
biến tuyên truyền chính sách, phân công phối hợp thực hiện chính sách, đôn đốc
thực hiện chính sách và đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm.
3.2.4. Theo dõi, giám sát, kiểm tra đánh giá, sơ tổng kết hoạt động thực hiện
chính sách đối với trẻ em khuyết tật
20
Chính phủ, Bộ, ngành cơ quan Trung ương và các địa phương cần thực hiện tốt
và đồng bộ công tác chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh về người tàn tật, Luật
cần phải xây dựng những trung tâm chăm sóc trẻ khuyết tật, đây không phải những
Trung tâm được hiểu chỉ hỗ trợ các em ăn uống và coi trông các em như những nhà
trẻ và nuôi các em cho hết cuộc đời mà đây là những Trung tâm theo một mô hình
21
tổng hợp đan xen các hoạt động bao gồm hoạt động giáo dục đặc biệt, giáo dục
chuyên biệt, giáo dục hòa nhập; hướng nghiệp và đào tạo nghề; chăm sóc y tế,
phục hồi chức năng, hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao; chăm sóc nuôi
dưỡng để các em có kỹ năng sống, có một nghề để tái hòa nhập với gia đình, cộng
đồng, giảm gánh nặng cho xã hội và trở thành những thành viên có ích cho xã hội.
Tiểu kết chương 3
Chương III đã đưa ra một loạt các giải pháp dựa trên nền tảng và bám sát các
quan điểm, đường lối của Đảng và nhà nước về người khuyết tật, trẻ em khuyết tật
được xác định trong các văn kiện đại hội Đảng, đặc biệt là tư tưởng chỉ đạo trong
nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban
chấp hành Trung ương Đảng khóa X nhằm phát huy thành tựu đã đạt được đồng
thời khắc phục những hạn chế thiếu sót trong các bước thực hiện chính sách đối
với trẻ em khuyết tật: Xây dựng chính sách, thực thi chính sách, kiểm tra giám sát.
Để trẻ em khuyết tật tiếp cận đâỳ đủ các quyền, thì chính sách đối với trẻ em
khuyết tật phải được xây dựng và hoàn thiện đồng bộ, thống nhất, phù hợp với điều
kiện kinh tế xã hội của đất nước. Hệ thống pháp luật đó phải nhằm thể chế hóa
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước để chính sách đi vào cuộc sống hàng
ngày trợ giúp trẻ khuyết tật khắc phục khó khăn, tạo môi trường cho trẻ em khuyết
tật được phát triển toàn diện. Đồng thời, còn có ý nghĩa giáo dục cộng đồng ý thức
tôn trọng trẻ em khuyết tật, nhìn nhận trẻ em khuyết tật với tư cách là một công
dân bình đẳng. Đó là cơ sở để trẻ em khuyết tật vượt qua mặc cảm, tự tin, nỗ lực
vươn lên khẳng định mình, trở thành công dân có ích cho xã hội.
22
ràng trách nhiệm của các bộ, ngành có liên quan trong việc tổ chức thực hiện; việc
quản lý các cơ sở bảo trợ xã hội, các cơ sở giúp trẻ em khuyết tật chưa được chặt
chẽ còn buông lỏng; một số chính sách chưa đến đúng đối tượng đặc biệt đối với
trẻ ở vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn, nguồn lực của nhà nước chưa đáp ứng
được với nhu cầu của trẻ em khuyết tật hiện nay…
23