Thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở việt nam - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN NGỌC HÀ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI – 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN NGỌC HÀ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03


thành phố Hà Nội thuộc sở Lao động Thương binh và Xã hội, cán bộ và nhân
viên Trung tâm chăm sóc, nuôi dưỡng và điều trị nạn nhân bị nhiễm chất độc da
cam/ Điôxin, huyện Ba Vì, TP Hà Nội thuộc sở Lao động Thương binh vã Xã
hội, các cô giáo, y bác sĩ và các mẹ bảo mẫu Làng Hữu Nghị Việt Nam thuộc
Hội Cựu Chiến binh Việt Nam đã tạo điều kiện tốt nhất, góp ý kiến, ủng hộ,
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu đề tài.
Do những điều kiện chủ quan, khách quan chắc chắn kết quả nghiên cứu
của Luận văn còn những điểm thiếu sót. Tác giả luận văn rất mong tiếp tục nhận
được những ý kiến đóng góp để hoàn thiện, nâng cao chất lượng vấn đề được
lựa chọn nghiên cứu./.
Tác giả Luận văn

Nguyễn Ngọc Hà


DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Chữ viết tắt

Chữ viết đầy đủ

NKT

Người khuyết tật

TEKT

Trẻ em khuyết tật

UBND

1.4. Các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ........... 29
1.4.1. Hệ thống thể chế nhà nước ................................................................. 29


1.4.2. Tính chất của vấn đề chính sách ......................................................... 30
1.4.3. Năng lực thực thi chính sách của cán bộ quản lý và công chức ......... 30
1.4.4. Điều kiện tài chính và cơ sở vật chất để thực thi chính sách .............. 31
1.5. Kinh nghiệm thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở một số nước
và giá trị tham khảo cho Việt Nam ..................................................................... 31
1.5.1. Kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở
Nhật Bản ....................................................................................................... 31
1.5.2. Kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật
của Malaysia ................................................................................................. 33
1.5.3. Kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở
nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa ............................................................. 37
1.5.4. Giá trị tham khảo cho Việt Nam ......................................................... 39
Tiểu kết chương 1................................................................................................ 41
Chương 2. THỰC TRẠNG TRẺ EM KHUYẾT TẬT VÀ THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM................................ 42
2.1. Thực trạng trẻ em khuyết tật và chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt
Nam hiện nay ...................................................................................................... 42
2.1.1. Thực trạng trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay ........................... 42
2.1.2. Thực trạng nội dung chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt Nam...... 43
2.2. Phân tích thực trạng thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt
Nam ..................................................................................................................... 49
2.2.1. Quy trình thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt Nam
....................................................................................................................... 49
2.2.2. Kết quả thực hiện một số chính sách đối với trẻ em khuyết tật ......... 54
2.3. Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt
Nam ..................................................................................................................... 69

cho trẻ em khuyết tật ở Việt Nam ....................................................................... 93
Tiểu kết chương 3................................................................................................ 96
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................... 100


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận văn
Trước tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp như nội chiến, nạn
khủng bố, khủng hoảng người di cư, dịch bệnh; sự biến đổi khí hậu toàn cầu, ô
nhiễm môi trường, thiên tai, tai nạn đã làm người khuyết tật, trẻ em khuyết tật
tăng lên đáng kể trong những năm gần đây. Nhiều tổ chức thế giới như Tổ chức
Lao động quốc tế, Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên Hợp Quốc,
Tổ chức Y tế thế giới, Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc và các tổ chức khác tiếp
tục khẳng định về quyền con người, quyền của trẻ em, quyền của người khuyết
tật cũng như quyền của trẻ em khuyết tật trong các Hiến chương, Công ước,
Nghị quyết đồng thời xây dựng nhiều chương trình, đề án hỗ trợ người khuyết
tật đặc biệt là trẻ em khuyết tật, tuy nhiên nhiều người khuyết tật, trẻ em khuyết
tật vẫn đang gặp nhiều khó khăn và chịu nhiều thiệt thòi, chưa được tiếp cận với
các dịch vụ dành cho người khuyết tật, nhiều trẻ em khuyết tật đang bị lãng
quên. Do đó việc xây dựng và thực hiện chính sách cho người khuyết tật và trẻ
em khuyết tật ở các nước trên thế giới là vô cùng quan trọng, giúp người khuyết
tật và trẻ em khuyết tật giảm bớt khó khăn trong cuộc sống, tự vươn lên, vượt
qua những mặc cảm, tự ti và phát triển với khả năng của mình để hòa nhập với
cộng đồng và xã hội.
Tại Việt Nam, sau chiến tranh chống Mỹ hàng triệu người bị thương và tàn
tật, những người còn sống tiếp tục phải đối mặt với các vấn đề nghiêm trọng về
kinh tế, xã hội và môi trường mà cuộc chiến đã gây ra, nhiều trẻ em dị tật bẩm
sinh do di chứng của chất độc da cam/ Đi ô xin, nhiều trẻ vẫn tiếp tục bị khuyết
tật do bom mìn chưa nổ còn sót lại sau chiến tranh. Ngoài hậu quả của chiến

tốt nhất để trẻ em khuyết tật có cuộc sống tốt đẹp và được hưởng đầy đủ các
quyền về cả tinh thần và vật chất như những trẻ em bình thường khác; cấp giấy
phép hoạt động cho các Trung tâm chăm sóc TEKT, trung tâm phục hồi chức
năng cho TEKT, hỗ trợ chính sách cho những người chăm sóc TEKT, đưa các
chương trình giáo dục phù hợp cho TEKT tại các cơ sở bảo trợ xã hội, các
Trung tâm chăm sóc TEKT, hỗ trợ kinh phí nuôi dưỡng hàng tháng, một số tỉnh,
2


thành phố đã tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề về các chính sách của Nhà
nước đối với TEKT. Song với số TEKT quá lớn như hiện nay, việc thực hiện
chính sách đối với TEKT chưa được đồng bộ, thiếu kinh phí hoạt động, thiếu
cán bộ, nhân viên có trình độ, chuyên môn và kỹ năng trong lĩnh vực này, việc
xác định mức độ khuyết tật của trẻ em ở nhiều tỉnh còn lúng túng và nhiều bất
cập, nhiều trẻ em còn bị lãng quên và bị phân biệt, đối xử. Để trẻ em khuyết tật
phát triển với khả năng thực sự của mình, hòa nhập với gia đình, với cộng đồng
nơi các em sinh ra, đưa các chương trình chăm sóc y tế, phục hồi chức năng và
giáo dục hòa nhập tại cộng đồng là một vấn đề khó khăn và đầy thách thức.
Tháo gỡ và đổi mới công tác chăm sóc trẻ khuyết tật như mục tiêu mà Đảng và
Nhà nước ta đặt ra phải quan tâm đến việc xây dựng một hệ thống chích sách
đồng bộ, phù hợp cho trẻ em khuyết tật, đặc biệt trong điều kiện kinh tế - xã hội
nước ta hiện nay.
Với mong muốn của NKT nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng có một
cuộc sống tốt đẹp hơn, được sống bình đẳng như những người bình thường khác,
không bị kỳ thị, phân biệt đối xử, có cơ hội được phát huy khả năng của mình
đáp ứng với nhu cầu bản thân và có ích cho xã hội. Vậy vai trò và thực trạng của
chính sách đối với trẻ em khuyết tật trong bối cảnh chung của đất nước ta hiện
nay đang rất cần một cái nhìn, một hướng nghiên cứu mới về thực hiện chính
sách đối với TEKT. Để hoàn thiện việc thực hiện chính sách đối với trẻ em
khuyết tật ở Việt Nam đáp ứng với yêu cầu hiện nay, tôi chọn đề tài “Thực hiện

- Đề tài ”Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên ở cộng đồng Việt Nam”,
của Nguyễn Hữu Toàn (2010). Tác giả cho rằng trợ giúp xã hội không chỉ là cứu
đói, hỗ trợ lương thực, cho cá nhân, hộ gia đình chịu hậu quả thiên tai, chiến
tranh, tai nạn, mà còn mở rộng thành các hợp phần chính sách là trợ giúp đột
xuất và trợ giúp thường xuyên. Mỗi hợp phần chính sách lại bao gồm các chính
sách bộ phận đặc biệt như chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng
đồng gồm các chính sách bộ phận là: trợ cấp xã hội hàng tháng, trợ giúp về y tế,
trợ giúp về giáo dục, trợ giúp về việc làm, trợ giúp về học nghề. Đồng thời trong
bài viết cũng chỉ ra được số lượng người khuyết tật (2008) trên cả nước và phạm
vi phân bổ người khuyết tật, dạng khuyết tật và số lượng người khuyết tật cũng
4


như nhu cầu của người khuyết tật và việc đáp ứng nhu cầu của người khuyết tật
cũng như các chính sách cho người khuyết tật Việt Nam.
- Tác giả Trịnh Thắng và các cộng sự (2011), “Báo cáo về trẻ khuyết tật tại
An Giang và Đồng Nai năm 2011”. Baó cáo phân tích tình hình chung về kiến
thức, thái độ và hành vi của cộng đồng đối với trẻ khuyết tật ở hai tỉnh Đồng Nai
và An Giang; phân tích các yếu tố ảnh hưởng thái độ và hành vi của mọi người
đối với trẻ khuyết tật; đưa ra các đề xuất để phát triển chiến lược truyền thông và
các khuyến nghị chính đối với các nhà hoạch định chính sách.
- Tác giả Trần Nam, trong Mục chính sách và pháp luật, Hội nạn nhân Chất
độc Da cam/Dioxin – Việt Nam, năm 2012, “Chính sách đối với người bị nhiễm
chất độc hóa học còn nhiều bất cập”. Bài báo đề cập đến việc điều tra, khảo sát
các nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam/đi ô xin trên địa bàn tỉnh Bình Thuận;
việc thực hiện chính sách đối với nạn nhân chất độc da cam còn nhiều bất cập,
gây thiệt thòi cho các đối tượng; một số kiến nghị với Chính phủ và các bộ,
ngành có liên quan như Bộ Lao động TBXH, Bộ Y tế sớm ban hành Quy trình
xác định nạn nhân chất độc da cam/Điôxin.
- Ban Điều phối các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam, Bộ Lao

đến các dạng khuyết tật, tỷ lệ người khuyết tật và trẻ em khuyết tật đang có xu
hướng gia tăng do điều kiện vị trí địa lý của nước ta, thời tiết khắc nhiệt, ô
nhiễm môi trường và do nguyên nhân nhiều gia đình có người khuyết tật và
người khuyết tật dấu tình trạng khuyết tật của mình. Bài báo đề cập giải pháp
giảm thiểu sự gia tăng người khuyết tật và trẻ em khuyết tật.
- Tác giả Nguyễn Đức Minh, năm 2015, bài báo “Chính sách giáo dục hòa
nhập trẻ khuyết tật Việt Nam”. Đảng và Nhà nước đã tạo sự bình đẳng cho trẻ
em khuyết tật Việt Nam cơ hội tiếp cận với giáo dục hòa nhập, nhưng trên thực
tế tỷ lệ trẻ tiếp cận với lĩnh vực này còn rất hạn chế, đó là do những quy định
trong luật người khuyết tật chưa sát với thực tiễn, chính sách chưa cụ thể, việc
xác nhận là người khuyết tật thường được kiểm tra bằng y tế, chưa sử dụng các
hình thức kiểm tra tâm lý do đó nhiều trẻ em là trẻ khuyết tật chưa được xác
định đúng về mức độ khuyết tật của mình.

6


Mặc dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu về trẻ em, trẻ em khuyết tật, nhưng
chưa có một nghiên cứu nào đề cập một cách hệ thống việc thực hiện chính sách
đối với trẻ em khuyết tật ở Việt Nam, do đó việc lựa chọn của em không trùng
với các công trình nghiên cứu khác.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài để hoàn thiện quy trình thực hiện chính sách đối với
TEKT ở Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu việc thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật từ góc độ
lý luận.
- Phân tích thực trạng việc thực hiện chính sách đối với TEKT ở Việt Nam
từ đó chỉ ra những nguyên nhân trong quá trình thực hiện chính sách.

- Phương pháp chuyên gia
6. Đóng góp của luận văn
6.1. Về lý luận
- Luận văn đã hệ thống cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đối với trẻ em
khuyết tật ở Việt Nam
6.2. Về thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong
nghiên cứu, giảng dạy, học tập và cho các nhà hoạch định chính sách đối với trẻ
em khuyết tật, các cấp chính quyền địa phương.
7. Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở khoa học về thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt Nam
Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quy trình thực hiện chính
sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt Nam

8


Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT
1.1. Khái niệm về trẻ em khuyết tật và thực hiện chính sách đối với trẻ
em khuyết tật
1.1.1. Trẻ em khuyết tật
1.1.1.1. Trẻ em
Trong Công ước về quyền trẻ em 1989, văn kiện quốc tế cơ bản, toàn diện
nhất về trẻ em tính đến thời điểm này đã định nghĩa “Trẻ em có nghĩa là bất kỳ
người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ
em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” (Điều I). Và để làm rõ khái niệm trẻ
em, ngay trong lời nói đầu của công ước đã nêu rõ “trẻ em, do còn non nớt về

quốc thông qua vào tháng 03/2007. Đây là điều ước quốc tế đầu tiên về quyền
con người của Liên hợp quốc trong thế kỷ XXI, đánh dấu một bước ngoặt trong
cuộc đấu tranh cho quyền của những người khuyết tật trên thế giới. Theo đó, tại
Điều 1 Công ước, người khuyết tật bao gồm “Những người có khiếm khuyết lâu
dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào
cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ
vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”. Mặc dù vẫn còn những
quan điểm khác nhau về những thuộc tính cấu thành khái niệm “người khuyết
tật”, tuy nhiên, đây là lần đầu tiên có một định nghĩa về “người khuyết tật” được
ghi nhận trong pháp luật quốc tế về quyền con người, nó là cơ sở trong việc bảo
vệ và thúc đẩy quyền của nhóm đối tượng này.
Tại Trung Hoa, Điều 2 Luật của nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa về
bảo vệ người khuyết tật năm 1990 quy định.
Người khuyết tật là một trong những người bị bất thường, mất mát của một
cơ quan nhất định hoặc chức năng tâm lý hay sinh lý, hoặc trong cấu trúc giải
phẫu và những người đã mất toàn bộ hoặc một phần khả năng tham gia vào các
hoạt động một cách bình thường.

10


Người khuyết tật là những người có thính giác, thị giác, lời nói hoặc khuyết
tật về thể chất, chậm phát triển tâm thần, rối loạn tâm thần, khuyết tật nhiều và/
hoặc khuyết tật khác.
Tại Ấn Độ, Luật người khuyết tật ban hành năm 1995 của Ấn Độ định
nghĩa khuyết tật bao gồm những tình trạng bị mù, nghe kém, bệnh phong; thị lực
kém; suy giảm khả năng vận động; chậm phát triển trí óc và mắc bệnh về tâm
thần.
Tại Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về người
khuyết tật. Đại đa số đều dùng từ khuyết tật và tàn tật để chỉ cùng một khái

1.1.1.3. Phân loại trẻ em khuyết tật theo loại dị tật
Theo luật người khuyết tật thì khuyết tật được chia làm các loại sau;
- Khuyết tật vận động:
Là dạng khuyết tật ảnh hưởng đến khả năng vận động, di chuyển: Khó khăn
trong việc ngồi, đi, đứng; Người bị yếu, liệt hoặc hạn chế vận động tay, chân,
lưng, cổ; Người bị dị tật, bị biến dạng ở đầu, cổ, lưng hoặc tay, chân.
- Khuyết tật nghe nói:
Những người khuyết tật thuộc nhóm này là những người yếu kém khả năng
nghe nên cần phải có những dụng cụ trợ thính để giúp họ nghe được tiếng nói
của người khác; vì không nghe được nên khả năng nói của họ cũng rất yếu kém.
Các biểu hiện như sau: Khó khăn khi nói hoặc không nói được, khó khăn
khi nghe hoặc không nghe được, bị biến dạng ở vùng tai, mũi và miệng.
- Khuyết tật nhìn: Là những người rất yếu kém khả năng nhìn, dù đã đeo
kính, khiến hạn chế hoạt động cần nhìn bằng mắt: khó khăn khi nhìn hoặc không
nhìn thấy đồ vật trong nhà, khó khăn khi phân biệt màu sắc hoặc không phân
biệt được các màu sắc, bị dị tật hoặc biến dạng ở vùng mắt.
- Khuyết tật thần kinh, tâm thần:
Là người suy yếu về cảm xúc, suy nhược tinh thần hoặc mắc bệnh tâm lý
khiến cho những nhu cầu của cá nhân và những nhu cầu mang tính xã hội của họ
bị hạn chế. Những biểu hiện thể hiện khuyết tật này:
Thường ngồi một mình, chơi một mình, không bao giờ nói chuyện hoặc
quan tâm đến bất kỳ ai. Có chứng hành vi bất thường như kích động, cáu giận
12


hoặc sợ hãi vô cớ hoặc có hành vi hủy hoại bản thân như đập đầu, cắn tay chân
của chính mình, bất ngờ dựng mọi hoạt động, mở mắt trừng trừng không chớp,
co giật tay, môi, mặt hoặc bất thình lình ngã xuống, co giật, sùi bọt mép, gọi hỏi
không biết.
- Khuyết tật trí tuệ:

chung ở những trẻ khuyết tật vận động, khuyết tật nghe, nói, khuyết tật nhìn là
đều có bộ não phát triển bình thường. Nếu được quan tâm, tạo môi trường thuận
lợi, rèn luyện từ sớm và thường xuyên thì TEKT vẫn có thể tiếp thu được
chương trình học tập, làm việc, tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội của
cộng đồng. Do đó, việc phân loại rõ ràng, chính xác trẻ khuyết tật là cơ sở để
thực hiện các hoạt động phù hợp với từng dạng tật của trẻ, giúp trẻ phát triển
năng lực bản thân, tự tin trong cuộc sống.
Mang trong mình khiếm khuyết về cơ thể như người khuyết tật nói chung,
lại vừa là những công dân còn non nớt về mặt thể chất và tinh thần giống như
biết bao trẻ bình thường khác, trẻ em khuyết tật với tư cách là nhóm bị tổn
thương kép đã phải chịu rất nhiều thiệt thòi do tình trạng khuyết tật đem lại.
Những thiệt thòi đó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của bản thân trẻ và gia
đình có trẻ khuyết tật, ảnh hưởng đến việc tham gia các hoạt động xã hội của trẻ.
Do vậy, xác định được nguyên nhân dẫn đến tình trạng khuyết tật, tính chất,
mức độ khuyết tật và phân loại được trẻ em khuyết tật sẽ có tác dụng trong việc
ngăn ngừa, giảm bớt số lượng trẻ khuyết tật đang ngày càng gia tăng, từ đó hạn
chế tình trạng trẻ em bị thiệt thòi, đồng thời phân loại trẻ khuyết tật còn là cơ sở
để áp dụng các chính sách, biện pháp phù hợp nhằm bảo vệ, hỗ trợ, giúp đỡ trẻ
khuyết tật vượt qua khó khăn trong cuộc sống, vươn lên hòa nhập cộng đồng.
1.1.1.4. Đặc điểm của trẻ em khuyết tật
Do chấn thương hay do bệnh bại liệt gây ra làm què cụt, khoèo, liệt chân
tay, ngoài ra trẻ em khuyết tật vận động do tổn thương khu vận động lão bộ. Sự
phát triển nhận thức của trẻ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tham gia các hoạt
động trong môi trường xung quanh trẻ khuyết tật vận động khó đạt được trình độ
nhận thức cũng như những trải nghiệm như mọi trẻ bình thường khác. Chẳng
hạn, trẻ không thể có cảm giác mỏi chân nếu như trẻ bại liệt đôi chân không thể
14


đi được, không thể leo trèo được thì khó có cảm giác về độ cao và kỹ năng lấy


góc độ quản lý, chính trị hay hành chính. Tiếp cận dưới góc độ quản lý , “chính
sách” được xem ở hai mức độ phạm vi:
Ở phạm vi hẹp, chính sách đặt trong mối quan hệ giữa chủ thể và đối
tượng quản lý, là những quy định, điều kiện của chủ thể quản lý đặt ra và thực
thi nhằm đưa hoạt động của đối tượng quản lý theo ý chí, mục đích của mình.
Rộng hơn, chính sách đặt trong mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách
thể quản lý còn được hiểu như là những đối sách, ứng xử của tổ chức, quốc gia
đối với môi trường xã hội, tự nhiên và chính trị mà chính thể đó tồn tại. Nhất là
trong hệ thống mở về kinh tế, chính trị – xã hội hiện đại, ở đó xuất hiện nhiều
mối quan hệ với những vị trí, vai trò, sự tương tác khác nhau.
James Anderson đã khái quát: “chính sách là một đường lối hành động có
mục đích được ban hành bởi một hoặc một nhóm các nhà hoạt động để giải
quyết một vấn đề phát sinh hoặc vấn đề quan tâm”. Khái niệm này ở Việt Nam
được hiểu “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ
thể quyền lực, hoặc một chủ thể quản lý đưa ra, trong đó có sự ưu đãi một hoặc
một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt
động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu nào đó trong chiến lược phát triển
của một hệ thống xã hội”,
Theo Vũ Cao Đàm, thì chính sách là một thiết chế xã hội, bao gồm tập hợp
nhiều thiết chế: thiết chế bất thành văn, thiết chế công bố và thiết chế ngầm
định. Trong khuôn khổ luận án, chúng tôi chỉ đề cập đến thiết chế thành văn tức
là những chính sách được pháp luật quy định gần với nội dung quản lý nhà
nước.
- Chính sách đối với trẻ em
Chính sách đối với trẻ em là các quan điểm, cách thức, biện pháp của nhà
nước nhằm cụ thể hóa đường lối của Đảng cầm quyền tác động đến lĩnh vực
giáo dục, bảo vệ và chăm sóc trẻ em. Đó là các chính sách và chương trình hỗ
trợ nuôi dưỡng, chăm sóc thay thế; trợ giúp giáo dục, y tế, chỉnh hình, phục hồi
chức năng; hỗ trợ học nghề, tạo việc làm; chính sách và chương trình tiếp cận

Thứ hai, Thực hiện chính sách đối với TEKT là hành vi phù hợp với pháp
luật về TEKT. Đó là những hành vi cụ thể của con người song thực hiện chính
17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status