Kích cầu đầu tư – Lý thuyết và thực tiễn
LỜI NÓI ĐẦU
Vừa qua cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ đã nhanh chóng lan ra toàn cầu
gây ra hậu quả hết sức to lớn đối với nền kinh tế thế giới. Nền kinh tế Việt Nam
cũng không nằm ngoài khu vực bị ảnh hưởng nhất là khi chúng ta trở thành
thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO). Khủng hoảng có
những ảnh hưởng tiêu cực tới nhiều mặt của đời sống xã hội và các nhà kinh tế
học trên thế giới, chính phủ các nước nói chung cũng như chính phủ Việt Nam
nói riêng cũng đã làm hết sức mình để đưa nền kinh tế của quốc gia mình thoát
khỏi khủng hoảng. Bằng việc xem xét lại các lý thuyết kinh tế đang được áp
dụng hiện nay đặc biệt là lý thuyết bàn tay hữu hình với sự can thiệp điều tiết
nền kinh tế của nhà nước, các quốc gia đã có những chính sách kinh tế với
những gói giải cứu kinh tế nhằm kích cầu đầu tư, tiêu dùng, tạo công ăn việc
làm nhằm ngăn chặn đà suy giảm kinh tế. Chính sách kích cầu kinh tế bên cạnh
những mặt tích cực thì cũng có những hạn chế. Nhận thức được những hạn chế
này sẽ giúp chính phủ có được những sự lựa chọn thích hợp trong việc thực thi
chính sách. Nhóm sinh viên chuyên ngành kinh tế đầu tư chúng em với mong
muốn tìm hiểu, vận dụng những kiến thức chuyên ngành để đi sâu tìm hiểu vấn
đề thực tiễn. Điều đó thôi thúc chúng em tiến hành nghiên cứu đề tài:” Kích cầu
đầu tư - Lý thuyết và thực tiễn tiễn”. Trong đề tài thảo luận này chúng em đưa
ra một số vấn đề lý luận chung về đầu tư và kích cầu đầu tư, tình hình thực tiễn
kích cầu đầu tư ở Việt Nam hiện nay và đề xuất một số giải pháp nhằm kích cầu
đầu tư có hiệu quả.
Nhóm thảo luận chúng em xin chân thành cám ơn PGS.TS Từ Quang
Phương cùng các thầy cô giáo trong bộ môn kinh tế đầu tư đã giúp đỡ chúng em
thực hiện bài viết này. Do hạn chế về mặt thời gian cũng như kiến thức nên bài
viết không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng em rất mong nhận được những
góp ý của thầy cô để bài viết hoàn thiện hơn.
- 1 -
Kích cầu đầu tư – Lý thuyết và thực tiễn
2.5. Nguồn vốn cho kích cầu đầu tư………...………….…………………24
2.5.1. Vốn trái phiếu chính phủ……………………...……………………24
2.5.2. Vốn ngân sách nhà nước……………………...……………………25
2.5.3. Quỹ dự trữ ngoại hối………………………….……………………25
2.5.4. In tiền……………………………………….………………………26
2.5.5. Vay nợ nước ngoài…………………………………………………26
2.5.6. Trì hoãn trả nợ…………………………..…………………………27
2.6. Các công cụ, biện pháp sử dụng………...……………………………27
2.6.1. Nhóm chính sách tiền tệ……………………….…………………27
2.6.2. Nhóm chính sách tài khóa……………………….…………………30
2.6.3. Nhóm chính sách giải pháp khác……………………...……………30
2.7. Kinh nghiệm kích cầu đầu tư trên thế giới………………………32
2.8. Nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kích cầu đầu tư………..……………34
2.8.1. Độ trễ chính sách…………………………………...………………34
- 2 -
Kích cầu đầu tư – Lý thuyết và thực tiễn
2.8.2. Quá trình tổ chức thực hiện chính sách……………….……………35
Chương II: Thực tiễn kích cầu đầu tư ở Việt Nam
I. Thực tiễn kích cầu đầu tư trước khủng hoảng kinh tế 2007…………...……37
1. Tình hình kinh tế -xã hội Việt Nam giai đoạn 1986_2007……....……37
2. Tình hình kích cầu đầu tư của Việt Nam giai đoạn 1986_2007……..…39
II. Thực tiễn kích cầu đầu tư ở Việt Nam giai đoạn 2007_nay……….……49
1. Khủng hoảng kinh tế thế giới và ảnh hưởng tới Việt Nam…………….49
2. Nội dung kích cầu của một số nước trên thế giới và của Việt Nam……52
2.1. Nội dung kích cầu của một số nước trên thế giới………….…………52
2.2. Nội dung kích cầu ở Việt Nam……………….………………………55
2.2.1. Gói kích cầu thứ nhất………………….………………………….55
2.2.1.1. Nội dung cụ thể goi kích cầu…………..…………………………55
2.2.1.2. Công cụ biện pháp thực hiện……………..………………………56
2.2.1.3. Tình hình thực hiện………………………………………………61
1. Khái niệm đầu tư :
Đầu tư nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các
hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các
nguồn lưc đã bỏ ra để đạt đươc các kết quả đó. Như vậy, mục tiêu của mọi công
cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn với những hi sinh về nguồn lực mà
người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư.
2. Cầu đầu tư
2.1. Khái niệm:
Cầu đầu tư là tất cả nhu cầu của doanh nghiệp về hàng hóa vật tư, máy
móc, dịch vụ…và nguồn tài chính để duy trì hay mở rộng sản xuất của doanh
nghiệp đó trong một thời gian nhất định.
2.2. Các nhân tố tác động tới cầu đầu tư
Nhu cầu đầu tư của các cá nhân, các doanh nghiệp và của chính phủ có
vai trò quan trọng đối với nền kinh tế bởi đầu tư là một bộ phận chính cấu thành
nên tổng cầu. Vì vậy cần xem xét kĩ lưỡng các yếu tố tác động đến cầu đầu tư
dưới đây để thấy được yếu tố nào tác động ít, yếu tố nào tác động nhiều và xu
hướng tác động của các yếu tố như thế nào để đưa ra chính sách kích cầu phù
hợp và đem lại hiệu quả mong muốn cho nhà đầu tư.
2.2.1. Lợi nhuận kì vọng
2.2.1.1. Lí thuyết của Keynes:
- Lợi nhuận kỳ vọng là khoản lợi nhuận mà chủ đầu tư mong muốn, hi
vọng sẽ thu được trong tương lai khi đưa ra quyết định đầu tư. Theo lí thuyết
của Keynes, lợi nhuận kì vọng là 1 trong 2 nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến quyết
đầu tư của doanh nghiệp. Nếu lợi nhuận kì vọng lớn, nhà đầu tư sẵn sàng bỏ vốn
để kinh doanh. Lợi nhuận cao sẽ kích thích nhu cầu đầu tư, ngược lại nếu lợi
nhuận kì vọng thấp và nhỏ hơn tiền lãi thu được khi gửi tiền vào các ngân hàng
thì các nhà đầu tư sẽ không bỏ tiền vào sản xuất kinh doanh mà thay vào đó, họ
gửi tiền vào ngân hàng.
- Mặt khác, theo ông thì hiệu quả biên của vốn đầu tư phụ thuộc vào tỷ
suất đầu tư của số tiền đầu tư mới. Do đó vốn đầu tư càng tăng thì hiệu quả biên
lợi nhuận kì vọng.
2.2.1.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận kì vọng
+ Cung – cầu hàng hóa:
Trong các giai đoạn của 1 dự án thì giai đoạn chuẩn bị đầu tư được xem là
khâu quan trọng nhất. Việc xác định cung cầu hàng hóa cho sản phẩm của dự án
có vai trò rất lớn ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư.
Nghiên cứu cầu hàng hóa để đảm bảo sản phẩm bán ra có thể tiêu thụ
được. Cầu hàng hoá trước hết phụ thuộc vào sức mua chung của người dân, đó
là tỷ lệ tiêu dùng (C) chia cho thu nhập khả dụng của từng người dân (Yd) với
tổng số dân cư của địa phương hay của một quốc gia. Như vậy cầu hàng hóa phụ
thuộc vào thu nhập, mức sống, thói quen tiêu dùng và thị hiếu của người dân.
Cung hàng hóa là mức độ và khả năng đáp ứng nhu cầu trong 1 thời điểm
nhất định. Trước hết nó phụ thuộc vào khả năng sản xuất xã hội, tức là khả năng
cung ứng và kết hợp các yếu tố đầu vào của sản xuất như lao động, vốn, công
nghệ...Ngoài ra nó còn phụ thuộc vào hàng nhập khẩu và khả năng phân phối,
lưu thông hàng hóa.
+ Mức độ rủi ro:
Một trong những đặc điểm của đầu tư phát triển là thời kì đầu tư và thời
gian vận hành kết quả đầu tư kéo dài, nguồn vốn chi cho đầu tư khá lớn, nghĩa là
kèm theo với mức độ rủi ro cao. Từ đó nó ảnh hưởng lớn đến yếu tố lợi nhuận kì
vọng. Phạm vi ảnh hưởng của rủi ro là rất rộng, ví dụ như những thay đổi không
lường trước được của giá cả, công nghệ,… Vấn đề là khả năng quản trị rủi ro
của doanh nghiệp như thế nào, mức độ phát triển của các dịch vụ hạn chế rủi ro
- 5 -
Kích cầu đầu tư – Lý thuyết và thực tiễn
(bảo hiểm, tín dung,..) và quan trọng nhất là sự ổn định của môi trường đầu tư cả
về kinh tế, xã hội và chính trị.
+ Các nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất:
Với mỗi dự án, khi nhà đầu tư quyết định bỏ vốn đầu tư thì họ phải xác
định được các yêu tố đảm bảo cho quá trình thực hiện đầu tư cũng như vận hành
Do đó, dự án nào đem lại lợi nhuận cao sẽ được lựa chọn. Vì lợi nhuận
cao, thu nhập giữ lại cho đầu tư sẽ lớn và mức đầu tư sẽ cao hơn. Nguồn vốn có
thể huy động cho đầu tư bao gồm: lợi nhuận giữ lại, tiền trích khấu hao, đi vay
các loại trong đó bao gồm cả việc phát hành trái phiếu và bán cổ phiếu. Lợi
nhuận giữ lại và tiền trích khấu hao tài sản là nguồn vốn nội bộ của doanh
nghiệp, còn đi vay và phát hành trái phiếu, bán cổ phiếu là nguồn vốn huy động
từ bên ngoài. Vay mượn thì phải trả nợ, trường hợp nền kinh tế lâm vào tình
trạng suy thoái, doanh nghiệp có thể không trả được nợ và lâm vào phá sản. Do
đó việc đi vay không phải là hấp dẫn, trừ khi có ưu đãi. Cũng tương tự, việc tăng
- 6 -
Kích cầu đầu tư – Lý thuyết và thực tiễn
vốn đầu tư bằng phát hành trái phiếu cũng không phải là biện pháp hấp dẫn, còn
bán cổ phiếu để tài trợ cho đầu tư chỉ được các doanh nghiệp áp dụng khi hiệu
quả của dựa án đầu tư là rõ ràng và thu nhập do dự án đem lại trong tương lai sẽ
lớn hơn chi phí đã bỏ ra.
Chính vì vậy, theo lí thuyết quỹ đầu tư nội bộ thì doanh nghiệp thường
chọn biện pháp tài trợ cho đầu tư từ các nguồn vốn nội bộ và chính sự gia tăng
của lợi nhuận sẽ làm cho mức đầu tư của doanh nghiệp lớn hơn.
2.2.3. Lãi suất tiền vay
Vốn là một yếu tố quan trọng trong hoạt động đầu tư, do đó với tư cách là
chi phí sử dụng vốn (hay giá của vốn) thì lãi suất ảnh hưởng lớn đến các chỉ tiêu
tài chính của dự án. Các nhà đầu tư thường vay tiền để đầu tư và lãi suất phản
ánh giá của khoản tiền vay mượn đó. Nếu giá vay tiền (giá của vốn) cao hơn tỉ
suất lợi nhuận bình quân thì nhà đầu tư sẽ cắt giảm quy mô đầu tư và ngược lại.
Cần phân biệt các loại lãi suất: lãi suất cơ bản (do ngân hàng nhà nước
quy định, các tổ chức tài chính không được cho vay với lãi suất lớn hơn 150%
so với lãi suất cơ bản); lãi suất cho vay sản xuất, cho vay tiêu dùng, cho vay đầu
tư tài chính, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất liên ngân hàng, lãi suất chiết khấu, tái
chiết khấu. Sự chênh lệch giữa các loại lãi suất góp phần điều tiết sự phân bổ
vốn trong nền kinh tế.
có thể vốn đầu tư trong nước sẽ chảy ra nước ngoài do đó không làm tăng tổng
đầu tư trong nước.
Trên thực tế có trường hợp doanh nghiệp vẫn tăng qui mô vốn đầu tư khi
lãi suất cho vay ở mức cao. Đó là những trường hợp mà doanh nghiệp nhận thấy
được rằng mở rộng qui mô sản xuất sẽ thu được lợi nhuận cao hoặc những hoạt
động kinh doanh mạo hiểm với mức độ rủi ro cao hoặc những doanh nghiệp vừa
và nhỏ sử dụng ít vốn vay hơn nên tác động của lãi suất đến quyết định đầu tư là
không lớn dẫn đến họ vẫn quyết định đầu tư. Và cũng có những trường hợp khi
lãi suất cho vay thấp nhưng doanh nghiệp vẫn không tăng qui mô vốn đầu tư vì
họ cho rằng mở rộng qui mô vốn đầu tư không làm tăng lợi nhuận cũng như việc
tăng qui mô cũng làm tăng độ rủi ro lên.
Do đó việc lãi suất tăng cao hay giảm xuống luôn luôn gây bất lợi cho nền
kinh tế cho nên việc điều hành chính sách của nhà nước cũng như ngân hang sao
cho lãi suất giữ ở mức ổn định vừa kích thích đầu tư vừa kiềm chế được lạm
phát, phát triển nền kinh tế.
2.2.4. Tốc độ phát triển của sản lượng quốc gia
Đây là một chỉ tiêu vĩ mô ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều yếu tố khác.
- Nhu cầu về sản lượng sản phẩm hay việc thay đổi sản lượng là nhân tố
ảnh hưởng đến việc tăng hay giảm qui mô vốn đầu tư. Ví dụ: Khi GDP tăng
- 8 -
D
i
I
O
i
0
i
1
I
0
tăng trưởng cao, sản lượng nền kinh tế tăng, cơ hội kinh doanh lớn, dẫn đến tiết
kiệm tăng cao và đầu tư tăng nhiều.
Tuy nhiên, nó còn có 1 số hạn chế :
Thứ nhất, ở đây giả định quan hệ giữa sản lượng và đầu tư là cố định.
Thực tế đại lượng này (x) luôn biến động do sự tác động của nhiều nhân tố khác.
Thứ hai, thực chất lí thuyết đã xem xét sự biến động của đầu tư thuần (NI)
chứ không phải sư biến động của tổng đầu tư do sự thay đổi của sản lượng. Thật
vậy, từ công thức (*) ở trên có thể viết:
Tại thời điểm t: Kt =x * Yt (1)
Tại thời điểm (t-1): Kt-1 = x * Yt-1 (2)
Lấy (1) trừ (2) ta có :
Kt – Kt-1 =x*Yt –x*Yt-1 = x*(Yt – Yt-1)
Trong đó (Kt–Kt-1) là đầu tư ròng và bằng (It – D), với D là khấu hao
Do đó, (It – D) = (Kt –Kt-1) = x*(Yt – Yt-1) =x*∆Y
Và đầu tư ròng : ∆I = x.∆Y
Như vậy theo lí thuyết này thì đầu tư ròng là hàm của sự gia tăng sản
lượng đầu ra. Nếu sản lượng tăng, đầu tư ròng tăng (lớn hơn x lần).
Nếu sản lượng giảm, đầu tư thuần sẽ âm.
- 9 -
Kích cầu đầu tư – Lý thuyết và thực tiễn
Nếu tổng cầu về sản lượng trong thời gian dài không đổi, đầu tư ròng sẽ
bằng không. Khi ∆Y = 0 thì ∆I = 0
Thứ ba, theo lí thuyết này thì toàn bộ vốn đầu tư mong muốn đều được
thực hiện ngay trong cùng 1 thời kì. Điều này không đúng vì nhiều lí do, chẳng
hạn như do việc cung cấp các yếu tố có liên quan đến vốn đầu tư không đáp ứng,
do cầu vượt quá cung…Do đó, lí thuyết gia tốc đầu tư tiếp tục được hoàn thiện
qua thời gian. Theo lí thuyết đầu tư sau này thì vốn đầu tư mong muốn được xác
định như là một hàm của mức sản lượng hiện tại và quá khứ, nghĩa là quy mô
đầu tư mong muốn được xác định trong thời gian dài hạn.
2.2.5. Chu kì kinh doanh
công chúng chỉ muốn giữ một số tiền nhất định đủ cho nhu cầu sử dụng,họ
muốn đầu tư vào những tài sản thay thế có lợi tức dự kiến cao như đầu tư vao
chứng khoán công ty bởi vì khi nền kinh tế ổn định thì thị trường chứng khoán
trở nên ổn định hơn, rủi ro chứng khoán giảm và hấp dẫn các nhà đầu tư hơn.
2.2.6. Đầu tư của Nhà nước
Trong tổng đầu tư xã hội bao gồm đầu tư của nhà nước và đầu tư của
doanh nghiệp.
Tổng đầu tư xã hội = Đầu tư nhà nước + Đầu tư tư nhân
Các dự án đầu tư từ nguồn vốn của nhà nước không nhằm mục đích thu
lợi mà tác dụng trợ giúp, điều tiết, định hướng cho đầu tư của toàn xã hội.
Thông qua ngân sách, chính phủ có thể đầu tư phát triển mạng lưới
giao thông, viễn thông, cơ sở hạ tầng, các khu công nghiệp…điều này nhằm cải
thiện môi trường đầu tư, khuyến khích các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp đầu
tư vào các vùng, ngành theo quy hoạch của chính phủ, hướng nền kinh tế phát
triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn từ ngân sách nhà nước,
nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát
triển của doanh nghiệp nhà nước.
Ở nước ta hiện nay các doanh nghiệp nhà nước vấn giữ vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế, nguồn vốn của họ chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng vốn
đầu tư toàn xã hội, tổng vốn vay từ các ngân hàng thương mại và từ nước ngoài.
Vì vậy mỗi động thái trong hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp này đều có
tác động ít nhiều đến các hành vi của các chủ đầu tư khác trong nền kinh tế. Nói
cách khác, đầu tư nhà nước dẫn đường cho đầu tư của tư nhân, của các doanh
nghiệp đi sau.
Đầu tư nhà nước chịu ảnh hưởng của các yếu tố như thâm hụt ngân sách,
nợ nước ngoài, các quy hoạch kinh tế xã hội, tỷ lệ thất thoát, tham nhũng, tốc độ
giải ngân vốn, các thủ tục khi sử dụng vốn nhà nước.
Do vậy, đầu tư nhà nước vừa là đòn bẩy kích thích đầu tư tăng cao góp
phần làm cho tổng đầu tư xã hội tăng nếu hoạt động đầu tư nhà nước có hiệu
vậy cần chú ý đến công tác đầu tư chuẩn bị hệ thống cơ sở hạ tầng để thu hút các
nhà đầu tư, tạo cho họ sự tin cậy để bỏ vốn đầu tư.
Một môi trường đầu tư ổn định cả về kinh tế, xã hội và chính trị sẽ thúc
đẩy các nhà đầu tư bỏ vốn để đầu tư phát triển. Trong đó, việc đưa ra các chính
sách nhằm tăng lòng tin cho các nhà đầu tư cần được chính phủ quan tâm. Chính
sách và hành vi của chính phủ có ảnh hưởng mạnh thông qua tác động của nó
đến chi phí, rủi ro và các rào cản cạnh tranh.
2.2.8. Thuế thu nhập doanh nghiệp
Đây là loại thuế đánh vào lợi nhuận của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ
phải chia sẻ với chính phủ một phần lợi nhuận của mình, nhưng với họ đầu tư
vẫn hợp lí, vẫn tiếp tục tăng đầu tư khi giá thuê tư bản ( lãi suất thực tế của vay
vốn tư bản đầu tư) cao hơn chi phí tư bản và sẽ cắt giảm đầu tư khi giá thuê thấp
hơn chi phí tư bản.
Tuy loại thuế đánh vào lợi nhuận theo cách này không làm thay đổi động
cơ đầu tư nhưng lại cản trở đầu tư vì các doanh nghiệp phải trích khấu hao dựa
trên chi phí lịch sử, tức là phần trích khấu hao được tính trên cơ sở giá mua tư
bản ban đầu. Trong thời kì lạm phát, chi phí thay thế lớn hơn chi phí lịch sử nên
thuế thu nhập doanh nghiệp có xu hướng đánh giá quá cao lợi nhuận, thậm chí
vẫn đánh thuế ngay cả khi lợi nhuận của doanh nghiệp bằng không, từ đó làm
cho việc chi tiêu vào đầu tư trở nên ít hấp dẫn hơn, cản trở hoạt động đầu tư.
Bên cạnh đó thì việc miễn thuế đầu tư lại là một quy định trong luật thuế
nhằm mục tiêu khuyến khích đầu tư. Phần miễn thuế đầu tư sẽ làm giảm mức
thuế mà doanh nghiệp phải nộp khi chi tiêu cho đầu tư, họ sẽ dành khoản tiền đó
để mua hàng đầu tư mới, nói cách khác sẽ làm giảm chi phí đầu tư thực tế của
mỗi đơn vị tư bản. Như vậy, miễn thuế đầu tư làm giảm chi phí đầu tư và tăng
chi tiêu đầu tư.
- 12 -
Kích cầu đầu tư – Lý thuyết và thực tiễn
Thuế thu nhập ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đầu tư của doanh
nghiệp nên chính phủ cần đưa ra chính sách thuế hợp lý nhằm khuyến khích và
Khuyến khích tiêu dùng cá nhân...Như vậy, có thể nói, chính sách kích cầu bắt
nguồn từ tư tưởng kích cầu rút ra từ hai giả thuyết quan trọng của học thuyết
Keynes:
- Giả thuyết thuyết thứ nhất:
Cuộc suy thoái bắt nguồn từ nền kinh tế có năng lực sản xuất bị dư thừa.
Biểu hiện của tình trạng này là các yếu tố đầu vào cho sản xuất không được sử
dụng hết công suất: thất nghiệp trên thị trường lao động, máy móc bị bỏ bê trong
khu vực doanh nghiệp, và hàng hóa ế thừa.
- 13 -
Kích cầu đầu tư – Lý thuyết và thực tiễn
Hiện tượng dư cung này khiến cho các nhà sản xuất giảm giá để hy vọng
bán được hang hóa. Điều này làm cho giá cả có khuynh hướng giảm trên tất cả
các thị trường. Lúc này những người tiêu dùng không còn nhu cầu sử dụng thêm
vì họ đã thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của họ nên dù có giảm giá hàng hóa cũng
không khuyến khích người mua, và cầu càng ở dưới xa cung thực tế.
- Giả thuyết thứ hai:
Chính phủ có khả năng chủ động chi tiêu toàn bộ, thậm chí nhiều hơn thu
nhập của mình. Trong khi đó, các khu vực không phải chính phủ (hộ gia đình và
khu vực kinh tế tư nhân) thường chi tiêu ít hơn tổng thu nhập vì họ muốn để
dành (khuynh hướng tiết kiệm biên lớn hơn 0). Trong điều kiện bình thường,
khoản tiết kiệm được chuyển sang khu vực doanh nghiệp để đầu tư (tạo nên
thành phần của tổng cầu), nhưng trong thời kỳ suy thoái, doanh nghiệp không
muốn đầu tư thêm nữa vì không có khả năng lợi nhận
Như vậy, qua giả thuyết thứ nhất, Keynes cho rằng nền kinh tế bị suy
thoái vì tạm thời không có đủ cầu cho cung đang dư thừa, tức là thiếu cầu hiệu
- 14 -
Sản lượng
Mức giá
AD
AS
kích cầu, nhưng trên thực tế những gói kích cầu này dù có thể rất tốn kém nhưng
lại không “kích thích” được nền kinh tế. Điều này đặc biệt đúng nếu gói kích
cầu không tuân theo các nguyên tắc nhất định của kinh tế học, mà lại được thiết
kế để đáp ứng các yêu cầu về chính trị hoặc theo các nhóm lợi ích. Theo
Lawrence Summers (giáo sư kinh tế, cố vấn kinh tế cho tổng thống Obama) cho
rằng để một gói kích cầu có hiệu quả thì phải đảm bảo ít nhất 3 điều kiện: Kịp
thời, đúng đối tượng và ngắn hạn (nhất thời).
- 15 -
Sản lượng
Mức giá
AD
AS
Y*
Kích cầu đầu tư – Lý thuyết và thực tiễn
1.4.1. Nguyên tắc số 1: Kích cầu phải kịp thời
Kích cầu phải kịp thời có nghĩa là khi chính phủ thực hiện gói kích cầu thì
những biện pháp kích cầu này phải có hiệu ứng kích thích ngay, làm tăng chi
tiêu ngay trong nền kinh tế.
Kich cầu phải kịp thời ở đây không phải chỉ là việc kích cầu phải được
chính phủ thực hiện một cách nhanh chóng khi xuất hiện nguy cơ suy thoái, mà
kịp thời còn có nghĩa la một khi được chinh phủ thực hiện thì những biện pháp
nay sẽ có hiệu ứng kích thích ngay, tức là làm tăng chi tiêu ngay trong nền kinh
tế. Nếu để tự nền kinh tế phục hồi thì việc phục hồi sớm muộn cũng sẽ diễn ra,
mặc dù việc phục hồi có thể kéo dài, cho nên mục tiêu của kích cầu là đẩy nhanh
việc phục hồi của nền kinh tế.
Do đó, việc kích cầu chỉ có thể được thực hiện một cách có ý nghĩa trong
một khoảng thời gian nhất định. Các chính sách mất quá nhiều thời gian để thực
hiện sẽ không có tác dụng, vì khi đó nền kinh tế tự nó đã có thể phục hồi, và
việc gói kich cầu lúc đó lại có thể có tác dụng xấu do có khả năng làm hun nóng
nền kinh tế dẫn đến lạm phát và những mất cân đối vĩ mô lớn. Các chương trình
Kích cầu đúng đối tượng là việc kích cầu hướng tới những chủ thể kinh tế
nào tiêu dùng nhanh hơn khoản tài chính được hưởng nhờ kích cầu và do đó sẽ
sớm gây ra tác động lan tỏa tới tổng cầu hơn, đồng thời gướng tới những chủ thể
kinh tế nào bị tác động bất lợi hơn cả bởi suy thoái kinh tế, thường đó là những
chủ thể kinh tế có thu nhập thấp hơn. Việc hỗ trợ các gia đình có thu nhập thấp
để họ không phải giảm tiêu dùng thậm chí còn tăng tiêu dùng tạo ra hiệu ứng lan
tỏa, kích thích doanh nghiệp mở rộng sản xuất và thuê mướn thêm lao động.
Tóm lại, mức độ “đúng đối tượng” (well-targeted) của gói kích cầu của
Chính phủ phụ thuộc vào: (i) mức độ chi tiêu của các đối tượng nhận được thu
nhập nhờ có gói kích cầu thông qua tác động lan tỏa diễn ra trong nhiều vòng
như mô tả ở trên; và (ii) mức độ “rò rỉ” ra hàng ngoại nhập của các chi tiêu đó ở
trong mỗi vòng của tác động lan tỏa.
1.4.3. Nguyên tắc số 3: Kích cầu chỉ được thực hiện trong ngắn hạn
Nguyên tắc ngắn hạn có nghĩa là sẽ chấm dứt kích cầu khi nền kinh tế
được cải thiện. Nguyên tắc ngắn hạn có hai ý nghĩa:
+ Gói kích cầu thực hiện trong ngắn hạn sẽ làm tăng hiệu quả gói kích cầu
+ Chỉ kích cầu trong ngắn hạn để không làm ảnh hưởng tới tình hình ngân
sách trong dài hạn.
(i) Tính ngắn hạn làm tăng hiệu quả của gói kích cầu:
Những chính sách mà vẫn còn hiệu lực sau khi nền kinh tế phục hồi, ví dụ
như chinh sách cắt giảm thuế cố định (permanent tax cuts) là những biện pháp
kích cầu kém hiệu quả bởi vì những biện pháp kích thích này sẽ trở thành những
khoản chi phí của chính phủ hoặc khoản thất thu khi mà thời gian cần kích thích
đã kết thúc. Hơn thế nữa, các biện pháp như tín dụng đầu tư, hoặc ưu đãi khấu
hao tài sản sẽ là những biện pháp kích cầu hiệu quả hơn khi được thực hiện là
những gói tạm thời, ngắn hạn. Nếu là những biện pháp dài hạn sẽ không kích
thích được cầu. Điều này là do các biện pháp nếu chỉ được thực hiện trong ngắn
hạn sẽ khuyến khích được các doanh nghiệp tiến hành, đẩy nhanh tốc độ đầu tư
để tận dụng những ưu đãi này (ví dụ như ưu đãi về thuế). Những biện pháp dài
hạn, ví dụ như giảm thuế quá lâu sẽ không phải là một biện pháp kích cầu tốt,
kinh tế học vĩ mô “Keynes” với trọng tâm chính là nêu bật vai trò tăng trưởng
tiền lương(để tăng tổng cầu) và vai trò của nhà nước trong việc quản lý nền kinh
tế. Từ khi kinh tế học keynes ra đời với các biện pháp can thiệp của chính phủ
vào nền kinh tế để điều chỉnh những méo mó của thị trường thì nền kinh tế thị
trường ở các nước có sự chuyể biến rõ nét. Khi nền kinh tế có dấu hiệu bắt đầu
suy thoái kéo dài, để tránh tình trạng trở nên tồi tệ hơn, chính phủ các nước đã
áp dụng nhiều chính sách kinh tế vĩ mô và vi mô để kích cầu nhằm đưa nền
kinh tế tăng trưởng trở lại. Trong đó kích cầu đầu tư là biện pháp hữu hiệu của
các chính phủ.
2. Kích cầu đầu tư
2.1. Khái niệm:
Kích cầu đầu tư là tổng hợp tất cả các biện pháp chính sách, các công cụ
pháp lý được sử dụng một cách có hệ thống và đồng bộ nhằm thu hút ngày càng
nhiều vốn đầu tư để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội
trong một giai đoạn hay thời kì nhất định.
2.2. Phân biệt kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng
Kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng là hai khái niệm thường được nhắc
tới cùng nhau tuy nhiên về bản chất thì hai khái niệm này có sự khác biệt.
Trước hết là về đối tượng tác động của hai loại hình kích cầu này là khác
nhau. Đối tượng của kích cầu tiêu dùng là về phía cầu trong nền kinh tế, thông
qua các chính sách của chính phủ để kích thích tiêu dùng trong nước như chính
sách thuế thu nhập cá nhân, chính sách hỗ trợ người tiêu dùng. Mục đích của
kích cầu tiêu dùng là kích thích tiêu dùng trong nước thông qua đó tạo thêm thị
trường cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất giúp nền kinh tế lấy lại đà tăng
trưởng trong tình hình nền kinh tế gặp khó khăn như thời kì hậu khủng hoảng.
Còn xét về kích cầu đầu tư thì đây là các chính sách trực tiếp tác động tới hoạt
động đầu tư của nền kinh tế nhằm khuyến khích hoạt động đầu tư sản xuất của
doanh nghiệp thông qua chính sách lãi suất hay chính sách thuế thu nhập doanh
nghiệp.
- 18 -
thì các chính sách đó bao giờ cũng có tính hai mặt, có thể là tích cực đối với yếu
tố này nhưng lại là tiêu cực với yếu tố kia, và đôi khi bản thân các yếu tố cũng
có tác động qua lại lẫn nhau. Bên cạnh việc có thể đạt được các mục đích như
mong muốn thì còn tồn tại những tiêu cực không mong muốn. Đối với chính
sách kích cầu đầu tư thường được sử dụng khi nền kinh tế lâm vào khó khăn như
khủng hoảng kinh tế cũng không nằm ngoài qui luật đó. Khi chính phủ thực hiện
các chính sách kích cầu đầu tư sẽ tác động cả mặt tích cực và tiêu cực tới nền
kinh tế. Bài toán đặt ra ở đây là làm cách nào để đạt được tối đa hiệu quả của
chính sách và giảm đến mức tối thiểu các tác động tiêu cực. Và thông qua
nghiên cứu những tác động của kích cầu đầu tư để có thể rút ra những bài học
cho hoạt động kích cầu. Vì vậy cần cân nhắc thận trọng khi đưa ra các quyết
định can thiệp. Mục tiêu cuối cùng của kích cầu đầu tư là tăng trưởng kinh tế
nhưng phải đảm bảo cả về mặt văn hóa, xã hội.
2.4.1. Tác động tích cực
- 19 -
Kích cầu đầu tư – Lý thuyết và thực tiễn
2.4.1.1 Tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế
- Tác động đến tổng cầu: Để tạo ra sản phẩm cho xã hội, trước hết cần đầu
tư. Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh
tế. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm từ 24 đến 28%
trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới. Đối với tổng cầu tác
động của đầu tư thể hiện rõ trong ngắn hạn. Xét theo mô hình kinh tế vĩ mô, đầu
tư là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu. Khi tổng cung chưa kịp thay
đổi, gia tăng đầu tư (I) làm cho tổng cầu (AD) tăng (nếu các yếu tố khác không
đổi).Ta có công thức sau:
AD=C+I+G+X-M
Trong đó: C: Tiêu dùng
I: Đầu tư
G: Tiêu dùng của Chính Phủ
X: Xuất khẩu
- 20 -
Kích cầu đầu tư – Lý thuyết và thực tiễn
Với 1/(1- MPC) là số nhân dầu tư, MPC là tiêu dùng cận biên
+ Xét 1 cách đơn giản với số nhân tĩnh
Y = C+S ; S = I
→
Y = C + I
C= aY + b => ∆Y = a∆Y + ∆I
∆Y = 1/(1-a). ∆I với a = MPC
+ Với số nhân động:
Yt = Ct + It với S = I
Ct = aYt + b
Nếu như ta tăng một lượng đầu tư ở năm thứ nhất 1 lượng là ∆I thì sẽ dần
đến một ảnh hưởng dây chuyền đến tất cả các yếu tố và các năm sau đó.
∆Y1 =
∆
I
∆Y2 =
2
a
∆I
∆
Y3 =
2
a
∆I
………………
∆Yn =
1
−
một quốc gia. Những vùng có điều kiện được đầu tư sẽ là đầu tàu kéo các vùng
khác cùng phát triển. Những vùng kém phát triển có thể nhờ vào đầu tư để thoát
khỏi đói nghèo và giảm dần khoảng cách với các vùng khác. Nếu xét cơ cấu
lãnh thổ theo góc độ thành thị và nông thôn thì đầu tư là yếu tố bảo đảm cho
- 21 -
Kích cầu đầu tư – Lý thuyết và thực tiễn
chất lượng của đô thị hoá. Việc mở rộng các khu đô thị dựa trên các quyết định
của chính phủ sẽ chỉ là hình thức nếu không đi kèm với các khoản đầu tư hợp lý.
Đô thị hoá không thể gọi là thành công thậm chí còn cản trở sự phát triển nếu cơ
sớ hạ tầng không đáp ứng được các nhu cầu của người dân. Các dịch vụ y tế,
giáo dục… cũng cần được đầu tư cho phù hợp với sự phát triển của một đô thị.
- Đối với cơ cấu thành phần kinh tế:
Đối với mỗi quốc gia, việc tổ chức các thành phần kinh tế chủ yếu phụ
thuộc vào chiến lược phát triển của chính phủ. Các chính sách kinh tế sẽ quyết
định thành phần nào là chủ đạo; thành phần nào được ưu tiên phát triển; vai trò;
nhiệm vụ của các thành phần trong nền kinh tế…Ở đây đầu tư đóng vai trò nhân
tố thực hiện.
Việc kích cầu đầu tư cũng đi đối với việc thay đổi các biện pháp chính
sách, phương hướng phát triển của cả xã hội. Tùy và điều kiện và trình độ phát
triển của mỗi quốc gia khác nhau mà có những chiến lược phát triển các ngành
nghề trọng điểm khác nhau. Động lực chính của sự chuyển dịch này đó là những
ngành nghề quan trọng, mang lại thu nhập cao cho nên kinh tế quốc dân cần
phải được chú trọng phát triển.
2.4.1.4. Tác động đến khoa học công nghệ.
Đầu tư là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới quyết định đổi mới và phát
triển khoa học, công nghệ của một doanh nghiệp và quốc gia.Trong mỗi thời kỳ,
các nước có bước đi khác nhau để đầu tư phát triển công nghệ. Trong giai đoạn
đầu, các nước phát triển do có nhiều lao đông và nguyên liệu, thường đầu tư các
loại công nghệ sử dụng nhiều lao đông và nguyên liệu, sau đó giảm dần hàm
lượng lao động và nguyên liệu trong sản xuất sản phẩm và tăng dần hàm lượng
dụng và sử dụng không hiệu quả các gói kích cầu có thể gây ra một số hiệu ứng
tiêu cực. Mặt trái của kích cầu được biểu hiện ở các phương diện sau:
2.4.2.1. Nguy cơ sa vào bẫy thanh khoản
Bẫy thanh khoản là hiện tượng trong đó chính sách tiền tệ được nới lỏng
bằng biện pháp giảm lãi suất để rồi lãi suất xuống thấp quá một mức nhất định
khiến cho mọi người quyết định giữ tài sản của mình dưới dạng tiền mặt và
chính sách tiền tệ trở nên bất lực. Về bản chất, “bẫy thanh khoản” hay “bẫy tiền
mặt” xảy ra khi đường LM trong mô hình IS-LM trở nên thoải và song song với
trục hoành. Khi đó việc điều tiết chu kỳ kinh tế chỉ còn trông cậy vào chính
sách tài chính. Đây là một trong những lý luận của kinh tế học Keynes. Khi nền
kinh tế vào pha suy thoái, ngân hàng trung ương sẽ nới lỏng chính sách tiền tệ
bằng việc giảm lãi suất để kích thích tiêu dùng và kích thích đầu tư tư nhân dẫn
tới tăng tổng cầu, thoát khỏi suy thoái. Tuy nhiên, nếu việc giảm lãi suất là liên
tục và xuống thấp quá mức thì, theo thuyết ưa chuộng tính thanh khoản, mọi
người sẽ giữ tiền mặt chứ không gửi vào ngân hàng hay mua chứng khoán. Hậu
quả là đầu tư tư nhân khó có thể được thúc đẩy vì ngân hàng không huy động
được tiền gửi thì cũng không thể cho xí nghiệp vay và chứng khoán không bán
được thì xí nghiệp cũng không huy động được vốn. Chính sách tiền tệ trở nên
bất lực trong việc thúc đẩy đầu tư tư nhân và do đó là bất lực trong kích thích
tổng cầu. Trong khi đó, chính sách tài chính thường không phát huy được hiệu
lực đầy đủ do hiện tượng thoái lui đầu tư thì lúc này lại phát huy đầy đủ hiệu lực
do hiện tượng thoái lui đầu tư không còn (vì lãi suất thấp). Tuy nhiên khi đó sẽ
dẫn tới tình trạng trì trệ trong đầu tư tư nhân, kéo theo toàn bộ nền kinh tế trì trệ.
Kinh tế học Keynes cho rằng khi nền kinh tế rơi vào tình trạng này thì chỉ
có cách sử dụng tích cực chính sách tài khóa (giảm thuế, tăng chi tiêu công
cộng), tăng xuất khẩu ròng, khuyến khích tư nhân đầu tư để đổi mới công nghệ.
Cũng có các biện pháp khác đó là nới lỏng tiền tệ thông qua cơ sở tiền tệ. Việc
tiếp tục thực hiện chính sách mở rộng chi tiêu Chính phủ trong điều kiện tồn tại
“bẫy thanh khoản” sẽ làm giảm quyền lực của rào cản kiểm soát tín dụng và làm
cho dư nợ tín dụng và nợ quá hạn tăng lên nhanh chóng Trong trường hợp này,
Trong điều kiện ngân sách nhà nước hạn hẹp, sử dụng chi ngân sách nhà
nước lớn sẽ dẫn tới thâm hụt ngân sách, mà việc bù đắp thâm hụt ngân sách lớn
như vậy thực tế vẫn làm cho cung tiền tăng, nguy cơ lạm phát cao sau kích cầu.
Chính sách tiền tệ và tín dụng nới lỏng nhằm phục vụ chính sách kích thích kinh
tế, hỗ trợ kích cầu đã đẩy nhanh tốc độ gia tăng của các phương tiện thanh toán,
tốc độ đưa tiền ra lưu thông tiếp tục được đẩy mạnh. Tuy nhiên, việc tăng quá
nhanh và quá mạnh tín dụng cũng là dấu hiệu cảnh báo nguy cơ lạm phát. Kinh
nghiệm cho thấy nếu tăng trưởng tín dụng đột biến, thì chỉ sau 2-3 tháng sẽ tác
động tới tăng giá cả và lạm phát là điều có thể thấy trước. Hơn nữa, việc đổ một
lượng tiền đầu tư lớn ra nền kinh tế, nếu như được sử dụng kém hiệu quả sẽ
không hấp thụ được lượng tiền trong nền kinh tế và lạm phát tiền tệ sẽ xảy ra.
Điều này đặt ra yêu cầu trong việc sử dụng chính sách kích cầu phải đảm bảo
tính ngắn hạn, các giải pháp chính sách tiền tệ cần được giảm thiểu đúng lúc
đồng thời việc sử dụng vốn đúng mục đích và cho hoạt động của nền kinh tế. có
hiệu quả sẽ góp phần làm giảm nguy cơ lạm phát cao, tạo ra sự ổn định vĩ mô.
2.5. Nguồn vốn cho kích cầu đầu tư
Vốn là nhân tố vô cùng quan trọng cho việc kích cầu nói chung và kích
cầu đầu tư nói riêng bởi nếu không có vốn đầu tư thì không thể tiến hànhcác
hoạt động đầu tư và nền kinh tế cũng không thể tăng trưởng được. Vì thế chính
phủ mỗi nước trước khi tung ra các gói kích cầu cần nghiên cứu, xem xét chi tiết
- 24 -
Kích cầu đầu tư – Lý thuyết và thực tiễn
đến các nguồn vốn có thể cung ứng để đảm bảo cho họat động kích cầu đầu tư
hiệu quả nhất. Dưới đây là một số nguồn vốn chủ yếu cho kích cầu đầu tư:
2.5.1. Vốn trái phiếu chính phủ
* Vay nợ từ công chúng
-Số tiền huy động được để tài trợ cho gói kích cầu. Trái phiếu phát hành bằng
nội tệ được coi là không có rủi ro tín dụng vì chính phủ có thể tăng thuế thậm chí
in thêm tiền để thanh toán cả gốc lẫn lãi khi đáo hạn. Trái phiếu chính phủ phát
hành bằng ngoại tệ ( thường là ngoại tệ mạnh có nhu cầu lớn) có rủi ro tín dụng
kinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của
các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển
sang cơ cấu mới hợp lý hơn. Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn
tài chính thông qua thuế, ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định
hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh.
2.5.3. Quỹ dự trữ ngoại hối
- 25 -