ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ HUYỀN TRANG
BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA TRẺ EM KHUYẾT TẬT
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con ngƣời
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS CHU HỒNG THANH
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố
trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn
trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực.
Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các
nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc
gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trần Thị Huyền Trang
Tình trạng trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay ...................... 30
2.2.
Thực trạng Bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật trong lĩnh
vực xây dựng pháp luật ................................................................... 31
2.2.1. Thành tựu ........................................................................................... 32
2.2.2. Hạn chế ............................................................................................... 34
2.3.
Thực trạng Bảo đảm một số quyền của trẻ em khuyết tật ........... 37
2.3.1. Quyền được giáo dục ......................................................................... 38
2.3.2. Quyền được hưởng bảo trợ xã hội...................................................... 42
2.3.3. Quyền được chăm sóc sức khỏe ......................................................... 46
2.3.4. Quyền được tham gia hoạt động văn hóa, thể thao, giải trí ............... 50
2.3.5. Quyền được tiếp cận cơ sở hạ tầng, dịch vụ công cộng ..................... 53
2.4.
Thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật trong cộng đồng ... 57
2.4.1. Thành tựu.......................................................................................... 57
2.4.2. Hạn chế .............................................................................................. 60
Tiểu kết Chƣơng 2 ......................................................................................... 63
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM
QUYỀN CỦA TRẺ EM KHUYẾT TẬT ....................................... 64
CRPD
Công ước về quyền của người khuyết tật 2007 (Convention on
the Rights of Persons with Disabilities)
ICCPR Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966
(International Convenant on Civil and Political Rights)
ICCSCR Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 1996
(International Convenant on Economic, Social and Cultural Rights).
UDHR
Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền 1948 (The Universal
Declaration of Human Rights)
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong luật nhân quyền quốc tế, phần nội dung về quyền của các nhóm
xã hội dễ bị tổn thương chiếm vị trí rất quan trọng. Kể từ khi Liên Hợp Quốc
thành lập (1945), nhiều văn kiện quốc tế về nhân quyền đã được tổ chức này
thông qua, trong đó có một số lượng ngày càng lớn văn kiện đề cập đến quyền
của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương. Đây là các nhóm, cộng đồng có vị thế
về chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn, từ đó khiến họ có nguy cơ cao hơn
trong việc bị bỏ quên hay bị vi phạm các quyền con người, bởi vậy, họ cần
được chú ý bảo vệ đặc biệt so với những nhóm, cộng đồng người khác. Nhóm
này bao gồm: phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người sống chung với HIV,
người di tản hoặc tìm kiếm nơi lánh nạn, người không quốc tịch, người thiểu
số, người lao động di trú… Trong đó, người khuyết tật nói chung và trẻ em
khuyết tật nói riêng được coi là một trong các nhóm thiểu số lớn nhất trên thế
giới và cũng là một trong những nhóm dễ bị tổn thương nhất.
nhiều khi không đáp ứng được nhu cầu, không phù hợp với khả năng và chưa
thực sự tạo điều kiện cho người khuyết tật. Bên cạnh đó, họ là đối tượng phải
chịu những khó khăn rất lớn về mặt vật chất và tinh thần, đồng thời, tình trạng
khuyết tật khiến họ đã và đang phải chịu những thiệt thòi trên tất cả các
phương diện của đời sống xã hội mặc dù xét ở góc độ con người, tất cả sinh ra
đều có những nhu cầu cơ bản giống nhau về sự tự do, bình đẳng, được tôn
trọng phẩm giá, được cống hiến, được khẳng định giá trị cá nhân…
Đặc biệt, với những trẻ em khuyết tật, thì những khó khăn còn tăng lên
đáng kể. Bởi trước hết, trẻ em nói chung vốn là đối tượng cần sự quan tâm,
chăm sóc, được tạo mọi điều kiện thuận lợi cho sự phát triển cả về thể chất
lẫn tinh thần. Tuy nhiên, với những trẻ em mang trong mình nhiều thiệt thòi
từ khi sinh ra như: dị tật bẩm sinh; vĩnh viễn không nghe được âm thanh của
2
cuộc sống; không được trò chuyện như các bạn cùng trang lứa; hay không
cảm nhận thấy ánh sáng của cuộc đời… thì việc tiếp cận những gì tốt đẹp nhất
dường như quá xa vời. Phải sống trong sự kì thị, phân biệt đối xử của mọi
người xung quanh, kết hợp với mặc cảm tự ti về bản thân mình, khiến nhiều
trẻ em khuyết tật không dám đến các nơi công cộng vì sợ những ánh mắt để ý;
không dám đến trường vì sợ bạn bè trêu chọc… Bên cạnh đó, một thực tế chỉ
ra rằng, đa số trẻ em khuyết tật đều sống trong nghèo khó; và dễ bị bạo hành
hoặc lạm dụng; bị đối xử vô trách nhiệm, ngược đãi hay bóc lột; trong khi đó,
việc tiếp cận với sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp lại gặp nhiều trở ngại vì
những lý do khách quan và chủ quan. Có thể thấy, trẻ em khuyết tật thực sự
phải trải qua nhiều khó khăn, phải đối mặt với nhiều rào cản để được hưởng
trọn vẹn những quyền vốn có của mình. Rào cản này không chỉ nằm ở bản
thân của sự khuyết tật, mà còn là tổng hợp những trở ngại về mặt xã hội, văn
hóa, quan điểm và cả về vật chất mà trẻ em khuyết tật phải đối mặt trong đời
Ở nước ta, trong những năm qua, có một số công trình liên quan nghiên
cứu về Quyền của người khuyết tật, tiêu biểu như sau:
- Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội (2011), Luật quốc tế về quyền
của các nhóm người dễ bị tổn thương, Nxb Lao động – xã hội.
- Hoàng Thị Kim Quế (2010), Chủ nhiệm đề tài, “Hoàn thiện pháp luật
về bảo đảm quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương”, Đề tài nghiên cứu
khoa học, Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội.
- Lê Bạch Dương – Đặng Nguyên Anh – Khuất Thu Hồng – Lê Hoài
Trung – Robert Leroy Bach (2005), Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi
ở Việt Nam, Nxb Thế giới
- Hà Đình Bốn – Phó Vụ trưởng vụ Pháp chế - Bộ Lao động thương
binh và xã hội, Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của
Chính phủ, Đặc san (2010), “Tuyên truyền pháp luật, (số 05), Chủ đề: Luật
người khuyết tật”, Hà Nội.
4
- Báo cáo đánh giá (2009), Quyền của trẻ em khuyết tật tại Việt Nam –
Đưa luật pháp của Việt Nam phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về
Quyền của Người khuyết tật, tháng 12/2009, của Eric Rosenthal và Viện
Quốc tế bảo vệ quyền người khuyết tật tâm thần thực hiện theo yêu cầu của
UNICEF Việt Nam.
- Báo cáo của nghiên cứu viên về (2011), Người khuyết tật ở Việt Nam,
Một số kết quả chủ yếu từ Tổng điều tra Dân số và nhà ở Việt Nam, là xuất
bản phẩm thứ 9 trong tập hợp các ấn phẩm được Quỹ dân số Liên hợp Quốc
(UNFPA) công bố vào 2011.
- Báo cáo thường niên năm (2010), Về hoạt động hỗ trợ người khuyết tật
Việt Nam, của Ban điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam NCCD.
- Báo cáo (2010), Phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam, 2010 do
- Từ đó, đưa ra khuyến nghị nhằm cải thiện tính bất cập của pháp luật
và đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt
Nam hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn sẽ tập trung vào các vấn đề sau:
- Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật.
- Đánh giá tính đúng đắn, mức độ phù hợp giữa các quy định trong
pháp luật Việt Nam với tình hình thực tế, đồng thời xem xét các yếu tố tác
động tới việc thực thi pháp luật về bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật.
5. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac – Lenin; Các
nguyên tắc nền tảng của luật nhân quyền quốc tế; Các quan điểm về
quyền của người khuyết tật nói chung và của trẻ em khuyết tật nói riêng
trên thế giới.
- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phân tích, tổng
hợp, xã hội học, thống kê, so sánh, đánh giá… để làm sáng tỏ các vấn đề liên
6
quan, đồng thời học hỏi kinh nghiệm thực tiễn của các nhà nghiên cứu về vấn
đề quyền của trẻ em khuyết tật.
6. Kết quả và ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần cung cấp những tri thức
khoa học cơ bản mang tính lý luận được nhìn nhận dưới góc độ quyền con
người về bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật; giúp người đọc nhận thức đầy
đủ và toàn diện hơn quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước về quyền và đảm bảo quyền cho trẻ em khuyết tật.
Luận văn cũng nêu bật được các quyền mà trẻ em khuyết tật Việt Nam
8
Chƣơng 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN
CỦA TRẺ EM KHUYẾT TẬT
1.1. Trẻ em khuyết tật
1.1.1. Khái niệm trẻ em
Từ lâu, trẻ em vốn được coi là một trong các nhóm xã hội dễ bị tổn
thương và được nhà nước, cá nhân, các tổ chức xã hội quan tâm bảo vệ. Do
đó, việc xác định thế nào được gọi là trẻ em chính là cơ sở để thực hiện và
phát huy sự quan tâm đó.
Trong Công ước về quyền trẻ em 1989 (Convention on the Rights of
the Child – CRC) - văn kiện quốc tế cơ bản, toàn diện nhất về trẻ em tính đến
thời điểm này đã định nghĩa “Trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18
tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định
tuổi thành niên sớm hơn” (Điều 1). Và để làm rõ khái niệm trẻ em, ngay
trong lời nói đầu của Công ước đã nêu rõ “trẻ em, do còn non nớt về thể chất
và trí tuệ, cần phải được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích
hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời”. Theo đó, trẻ em là những
người đảm bảo đầy đủ các điều kiện sau: Một là, phải là người còn non nớt về
thể chất và trí tuệ; Hai là, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt; Ba là người
từ 0 đến dưới 18 tuổi.
Do mỗi nước có quan niệm không giống nhau về trẻ em, nên độ tuổi
được xác định là trẻ em cũng khác nhau, và Công ước về quyền trẻ em đã quy
định vấn đề này theo hướng mở. Tức là, tuổi 18 được coi là mức tiêu chuẩn
nhưng không phải cố định, bắt buộc, mà cho phép mỗi quốc gia tùy thuộc vào
điều kiện kinh tế xã hội của nước mình, có thể quy định độ tuổi trẻ em sớm hơn
(dưới 18 tuổi). Tuy nhiên, việc quy định mang tính chất mềm dẻo này, có thể
10
Việt nam còn có khái niệm “người chưa thành niên” (là những người dưới 18
tuổi theo quy định tại Điều 18 Bộ luật Dân sự năm 2005); “lao động chưa
thành niên” (là những người lao động từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi theo quy định
tại Điều 119 Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2002, 2006,
2007), và “người chưa thành niên phạm tội” (là những người phạm tội khi còn
dưới 18 tuổi, theo các quy định có liên quan trong Bộ luật Hình sự năm 1999,
sửa đổi bổ sung năm 2009). Ngoài ra, liên quan đến trẻ em, theo Luật giáo dục
năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 lại quy định người đang được nuôi
dưỡng, đào tạo trong hệ thống giáo dục mầm non “từ ba tháng đến sáu tuổi”
được coi là trẻ em (Điều 21), còn người từ 6 tuổi đến 18 tuổi gọi là học sinh.
Mặc dù không có một điều khoản thống nhất quy định rõ ràng về độ
tuổi trẻ em, nhưng về cơ bản, các quy định xung quanh khái niệm này đều
tương thích với điều khoản ghi nhận tại Công ước quốc tế về quyền trẻ em
1989. Do đó, có thể đưa ra định nghĩa chung nhất về trẻ em ở Việt Nam đó là:
Trẻ em là những người dưới 18 tuổi, vẫn còn non nớt về thể chất và trí tuệ, do
đó cần sự bảo vệ của cơ quan có thẩm quyền. Đây là cách định nghĩa phù hợp
với tinh thần của hệ thống pháp luật trong nước, đồng thời không mâu thuẫn
với quy định của pháp luật quốc tế. Việc xác định thống nhất khái niệm về trẻ
em có ý nghĩa khá quan trọng. Bởi nó sẽ là cơ sở để làm rõ các khái niệm có
liên quan đồng thời tạo điều kiện thực hiện có hiệu quả các biện pháp bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục nhóm đối tượng dễ bị tổn thương này.
1.1.2. Khái niệm trẻ em khuyết tật
Trên phạm vi quốc tế lẫn khu vực hiện nay, chưa có một khái niệm cụ
thể về trẻ em khuyết tật. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Vì
vậy, để hiểu chính xác khái niệm trẻ em khuyết tật, trước hết, cần đi tìm hiểu
khái niệm người khuyết tật.
nhiều đến các yếu tố về môi trường xã hội và môi trường vật thể xung quanh
người khuyết tật. Quan niệm này nhìn nhận người khuyết tật như những người
12
có vấn đề về thể chất, cần được chữa trị bằng các phương pháp khoa học như:
thuốc điều trị hoặc công nghệ trị liệu. Lý giải rõ thêm cho quan điểm này, Tổ
chức y tế thế giới (WHO) đã phân ra ba loại mức độ suy giảm đó là: Khiếm
khuyết (impairment), Khuyết tật (disability), và Tàn tật (Handicap). Trong đó:
Khiếm khuyết chỉ tình trạng bị mất hoặc tình trạng bất bình thường của một
hay các bộ phận cơ thể hoặc chức năng tâm sinh lý. Khuyết tật chỉ sự giảm
thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết. Còn Tàn tật để chỉ
tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của
môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ.
Như vậy, quan điểm khuyết tật cá nhân hay quan điểm khuyết tật y tế
nhìn nhận vấn đề khuyết tật là hạn chế ở chính bản thân họ. Mô hình này chú
trọng vào việc trị liệu cá nhân chứ không xem trọng việc trị liệu xã hội. Khi bị
khuyết tật, chính bản thân những người này cần phải thay đổi chứ không phải
xã hội hay môi trường xung quanh họ cần phải thay đổi.
- Quan điểm khuyết tật theo mô hình xã hội: cho rằng, nhiều người bị
khiếm khuyết ở các cách khác nhau nhưng xã hội đã biến họ thành khuyết tật;
con người bị khiếm khuyết nhưng xã hội bị khuyết tật. Nói cách khác, mô
hình này coi xã hội là vấn đề cần giải quyết, và giải pháp là phải thay đổi toàn
bộ xã hội. Bên cạnh đó, nhấn mạnh việc xóa bỏ các yếu tố rào cản, tạo điều
kiện cho người khuyết tật được đối xử như những người bình thường khác,
giúp họ nhận thức đầy đủ các nghĩa vụ của mình với tư cách là một công dân.
Đây là mô hình khá nổi trội trong những nghiên cứu về khuyết tật trên thế
giới vào những năm 1990, nó được coi là mô hình có cơ sở lý thuyết và có
quy tắc riêng, là nền tảng những biến chuyển của vấn đề người khuyết tật.
phong; thị lực kém; suy giảm khả năng vận động; chậm phát triển trí óc và
mắc bệnh về tâm thần.
Hay ở Đức, sách số chín của Bộ luật xã hội định nghĩa:
14
Người khuyết tật là người có các chức năng về thể lực, trí
lực hoặc tâm lí tiến triển không bình thường so với người có cùng
độ tuổi trong thời gian trên 6 tháng và sự không bình thường này
là nguyên nhân dẫn đến việc họ bị hạn chế tham gia vào cuộc
sống xã hội.
Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 định nghĩa: “Người
khuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng
đáng kể đến một hay nhiều hoạt động trong cuộc sống”. Cũng theo đạo luật
này, những ví dụ cụ thể về khuyết tật bao gồm: Khiếm khuyết về vận động,
thị giác, nói và nghe, chậm phát triển tinh thần, bệnh cảm xúc và những
khiếm khuyết cụ thể về học tập, bại não, động kinh, teo cơ, ung thư, bệnh tim,
tiểu đường, các bệnh lây và không lây như bệnh lao và bệnh do HIV (Có triệu
chứng hoặc không có triệu chứng).
Tháng 03/2007, Công ước về quyền của người khuyết tật (Convention
on the Rights of Persons with Disabilities - CRPD) đã được Đại hội đồng
Liên hợp quốc thông qua. Đây là điều ước quốc tế đầu tiên về quyền con
người của Liên hợp quốc trong thế kỷ XXI, đánh dấu một bước ngoặt trong
cuộc đấu tranh cho quyền của những người khuyết tật trên thế giới. Theo đó,
tại Điều 1 Công ước, người khuyết tật bao gồm “Những người có khiếm
khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác
với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và
trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”. Mặc
dù vẫn còn những quan điểm khác nhau về những thuộc tính cấu thành khái
người khuyết tật trong Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007.
Như vậy, dựa trên định nghĩa về người khuyết tật và định nghĩa về trẻ
em, theo tác giả, Trẻ em khuyết tật được hiểu là những trẻ từ 0 đến 18 tuổi có
khiếm khuyết về cấu trúc cơ thể hoặc suy giảm các chức năng của cơ thể làm
hạn chế khả năng hoạt động, gây khó khăn trong sinh hoạt, học tập, xã hội.
16
Việc đưa ra khái niệm chung, thống nhất về trẻ em khuyết tật rất quan
trọng nhưng không phải dễ dàng, bởi ngay trong hệ thống pháp luật quốc gia
và pháp luật quốc tế cũng không có quy định cụ thể về vấn đề này, trong khi
các tiêu chí xác định khuyết tật hay độ tuổi được coi là trẻ em vẫn chưa thực
sự thống nhất. Vì vậy, cần phải có cái nhìn tổng thể về trẻ em và người
khuyết tật để hình thành khái niệm hợp lý nhất về trẻ em khuyết tật. Từ đó,
là cơ sở để phân loại, nghiên cứu, chăm sóc và bảo vệ nhóm đối tượng dễ bị
tổn thương này.
1.1.3. Ảnh hưởng của tình trạng khuyết tật đến hoạt động của trẻ
Trẻ em khuyết tật trước hết là con người nên họ mang những đặc điểm
chung về mặt kinh tế - xã hội, đặc điểm tâm sinh lí như mọi người. Tuy nhiên,
do khiếm khuyết về mặt thể chất nên họ có nét đặc thù tương đối so với trẻ
không khuyết tật, và cũng bởi những khiếm khuyết đó, mà họ gặp không ít
khó khăn trong quá trình sinh hoạt và tham gia vào các hoạt động xã hội.
Trước hết, trẻ khuyết tật sẽ gặp khó khăn trong việc tự chăm sóc bản
thân mình. Bởi do khiếm khuyết của cơ thể nên hầu hết công việc sinh hoạt
hàng ngày của trẻ phải dựa vào người thân trong gia đình. Đây là ảnh hưởng
trực tiếp nhất mà tình trạng khuyết tật gây ra cho chính bản thân họ.
Thứ hai, tình trạng khuyết tật gây khó khăn cho trẻ trong việc tiếp cận
cơ sở vật chất kĩ thuật và tham gia đầy đủ hoạt động giáo dục, việc làm, bệnh
viện, công trình phúc lợi xã hội… Bởi các thiết kế công cộng thường chỉ dành
nhập vào cộng đồng. Do vậy, cần có những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế
phần nào tác động tiêu cực mà tình trạng khuyết tật đã gây ra.
1.1.4. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng khuyết tật ở trẻ
Có khá nhiều nguyên nhân dẫn đến khuyết tật ở trẻ em. Mặc dù chưa có
bằng chứng chính xác, nhưng có thể tổng hợp căn cứ vào tình hình khuyết tật
ở trẻ em và chia ra làm các nguyên nhân sau:
Một là, do di truyền gây dị tật bẩm sinh. Nguyên nhân của tình trạng
18
này là bởi kết hôn giữa những người cùng dòng máu. Vì thế, để ngăn ngừa,
cần tăng cường kiến thức về hôn nhân, giúp mọi người hiểu đúng và đầy đủ
về vấn đề này.
Hai là, trong thời kỳ mang thai, người mẹ bị ốm; sử dụng các chất kích
thích; bị nhiễm các chất độc hại trong môi trường như: chì, thủy ngân,
amiăng... Do đó, cần tăng cường giữ gìn sức khỏe cho mẹ và bé, đẩy mạnh
chương trình miễn dịch đối với những căn bệnh có thể phòng ngừa như tiêm
vacxin cúm, sốt, quai bị…
Ba là, do thiếu dinh dưỡng, bệnh tật để lại di chứng như trẻ có thể bị
mù do thiếu vitamin A, viêm não, sốt xuất huyết, sốt bại liệt... Vì vậy, cần
tăng cường chăm sóc trước khi sinh cho trẻ, đảm bảo cung cấp đầy đủ và có
chất lượng các dịch vụ y tế trước, trong và sau khi sinh. Đồng thời, nâng cao
nhận thức của cha mẹ đối với vấn đề chế độ dinh dưỡng và chăm sóc y tế cơ
bản cho con em mình.
Bốn là, do tai nạn xảy ra trong quá trình tham gia giao thông, trong sinh
hoạt và tham gia lao động. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng
khuyết tật đối với trẻ em ở nhiều quốc gia trên thế giới. Vì vậy, cần thiết lập
và thực thi có hiệu quả các chính sách về an toàn giao thông, về an toàn và
bảo hộ lao động…
cộng đồng. Để tiếp nhận thông tin, trẻ cần có sự trợ giúp của ngôn ngữ kí
hiệu, trợ giúp của công nghệ hiện đại. Tuy nhiên, ngôn ngữ kí hiệu cũng có
nhiều hạn chế vì không thể phản ánh được đầy đủ tính chất, mức độ và hoạt
động của cuộc sống như tiếng nói hay chữ viết.
Ba là, Khuyết tật thị giác: là những tật về mắt khiến trẻ giảm hoặc mất
khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều
kiện ánh sáng và môi trường bình thường. Đối với trẻ khiếm thị công cụ hỗ
trợ di chuyển là chiếc gậy, các dụng cụ hỗ trợ thông minh, lối đi thuận tiện và
dễ nhận biết….
20