BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN NGỌC HÀ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI – 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN NGỌC HÀ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công Mã số: 60 34
04 03
thành phố Hà Nội thuộc sở Lao động Thương binh và Xã hội, cán bộ và nhân
viên Trung tâm chăm sóc, nuôi dưỡng và điều trị nạn nhân bị nhiễm chất độc da
cam/ Điôxin, huyện Ba Vì, TP Hà Nội thuộc sở Lao động Thương binh vã Xã
hội, các cô giáo, y bác sĩ và các mẹ bảo mẫu Làng Hữu Nghị Việt Nam thuộc
Hội Cựu Chiến binh Việt Nam đã tạo điều kiện tốt nhất, góp ý kiến, ủng hộ, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu đề tài.
Do những điều kiện chủ quan, khách quan chắc chắn kết quả nghiên cứu
của Luận văn còn những điểm thiếu sót. Tác giả luận văn rất mong tiếp tục nhận
được những ý kiến đóng góp để hoàn thiện, nâng cao chất lượng vấn đề được lựa
chọn nghiên cứu./.
Tác giả Luận văn
Nguyễn Ngọc Hà
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
NKT
TEKT
UBND
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU..................................................................................................................................................... 1
Chương 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI
TRẺ EM KHUYẾT TẬT.................................................................................................................... 9
1.5.2. Kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật
của Malaysia................................................................................................................................... 33
1.5.3. Kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở
nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa.................................................................................. 37
1.5.4. Giá trị tham khảo cho Việt Nam............................................................................. 39
Tiểu kết chương 1................................................................................................................................. 41
Chương 2. THỰC TRẠNG TRẺ EM KHUYẾT TẬT VÀ THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM............................................ 42
2.1. Thực trạng trẻ em khuyết tật và chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt
Nam hiện nay.......................................................................................................................................... 42
2.1.1. Thực trạng trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay....................................... 42
2.1.2. Thực trạng nội dung chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt Nam
................................................................................................................................................................ 43
2.2. Phân tích thực trạng thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt
Nam.............................................................................................................................................................. 49
2.2.1. Quy trình thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt Nam
49
2.2.2. Kết quả thực hiện một số chính sách đối với trẻ em khuyết tật.............54
2.3. Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt
Nam.............................................................................................................................................................. 69
2.3.1. Kết quả thực hiện chính sách đối với TEKT ở Việt Nam.......................... 69
2.3.2. Hạn chế trong tổ chức thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở
Việt Nam........................................................................................................................................... 72
2.3.3. Nguyên nhân hạn chế trong thực hiện chính sách đối với trẻ em
khuyết tật ở Việt Nam................................................................................................................ 72
Tiểu kết chương 2................................................................................................................................. 74
Chương 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY TRÌNH THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM...........76
khủng bố, khủng hoảng người di cư, dịch bệnh; sự biến đổi khí hậu toàn cầu, ô
nhiễm môi trường, thiên tai, tai nạn đã làm người khuyết tật, trẻ em khuyết tật
tăng lên đáng kể trong những năm gần đây. Nhiều tổ chức thế giới như Tổ chức
Lao động quốc tế, Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên Hợp Quốc,
Tổ chức Y tế thế giới, Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc và các tổ chức khác tiếp
tục khẳng định về quyền con người, quyền của trẻ em, quyền của người khuyết
tật cũng như quyền của trẻ em khuyết tật trong các Hiến chương, Công ước,
Nghị quyết đồng thời xây dựng nhiều chương trình, đề án hỗ trợ người khuyết
tật đặc biệt là trẻ em khuyết tật, tuy nhiên nhiều người khuyết tật, trẻ em khuyết
tật vẫn đang gặp nhiều khó khăn và chịu nhiều thiệt thòi, chưa được tiếp cận với
các dịch vụ dành cho người khuyết tật, nhiều trẻ em khuyết tật đang bị lãng
quên. Do đó việc xây dựng và thực hiện chính sách cho người khuyết tật và trẻ
em khuyết tật ở các nước trên thế giới là vô cùng quan trọng, giúp người khuyết
tật và trẻ em khuyết tật giảm bớt khó khăn trong cuộc sống, tự vươn lên, vượt
qua những mặc cảm, tự ti và phát triển với khả năng của mình để hòa nhập với
cộng đồng và xã hội.
Tại Việt Nam, sau chiến tranh chống Mỹ hàng triệu người bị thương và tàn
tật, những người còn sống tiếp tục phải đối mặt với các vấn đề nghiêm trọng về
kinh tế, xã hội và môi trường mà cuộc chiến đã gây ra, nhiều trẻ em dị tật bẩm
sinh do di chứng của chất độc da cam/ Đi ô xin, nhiều trẻ vẫn tiếp tục bị khuyết
tật do bom mìn chưa nổ còn sót lại sau chiến tranh. Ngoài hậu quả của chiến
tranh, việc gây ra khuyết tật còn do ô nhiễm môi trường, thiên tai, bệnh dịch, tai
nạn…Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Việt Nam đã có nhiều
chương trình, đề án hỗ trợ người khuyết tật, trẻ em khuyết tật, tuy nhiên đất
1
nước trong thời kỳ đó còn nghèo do đó việc hỗ trợ, chăm sóc cho người khuyết
tật, trẻ em khuyết tật là rất hạn chế.
2
thành phố đã tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề về các chính sách của Nhà
nước đối với TEKT. Song với số TEKT quá lớn như hiện nay, việc thực hiện
chính sách đối với TEKT chưa được đồng bộ, thiếu kinh phí hoạt động, thiếu
cán bộ, nhân viên có trình độ, chuyên môn và kỹ năng trong lĩnh vực này, việc
xác định mức độ khuyết tật của trẻ em ở nhiều tỉnh còn lúng túng và nhiều bất
cập, nhiều trẻ em còn bị lãng quên và bị phân biệt, đối xử. Để trẻ em khuyết tật
phát triển với khả năng thực sự của mình, hòa nhập với gia đình, với cộng đồng
nơi các em sinh ra, đưa các chương trình chăm sóc y tế, phục hồi chức năng và
giáo dục hòa nhập tại cộng đồng là một vấn đề khó khăn và đầy thách thức.
Tháo gỡ và đổi mới công tác chăm sóc trẻ khuyết tật như mục tiêu mà Đảng và
Nhà nước ta đặt ra phải quan tâm đến việc xây dựng một hệ thống chích sách
đồng bộ, phù hợp cho trẻ em khuyết tật, đặc biệt trong điều kiện kinh tế - xã hội
nước ta hiện nay.
Với mong muốn của NKT nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng có một
cuộc sống tốt đẹp hơn, được sống bình đẳng như những người bình thường khác,
không bị kỳ thị, phân biệt đối xử, có cơ hội được phát huy khả năng của mình
đáp ứng với nhu cầu bản thân và có ích cho xã hội. Vậy vai trò và thực trạng của
chính sách đối với trẻ em khuyết tật trong bối cảnh chung của đất nước ta hiện
nay đang rất cần một cái nhìn, một hướng nghiên cứu mới về thực hiện chính
sách đối với TEKT. Để hoàn thiện việc thực hiện chính sách đối với trẻ em
khuyết tật ở Việt Nam đáp ứng với yêu cầu hiện nay, tôi chọn đề tài “Thực hiện
chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt Nam” để làm luận văn thạc sỹ,
chuyên ngành hành chính công.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này dưới nhiều góc độ khác
nhau được thể hiện dưới các hình thức như: Đề tài khoa học; giáo trình; bài báo;
bài đăng tạp chí….Có thể khái quát một số công trình tiêu biểu liên quan đến
tìm ra những thiếu hụt và hạn chế của pháp luật Việt Nam, trên cơ sở đó kiến
nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, đảm bảo từng bước
hòa nhập với pháp luật và các chuẩn mực quốc tế.
-
Đề tài ”Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên ở cộng đồng Việt Nam”,
của Nguyễn Hữu Toàn (2010). Tác giả cho rằng trợ giúp xã hội không chỉ là cứu
đói, hỗ trợ lương thực, cho cá nhân, hộ gia đình chịu hậu quả thiên tai, chiến
tranh, tai nạn, mà còn mở rộng thành các hợp phần chính sách là trợ giúp đột
xuất và trợ giúp thường xuyên. Mỗi hợp phần chính sách lại bao gồm các chính
sách bộ phận đặc biệt như chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng
đồng gồm các chính sách bộ phận là: trợ cấp xã hội hàng tháng, trợ giúp về y tế,
trợ giúp về giáo dục, trợ giúp về việc làm, trợ giúp về học nghề. Đồng thời trong
bài viết cũng chỉ ra được số lượng người khuyết tật (2008) trên cả nước và phạm
vi
phân bổ người khuyết tật, dạng khuyết tật và số lượng người khuyết tật cũng
4
như nhu cầu của người khuyết tật và việc đáp ứng nhu cầu của người khuyết tật
cũng như các chính sách cho người khuyết tật Việt Nam.
-
Tác giả Trịnh Thắng và các cộng sự (2011), “Báo cáo về trẻ khuyết tật tại
An Giang và Đồng Nai năm 2011”. Baó cáo phân tích tình hình chung về kiến
thức, thái độ và hành vi của cộng đồng đối với trẻ khuyết tật ở hai tỉnh Đồng Nai
và An Giang; phân tích các yếu tố ảnh hưởng thái độ và hành vi của mọi người
bản, Nxb chính trị quốc gia, cuốn sách đã đề cập đến chính sách công dưới góc
độ chung nhất, bao gồm các vấn đề như: nhận thức về chính sách công; hoạch
5
định chính sách công; tổ chức thực thi chính sách công; phân tích chính sách
công.
-
Đề tài “Đánh giá việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội đối với người
khuyết tật ở xã Hợp Đồng, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội”, của Nguyễn
Thị Quỳnh, năm 2014. Tác giả chỉ ra những thành tựu mà chính quyền xã Hợp
đồng đã làm được trong việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội đối với người
khuyết tật sinh sống tại địa bàn trong thời gian qua, tuy nhiên tác giả cũng nêu ra
những mặt hạn chế, những bất cập như nhiều người còn chưa tiếp cận được với
chính sách trợ giúp của Nhà nước vì thiếu thông tin liên quan đến chính sách trợ
giúp, một số cán bộ của cơ quan hành chính Nhà nước gây khó khăn, phiền
nhiễu trong công tác tiếp cận các chính sách trên, đồng thời đưa ra những giải
pháp cũng như kiến nghị cho việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội đối với
người khuyết tật trong thời gian tới.
-
Tác giả Thụy Bình, trong Tạp chí người khuyết tật, năm 2015, bài báo“Về
vấn đề gia tăng và một số giải pháp gia tăng người khuyết tật”. Bài báo đề cập
đến các dạng khuyết tật, tỷ lệ người khuyết tật và trẻ em khuyết tật đang có xu
hướng gia tăng do điều kiện vị trí địa lý của nước ta, thời tiết khắc nhiệt, ô
nhiễm môi trường và do nguyên nhân nhiều gia đình có người khuyết tật và
người khuyết tật dấu tình trạng khuyết tật của mình. Bài báo đề cập giải pháp
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
-
Nghiên cứu việc thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật từ góc độ
lý luận.
-
Phân tích thực trạng việc thực hiện chính sách đối với TEKT ở Việt Nam
từ đó chỉ ra những nguyên nhân trong quá trình thực hiện chính sách.
-
Đề xuất giải pháp và hoàn thiện quy trình thực hiện chính sách đối với trẻ
em khuyết tật ở Việt Nam trong giai đoạn 2016 – 2026.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quy trình thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt Nam
4.2. Phạm vi nghiên cứu
-
Nội dung: Quy trình thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật như
thế nào?
-
Không gian: Trẻ em khuyết tật ở Việt Nam
-
cáo kết quả trợ giúp trẻ em khuyết tật của một số tổ chức hỗ trợ trẻ em khuyết
tật.
Phương pháp chuyên gia
6.
Đóng góp của luận văn
6. 1.
-
Về lý luận
Luận văn đã hệ thống cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đối với trẻ em
khuyết tật ở Việt Nam
6. 2.
-
Về thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong
nghiên cứu, giảng dạy, học tập và cho các nhà hoạch định chính sách đối với trẻ
em khuyết tật, các cấp chính quyền địa phương.
7.
Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở khoa học về thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật
năng kiềm chế kém, dễ bị kích động, lôi kéo vào các hoạt động phiêu lưu mạo
hiểm. Như vậy, việc sử dụng những khái niệm có ý nghĩa quan trọng về mặt
pháp lý. Liên hiệp quốc đặt các em trong đối tượng điều chỉnh của pháp luật
quốc tế và pháp luật quốc gia với mục đích bảo vệ quyền trẻ em và người chưa
thành niên khi phạm pháp. Kêu gọi các nước thành viên tham gia Công ước
Quốc tế về quyền trẻ em phải quan tâm đầy đủ đến các biện pháp; tích cực, huy
9
động các nguồn lực có thể để giúp đỡ trẻ em và người chưa thành niên nhằm
giảm sự can thiệp của pháp luật và xử lý người chưa thành niên phạm pháp một
cách công bằng, nhân đạo và hiệu quả.
Ở
Việt Nam, theo Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm,
2004 thì trẻ em là “công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”. Như vậy, độ tuổi được coi
là trẻ em trong pháp luật nước ta thấp hơn so với quy định trong Điều 1 Công
ước quốc tế về quyền trẻ em. Tuy nhiên, đây không bị coi là trái với Công ước
về quyền trẻ em vì Điều 1 Công ước về quyền trẻ em cho phép các quốc gia
thành viên quy định độ tuổi được coi là trẻ em thấp hơn 18 tuổi.
1.1.1.2. Trẻ em khuyết tật
Công ước về quyền của người khuyết tật đã được Đại hội đồng Liên hợp
quốc thông qua vào tháng 03/2007. Đây là điều ước quốc tế đầu tiên về quyền
con người của Liên hợp quốc trong thế kỷ XXI, đánh dấu một bước ngoặt trong
cuộc đấu tranh cho quyền của những người khuyết tật trên thế giới. Theo đó, tại
Điều 1 Công ước, người khuyết tật bao gồm “Những người có khiếm khuyết lâu
dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào
cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ
vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”. Mặc dù vẫn còn những
người tàn tật 1998, chính thức sử dụng khái niệm “Người khuyết tật” thay cho
khái niệm “Người tàn tật” hiện hành, phù hợp với khuynh hướng nhìn nhận
chung của thế giới. Theo Quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật người khuyết tật năm
2010 thì người khuyết tật được hiểu là “người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều
bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến
cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. Khái niệm này được đưa ra dựa
vào mô hình xã hội và về cơ bản phù hợp với khái niệm người khuyết tật trong
Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007.
Như vậy, dựa trên định nghĩa về người khuyết tật và định nghĩa về trẻ em,
theo tác giả, trẻ em khuyết tật được hiểu là những trẻ em từ 0 đến 18 tuổi có
khiếm khuyết về cấu trúc cơ thể hoặc suy giảm các chức năng của cơ thể làm
hạn chế khả năng hoạt động, gây khó khăn trong sinh hoạt, học tập, xã hội.
11
Việc đưa ra khái niệm chung, thống nhất về trẻ em khuyết tật rất quan trọng
nhưng không phải dễ dàng, bởi ngay trong hệ thống pháp luật quốc gia và pháp
luật quốc tế cũng không có quy định cụ thể về vấn đề này, trong khi các tiêu chí
xác định khuyết tật hay độ tuổi được coi là trẻ em vẫn chưa thực sự thống nhất.
Vì vậy, cần phải có cái nhìn tổng thể về trẻ em và người khuyết tật để hình thành
khái niệm hợp lý nhất về trẻ em khuyết tật. Từ đó, là cơ sở để phân loại, nghiên
cứu, chăm sóc và bảo vệ nhóm đối tượng dể bị tổn thương này.
1.1.1.3. Phân loại trẻ em khuyết tật theo loại dị tật
Theo luật người khuyết tật thì khuyết tật được chia làm các loại sau;
- Khuyết tật vận động:
Là dạng khuyết tật ảnh hưởng đến khả năng vận động, di chuyển: Khó khăn
trong việc ngồi, đi, đứng; Người bị yếu, liệt hoặc hạn chế vận động tay, chân,
lưng, cổ; Người bị dị tật, bị biến dạng ở đầu, cổ, lưng hoặc tay, chân.
- Khuyết tật nghe nói:
như những người bại não, động kinh, tự kỷ, và những rối loạn tương tự khác,
Những người này thường khó khăn trong việc nhận biết người thân trong gia
đình hoặc khó khăn trong giao tiếp với những người xung quanh so với người
cùng tuổi. Chậm chạp ngờ nghệch hoặc không thể làm được một việc đơn giản
dù đã được hướng dẫn. Họ cũng khó khăn trong việc học tập (đọc, viết và làm
toán) so với người cùng tuổi do chậm phát triển trí tuệ.
-
Khuyết tật khác: Là những người bị giảm khả năng thực hiện các hoạt
động trong học tập và lao động do tê bì hoặc mất cảm giác ở tay chân, mặc dù đã
được điều trị liên tục 3 tháng; giảm khả năng thực hiện các hoạt động trong học
tập và lao động do các nguyên nhân hô hấp hoặc do tim mạch hoặc do rối loạn
đại, tiểu tiện dù đã liên tục điều trị 3 tháng; giảm khả năng thực hiện các hoạt
động trong học tập và lao động do các nguyên nhân khác.
Người khuyết tật được chia theo mức độ khuyết tật sau đây:
Trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất
hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt
động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu
sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn
toàn.
Trẻ em khuyết tật nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất một phần
hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một
số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc phục vụ nhu cầu
sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc.
13
Trẻ em khuyết tật nhẹ là những trẻ không thuộc trường hợp khuyết tật đặc
đi được, không thể leo trèo được thì khó có cảm giác về độ cao và kỹ năng lấy
thăng bằng của cơ thể, không có cảm giác về sức đẩy của nước nếu không được
ngâm mình trong nước…
Đối với trẻ bị tổn thương về lão bộ gây rất nhiều cản trở cho hoạt động
nhận thức của trẻ, thậm trí là trình độ nhận thức ở mức độ nặng. Hoạt động nhận
thức của loại trẻ này cũng có những hạn chế tương tự như trẻ chậm phát triển trí
tuệ và còn bị ảnh hưởng thêm của khuyết tật vận động. Song cũng cần lưu ý
những trường hợp khuyết tật vận động do bại não gây nên thì hoạt động nhận
thức của trẻ hầu như không bị ảnh hưởng song trẻ khó có thể đạt được suy nghĩ,
hành động, lời nói một cách bình thường do sự cản trở của khuyết tật vận động.
Đối với trẻ chậm phát triển vận động, khó khăn khi nói, kém hiểu biết về
các quy luật xã hội căn bản, không ý thức về hậu quả về các hành vi của mình,
khó khăn khi tự phục vụ, phân tích màu sắc, dấu hiệu, chi tiết sự vật kém, thiếu
tích cực trong quan sát, tư duy của trẻ thường biểu hiện tính không liên tục,
chậm hiểu cái mới, quên nhanh cái vừa mới tiếp thu, thời gian chú ý của trẻ em
chậm phát triển trí tuệ kém hơn nhiều trẻ bình thường.
Bên cạnh những đặc điểm của trẻ em khuyết tật về vận động cũng như trẻ
em khuyết tật về trí tuệ, các em đều là những người sống nội tâm, giàu cảm xúc,
giàu nghị lực để thích nghi, để vượt qua những khó khăn. Đây là ưu điểm cần
quan tâm động viên để trẻ em khuyết tật tự vươn lên hòa nhập cuộc sống xã hội.
Trẻ em khuyết tật cũng như những trẻ bình thường có những đòi hỏi thỏa mãn
các nhu cầu ngày càng tăng về vật chất, tinh thần và nhu cầu hoàn thiện chính
bản thân mình như những trẻ em bình thường khác. Trẻ em khuyết tật luôn muốn
được hòa nhập xã hội, mong muốn được học tập, muốn được tôn trọng để xóa đi
những mặc cảm tự tị, mặc cảm với bản thân mình.
1.1.2. Chính sách đối với trẻ em khuyết tật
1.1.2.1 Khái niệm:
Thuật ngữ “chính sách” được dùng rộng rãi trong lý thuyết phát triển hiện
đại. Có nhiều cách tiếp cận để đưa ra những khái niệm về chính sách, dưới các
nước nhằm cụ thể hóa đường lối của Đảng cầm quyền tác động đến lĩnh vực
giáo dục, bảo vệ và chăm sóc trẻ em. Đó là các chính sách và chương trình hỗ
trợ nuôi dưỡng, chăm sóc thay thế; trợ giúp giáo dục, y tế, chỉnh hình, phục hồi
chức năng; hỗ trợ học nghề, tạo việc làm; chính sách và chương trình tiếp cận
16
công trình công cộng, tham gia giao thông và công nghệ thông tin đối với trẻ tàn
tật; chính sách và chương trình hỗ trợ gia đình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; các
chương trình mục tiêu quốc gia trong đó có hợp phần hoặc nội dung bảo vệ trẻ
em; các chương trình dành riêng cho trẻ em.
-
Chính sách đối với trẻ em khuyết tật
Chính sách đối với trẻ em là các quan điểm, cách thức, biện pháp của nhà
nước nhằm cụ thể hóa đường lối của Đảng cầm quyền tác động đến lĩnh vực trẻ
em khuyết tật. Đó là các chính sách bảo trợ xã hội, trợ giúp về y tế, giáo dục,
hoạt động vui chơi giải trí, thể dục thể thao, tiếp cận với các dịch vụ công cộng
giúp trẻ khuyết tật phát triển với khả năng của chính mình, xoá đi những mặc
cảm, phát triển và hòa nhập với cộng đồng như những trẻ bình thường khác.
1.1.2.2. Đặc trưng của chính sách đối với trẻ em khuyết tật
Thực hiện chính sách đối với TEKT mang đầy đủ đặc điểm của quá trình
thực hiện chính sách nói chung. Với bản chất là hoạt động xã hội của con người,
thực hiện chính sách đối với TEKT hàm chứa những đặc điểm chung của các
hoạt động xã hội khác đồng thời với bản chất pháp lý của mình, thực hiện chính
sách đối với TEKT đã tạo nên những đặc điểm nổi trội và đặc thù sau đây:
Thứ nhất, thực hiện chính sách đối với TEKT bao giờ cũng thông qua
những hành vi cụ thể của con người. Đời sống xã hội của con người bao giờ
cũng được bộc lộ thông qua các hành vi, hoạt động cụ thể trong các mối quan hệ