BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HUỲNH NGỌC HOANG HẢI
VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP TỈNH
TRONG BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÀNH CHÍNH, LUẬT HIẾN PHÁP
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính.
Mã số: 60 38 01 02.
ĐẮK LẮK – NĂM 2016
Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học: TS. Huỳnh Văn Thới
Phản biện 1:……………………………………………………………….
………………………………………………………………..
Phản biện 2:……………………………………………………………….
………………………………………………………………..
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, Học viện Hành
chính Quốc gia
Địa điểm: Phòng ………., Nhà A - Hội trường bảo vệ luận văn thạc sĩ,
của Viện kiểm sát hay một chế định hiến định nào đó đều là điều cần thiết, cả về mặt lý luận và thực tiễn, cả ở
bình diện quốc gia hay địa phương.
Đắk Lắk là một tỉnh lớn ở Tây Nguyên. Những năm qua, công tác kiểm sát đã được quan tâm nâng cao
chất lượng, nhằm bảo về quyền con người, quyền công dân, cũng như góp phần phát hiện và xử lý nghiêm minh
những vi phạm pháp luật, góp phần ổn định trật tự xã hội, nâng cao văn hóa pháp lý nói chung. Tuy nhiên, trước
bối cảnh đổi mới cơ quan kiểm sát, đổi mới bộ máy nhà nước theo nguyên tắc pháp quyền, việc nâng cao vai trò
của viện kiểm sát ở luôn là đòi hỏi thường trực, hơn nữa, thời gian qua, công tác kiểm sát ở tỉnh Đắk Lắk xuất
hiện những hạn chế về hiệu quả hoạt động, ảnh hưởng không nhỏ tới niềm tin của người dân vào sự công bằng
của pháp luật.
Để tìm hiểu rõ hơn về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bảo vệ quyền con người, đánh giá thực
trạng công tác bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tìm ra những ưu điểm, khuyết
điểm và hạn chế cũng như nguyên nhân dẫn đến các hạn chế, nhằm đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm
hoàn thiện vai trò bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn hiện nay, tác giả chọn đề
tài “Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trong bảo vệ quyền con người – từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk”.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Xung quanh đề tài luận văn, đã có nhiều công trình liên quan được công bố, ở những mức độ, nội dung
nghiên cứu khác nhau. Có thể kể tới như:
1
- Trần Ngọc Đường (2004), Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Bình luận khoa học Hiến pháp năm 2013, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB. Đại học Quốc
gia Hà Nội, 2015.
- Giáo trình Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người của Nhóm tác giả (Nguyễn Đăng Dung Vũ Công Giao - Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên)), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009.
- PGS.TS.Nguyễn Ngọc Chí (2007), “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự”, Tạp chí
khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 23, tr. 64-80.
- Trần Hoàng Nhung, Nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, quyền công dân của Viện kiểm sát nhân dân –
Qua thực tiễn tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật –
2
sát qua đối chiếu thực tiễn tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Là nguồn tài liệu tham khảo cho tổ chức, cá nhân hữu quan; cho nghiên cứu luật học về chủ đề.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ quyền con người.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tác giả sử dụng phương pháp này để nghiên cứu các văn bản pháp
luật có liên quan đến vai trò bảo vệ quyền con người thông qua các mặt công tác của Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh; các đề tài khoa học, chương trình, dự án, các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: tác giả sử dụng phương pháp này để nêu lên cơ sở lý thuyết về vai
trò bảo vệ quyền con người thông qua các mặt công tác của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh và đánh giá, khái quát
thành những quan điểm, luận điểm làm nền tảng lý luận cho luận văn.
- Phương pháp điều tra xã hội học: tác giả sử dụng phương pháp này thông qua các hình thức khảo sát
và phỏng vấn sâu đối với một số chủ thể có liên quan.
- Phương pháp thống kê: tác giả sử dụng phương pháp này chủ yếu ở chương 2 của luận văn, các số
liệu thu thập, điều tra được tổng hợp, phân tích làm cơ sở đánh giá thực trạng qua đó đánh giá về thành tựu, hạn
chế để đưa ra những giải pháp giải quyết vấn đề một cách cụ thể.
6. Ý nghĩa của luận văn
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và pháp lý về vai trò bảo vệ quyền con người của viện kiểm sát
nhân dân;
- Đánh giá sự phù hợp của các quy định pháp luật về vai trò bảo vệ quyền con người của viện kiểm sát
qua đối chiếu thực tiễn tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Là nguồn tài liệu tham khảo cho tổ chức, cá nhân hữu quan; cho nghiên cứu luật học về chủ đề.
7. Kết cấu của Luận văn
Luận văn gồm ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận. Trong đó phần nội dung gồm hai
- Chức năng, nhiệm vụ chung của Viện kiểm sát nhân dân
Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định về chức năng của Viện kiểm sát là: “Viện kiểm sát nhân dân
thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”.
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của
Hiến pháp và pháp luật, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Trong phạm vi chức năng của mình, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ: “bảo vệ pháp luật, bảo vệ
quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”.
(Khoản 3 Điều 107 Hiến pháp năm 2013);
“bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp
luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”. (Khoản 2 Điều 2 Luật TCVKSND 2014).
- Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân
Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện
việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.
- Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân
4
Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các
hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận
và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự;
trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động;
việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy
định của pháp luật.
1.1.4. Nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sat nhân dân:
Chức năng và nhiệm vụ mang tính đặc thù nên hệ thống các Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức và
hoạt động theo những nguyên tắc đặc thù. Đó là nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành và
5
phát từ truyền thống văn hóa. Như vậy, theo học thuyết về quyền pháp lý, phạm vi, giới hạn và ở góc độ nhất
định, cả thời hạn hiệu lực của các quyền con người phụ thuộc vào ý chí của tầng lớp thống trị và các yếu tố như
phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa... của các xã hội
Học thuyết Mác - Lênin xem xét con người với tư cách là sản phẩm của tự nhiên và xã hội. Con người
là một thực thể tự nhiên nhưng là một thực thể tự nhiên con người trong cộng đồng xã hội. Trong cái tự nhiên
của con người có mặt xã hội và trong cái xã hội của con người có mặt tự nhiên. Do đó, Quyền con người là sự
thống nhất biện chứng giữa “quyền tự nhiên” (như một đặc quyền vốn có và chỉ con người mới có) và “quyền
xã hội” - sự chế định bằng các quy chế pháp lý nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội.
Ở Việt Nam, đã có những định nghĩa về quyền con người do một số cơ quan nghiên cứu và các chuyên
gia từng nêu ra. Theo PGS.TS Nguyễn Đăng Dung,
Quyền con người: Đó là những quyền cơ bản nhất của con người, được có một cách tự nhiên gắn bó mật
thiết với con người - một động vật cao cấp có lý trí, và có tình cảm làm cho con người khác với các động vật
khác, mà nhà nước thành lập với một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của mình là phải bảo vệ những
quyền đó.
Còn theo TS Trần Quang Tiệp, đưa ra một định nghĩa ngắn gọn, khá đầy đủ và cụ thể về quyền con
người như sau: “Quyền con người là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ có con người mới được hưởng trong
những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định”.
Cho đến nay, giữa các nhà khoa học - luật gia trong và ngoài nước vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau
về khái niệm quyền con người, nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích
tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc
tế…v…v
Như vậy, dù ở góc độ nào hay cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là chuẩn mực
được kết tinh từ những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, áp dụng cho tất cả mọi người. Quyền con người là
quyền mà con người được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định và được nhà
nước đảm bảo thông qua hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia.
Định nghĩa này đã chỉ ra được những đặc điểm thuộc về bản chất của khái niệm về quyền con người
1.2.3. Quyền con người và bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự
Quyền con người trong mọi lĩnh vực, được coi là giá trị của nhân loại, phải được tôn trọng và bảo vệ
bao gồm cả các quyền cần được đảm bảo bởi pháp luật, trong đó có pháp luật Dân sự; Luật Thi hành án hình sự;
Bộ luật hình sự; Bộ luật tố tụng hình sự của Việt Nam cùng các văn bản pháp lý khác có liên quan đều có các
quy định điều chỉnh và tác động trực tiếp lên quyền sống của con người.
1.3. NỘI DUNG VAI TRÒ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TRONG LĨNH VỰC HÌNH SỰ
1.3.1. Bảo vệ quyền con người qua hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự
1.3.2. Bảo vệ quyền con người qua hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự
1.3.3. Bảo vệ quyền con người qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ,
tạm giam
1.3.4. Bảo vệ quyền con người qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành
bản án, quyết định của Toà án
7
Chương 2
THỰC TIỄN BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HIỆN NAY
2.1. KHÁI QUÁT VỀ TỈNH ĐẮK LẮK, VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
2.1.1. Khái quát về tỉnh Đắk Lắk
Tỉnh Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, có cộng đồng dân cư gồm: 47 dân tộc. Trong đó,
người Kinh chiếm trên 70%; các dân tộc thiểu số như Ê Đê, M'nông, Thái, Tày, Nùng... chiếm gần 30% dân số
toàn tỉnh.
Dân số tỉnh phân bố không đều trên địa bàn các huyện, tập trung chủ yếu ở thành phố Buôn Ma Thuột,
thị trấn, huyện lỵ, ven các trục Quốc lộ 14, 26, 27 chạy qua như Krông Búk, Krông Pắk, Ea Kar, Krông Ana.
tư pháp (tăng 04 phiên tòa so với chỉ tiêu kế hoạch và tăng 81 phiên tòa so với năm 2014), trong đó có 12 phiên
tòa để rút kinh nghiệm cho cả Kiểm sát viên và Thẩm phán.
b. Thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm
- Từ năm 2013 đến nay (năm 2016), VKSND tỉnh thụ lý THQCT và KSXX 567 vụ, 965 bị cáo theo thủ
tục phúc thẩm, cũ 41 vụ, 83 bị cáo, án mới 526 vụ, 882 bị cáo, tăng 03 vụ, giảm 27 bị cáo so với năm 2014. Toà
án đã giải quyết được 549 vụ, 936 bị cáo, đạt 97% (tăng 12% so với chỉ tiêu kế hoạch và tăng 4% so với năm
2014).
- VKSND tỉnh thụ lý THQCT và KSXX giám đốc thẩm 03 vụ, 04 bị cáo, giảm 03 vụ, 12 bị cáo so với
năm 2014; Toà án đã giải quyết 03 vụ, 04 bị cáo, đạt 100% (tăng 15% so với chỉ tiêu kế hoạch và bằng chỉ tiêu
năm 2014).
- Thụ lý THQCT và KSXX tái thẩm 03 vụ, 03 bị cáo (án do Viện kiểm sát kháng nghị), tăng 03 vụ, 03 bị
cáo so với năm 2014. Tòa án chưa giải quyết.
2.2.3. Công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự
2.2.3.1. Công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam
Từ năm 2013 đến nay (năm 2016), Tổng số người bị bắt, tạm giữ 1.494 người, trong đó, cũ 20 người,
mới 1.474 người (tăng 141 người so với năm 2014). Đã giải quyết 1.494 người, đạt 100%; trong đó, khởi tố
chuyển tạm giam 1.129 người, khởi tố áp dụng biện pháp ngăn chặn khác và trả tự do 364 người; chết 01 người
(do tự tử).
Tổng số bị can bị tạm giam là 3.381, cũ 618 bị can, mới 2.763 bị can (giảm 12 bị can so với năm 2014).
Đã giải quyết 2.361 bị can, đạt 69,8%; trong đó, áp dụng biện pháp ngăn chặn khác 305 bị can, án có hiệu lực
pháp luật chuyển Trại giam 1.629 bị can, trả tự do 166 bị can (với các lý do: có quyết định đình chỉ 08 bị can,
thời hạn tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn tạm giam và cho hưởng án treo 158 bị can), thi hành án tử hình 04 bị
án, huỷ bỏ biện pháp tạm giam 257 bị can; chết 07 bị can (do tự tử 02, bệnh lý 05). Số còn tạm giam 1.013 bị
can. Thông qua công tác kiểm sát, Viện kiểm sát đã không phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam 08 bị can;
không phê chuẩn lệnh tạm giam 06 bị can; yêu cầu Cơ quan điều tra bắt tạm giam 01 bị can.
VKSND tỉnh ban hành kiến nghị yêu cầu Giám đốc Công an tỉnh Đắk Lắk, chỉ đạo Trại tạm giam Công
an tỉnh và các Nhà tạm giữ Công an cấp huyện khắc phục các vi phạm trong công tác tạm giữ, tạm giam, quản lý
và giáo dục người chấp hành án phạt tù.
2.2.4.1. Những thành tựu và nguyên nhân của chúng
Với mục tiêu bảo vệ quyền con người, thông qua hai chức năng cơ bản là công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp,
những năm qua, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã đạt được những thành tựu nhất định. Đó là:
- Thứ nhất, các mặt công tác ngày càng được chuyên nghiệp hóa, được nâng cao chất lượng chuyên
môn;
- Thứ hai, những năm qua, tình hình chấp hành pháp luật về tố tụng hình sự trên địa bàn tỉnh đã có
những chuyến biến rõ rệt;
- Thứ ba, niềm tin của nhân dân vào vai trò của Viện kiếm sát được nâng lên.
Nguyên nhân cơ bản, quan trọng của những thành tựu trên là:
- Hệ thống pháp luật cho tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát ngày càng được hoàn thiện, công tác
lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra được thực hiện bám sát và kịp thời;
- Ý thức pháp luật, sự tích cực công vụ và trình độ, nghiệp vụ của lực lượng kiểm sát viên, kiểm tra viên
đã được nâng cao, góp phần nâng cao hiệu quả trong quá trình giải quyết các nói chung, vụ án hình sự xâm
phạm quyền con người nói riêng.
- Sự tham gia tích cực của người dân, xã hội trong đấu tranh, bảo vệ quyền cong người cũng là nguyên
nhân quan trọng giúp cơ quan Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk hoàn thành vai trò bảo vệ quyền con người
theo quy định.
2.2.4.2. Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của chúng
Trong những năm qua, ngành kiểm sát tỉnh đã triển khai nhiều biện pháp để phấn đấu thực hiện tốt chức
năng, nhiệm vụ được giao, tập trung tổ chức quán triệt và thực hiện các chủ trương của Đảng về đổi mới tổ chức
và hoạt động của VKS trong tiến trình cải cách tư pháp, các quy định mới của Nhà nước liên quan đến chức
năng, nhiệm vụ của Ngành kiểm sát. Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp tiếp
tục có chuyển biến tích cực; chất lượng, hiệu quả các lĩnh vực hoạt động kiểm sát được nâng cao hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
10
động tư pháp của VKSND tỉnh vẫn còn những tồn tại hạn chế như:
- Một số đơn vị trong các cơ quan VKSND tỉnh còn chưa chủ động thực hiện đầy đủ quyền hạn, trách
ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội,
không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội” hướng tới mục đích “góp phần bảo vệ chế độ XHCN, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật XHCN.
Nguyên tắc cơ bản của BLTTHS đã thể hiện tinh thần bảo vệ quyền con người với hai định hướng: Xử
lý nhanh chóng, kịp thời đúng pháp luật đối với tội phạm xâm phạm quyền con người và Đảm bảo không làm
ảnh hưởng tới quyền con người khi tiến hành tố tụng.
Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng pháp luật đã phát sinh nhiều thiếu sót gây khó khăn, vướng mắc cho
11
các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các chủ thể khác khi tham gia vào quan hệ pháp luật tố
tụng hình sự. Mặt khác, với những thay đổi cơ bản trong Hiến pháp mới năm 2013 và để đáp ứng công cuộc cải
cách tư pháp hiện nay, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự, đặc biệt là BLTTHS là một yêu cầu cấp bách
hiện nay. Trước yêu cầu và đòi hỏi đó, một số nguyên tắc cơ bản của BLTTHS đã cho thấy những điểm hạn chế
cần sửa đổi. Cụ thể:
Thứ nhất, Điều 3 của BLTTHS 2003 quy định: "Mọi hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này. ”
Theo quy định tại điều luật trên có thể thấy rằng, điều luật này chỉ quy định mọi hoạt động tố tụng hình
sự của các chủ thể nêu trên phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật. Tuy nhiên, nếu trong quá trình thực
hiện các hoạt động tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng có
những hành vi vi phạm pháp luật thì sẽ xử lý ra sao lại không được đề cập trong nguyên tắc này. Vì vậy, Điều 3
BLTTHS 2003 nên bổ sung thêm như sau:
Mọi hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia
tố tụng phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này. Mọi trường hợp vi phạm pháp luật trong quá trình tố
tụng sẽ bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, Điều 13 của BLTTHS 2003 quy định:
“Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác
định tội phạm và xử lý người phạm tội.
quyền và lợi ích của công dân.
2.3.1.2. Sửa đổi, bổ sung các quy định cụ thể liên quan đến nhiệm vụ, quyền han, và trách nhiệm của
Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020" có đặt ra yêu cầu là:
“Phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tư
pháp theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán để họ chủ động trong
việc thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định
tố tụng của mình”.
Việc thực hiện yêu cầu này là hết sức cần thiết để hoạt động tư pháp tiến hành trôi chảy, khắc phục tính
hình thức, quan liêu. Trong đó, một trong những vấn đề trọng tâm của ngành kiểm sát là nâng cao chất lượng
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên làm sao để họ phát huy được tính tự thực hiện, tự chịu trách
nhiệm trước pháp luật và trước cấp trên về những hành vi và quyết định tố tụng của mình.
Kiểm sát viên là những người trực tiếp thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, xét xử một vụ án
hình sự sẽ có những hành vi, đưa ra những quyết định tố tụng nhất định, gắn liền với một sự kiện, tình huống cụ
thể. Kiểm sát viên phải được độc lập để chỉ giải quyết vụ án hình sự theo các quy định của pháp luật và chịu
trách nhiệm cá nhân về hành vi, quyết định của mình, không bị chi phối bởi các thẩm quyền khác. Như vậy, sẽ
tạo điều kiện cho quá trình tố tụng được tiến hành trôi chảy, xử lý vụ án được khách quan, kịp thời, toàn diện và
đúng đắn. Nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong vụ án hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 37 BLTTHS. Những quy định này nhìn chung đã khái
quát được nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên trong suốt quá trình giải quyết vụ án nhưng vẫn còn những
hạn chế bất cập.
BLTTHS quy định Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự quyền kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều
tra và lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra. Với quy định này, chúng ta có thể thấy, kiểm sát viên không thực sự
được độc lập khi thực hiện các quyền hạn tố tụng của mình. Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, kiểm sát
viên là người trực tiếp kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra nên là người nắm bắt rõ nhất những
trường hợp đủ căn cứ để khởi tố vụ án hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can... nhưng lại không
có những quyền hạn này mà vẫn phải báo cáo Viện trưởng, phó Viện trưởng quyết định. Việc này gây ra rất
nhiều hạn chế cho kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án.
án nhân dân theo yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp; kiện toàn tổ chức bộ máy VKS phù hợp với thực tế
công việc, khả năng cán bộ và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ được giao. Quá trình rà soát, quy hoạch, bổ nhiệm,
Ban cán sự Đảng, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh sẽ chú trọng cán bộ trẻ, cán bộ nữ có năng lực, triển
vọng, phẩm chất đạo đức tốt để bổ nhiệm vào các chức vụ lãnh đạo quản lý.
-
Trong hệ thống cơ quan VKSND cấp tỉnh, cần xây dựng một số cơ quan của VKS được tổ chức theo
lĩnh vực hoạt động chuyên sâu: chuyên điều tra, truy tố các tội phạm có tổ chức, tội phạm kinh tế, tội phạm
tham nhũng, tội phạm ma túy, tội phạm do thanh, thiếu niên thực hiện, tội phạm giao thông, tội phạm môi
trường, tội phạm liên quan đến xuất, nhập cảnh, tội phạm thuộc lĩnh vực công nghệ, tin học...
-
Chú trọng thường xuyên việc cử cán bộ VKSND tỉnh xuống chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ cho
VKSND cấp huyện.
Bên cạnh việc đổi mới hệ thống tổ chức theo tinh thần các nghị quyết nêu trên, việc nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ kiểm sát cũng cần phải được đặc biệt chú trọng. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và
Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị cũng đề ra mục tiêu xuyên suốt là: Xây dựng nền
tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ nghiêm minh, từng bước hiện đại phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc
Việt nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và
hiệu lực cao nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Một trong những yêu cầu
quan trọng mà công cuộc cải cách tư pháp đặt ra là xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, nhất là cán bộ có chức
danh tư pháp theo hướng đề cao quyền hạn gắn với trách nhiệm pháp lý. Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
kiểm sát , VKSDN tỉnh Đắk Lắk cần:
-
chính sách pháp luật, thực hiện có hiệu quả công tác kiểm sát.
-
Kiểm sát viên được pháp luật bảo đảm vị thế, Kiểm sát viên là người đại diện cho lợi ích công và hoạt
động độc lập. Không bị lệ thuộc hay phụ thuộc vào bất kỳ cơ quan, tổ chức nào, để bảo đảm các hoạt động của
Kiểm sát viên được vô tư, khách quan và đúng quy định của pháp luật.
Như vậy, việc đổi mới tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ kiểm sát viên góp phần vào việc
thực hiện mục tiêu mà nghị quyết 49 đã đề ra Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ nghiêm
minh, từng bước hiện đại phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp
mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân.
2.3.2.2. Đổi mới phương thức quản lý, chỉ đạo điều hành trong ngành Kiểm sát
Ngành kiểm sát còn cần phải chú trọng tới việc đổi mới phương thức quản lý, chỉ đạo điều hành của
ngành nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của ngành qua đó góp phần vào công cuộc cải cách tư pháp,
đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ quyền con người, các quyền cơ bản của công dân.
Cần nâng cao chất lượng của hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Lãnh đạo VKSND
phải quán triệt, nâng cao nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của việc tranh tụng tại phiên tòa cho Kiểm sát
viên, từ đó có định hướng đúng về vấn đề tranh tụng; ngành Kiểm sát phải thường xuyên bồi dưỡng, đào tạo và
đào tạo lại cho đội ngũ Kiểm sát viên, trong đó có chương trình chuyên sâu về kỹ năng tranh tụng; VKSND tỉnh
(và huyện) cần tổ chức sơ kết rút kinh nghiệm hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên. Định kỳ 06 tháng, một
năm, VKS tiến hành sơ kết, ra thông báo chung về hoạt động tranh tụng của kiểm sát viên gửi các đơn vị để
cùng học tập, rút kinh nghiệm.
Việc đổi mới phương thức quản lý, chỉ đạo điều hành trong ngành Kiểm sát nhằm góp phần đảm bảo
việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của ngành kiểm sát trong công cuộc phòng chống tội phạm và bảo vệ
quyền con người, quyền của người bị tình nghi, bị can, bị cáo trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự.
2.3.2.3. Tăng cường quan hệ phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và các
cơ quan, tổ chức có liên quan trong tố tụng hình sự.
2.3.2.4. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong ngành kiểm sát
4. Trước tình hình đó, việc sửa đổi bổ sung một số quy định trong BLTTHS về các nguyên tắc cơ bản
trong TTHS; bổ sung các nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự trong BLTTHS
có ý nghĩa rất quan trọng đối với VKSND trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, để bảo vệ quyền con người.
Tăng cường quan hệ phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan khác,
đặc biệt là mối quan hệ giữa Tòa án với VKS tỉnh; tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, chế độ
lương, phụ cấp ưu đãi... đối với đội ngũ cán bộ tư pháp, trong đó có cán bộ Kiểm sát góp phần mang lại hiệu quả
tích cực cho hoạt động thực hiện chức năng nhiệm vụ của VKS trong TTHS, qua đó góp phần vào công cuộc cải
cách tư pháp, đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ quyền con người, các quyền cơ bản của công dân.
16