Quản lý nhà nước về phát triển nhiệt điện ở việt nam (tt) - Pdf 41

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam, là một quốc gia đang phát triển, nhu cầu tiêu thụ năng lượng phục vụ
phát triển kinh tế tăng rất nhanh trong những năm qua (GDP tăng trung bình khoảng 5,6
%/năm trong giai đoạn 1997-2009, WB 2010). Cùng với quá trình đô thị hóa diễn ra
nhanh chóng (788 đô thị, tốc độ đô thị hóa 35,2%, UN-Habitat 2015) và đời sống nhân
dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu sử dụng năng lượng nói chung và điện năng nói
riêng cũng tăng rất nhanh.
Theo dự báo, sau 2015 Việt Nam sẽ trở thành nước nhập khẩu năng lượng, đặc
biệt là nhập khẩu than cho phát điện (Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn
2011-2020 có xét đến 2030). Trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, GDP bình quân hàng
năm sẽ tăng khoảng 7%, nhu cầu điện thương phẩm tăng giai đoạn 2016-2020 tăng
khoảng 11,4%; giai đoạn 2021-2025 tăng khoảng 9,1%; giai đoạn 2026-2030 tăng
khoảng 7,9%.
Phát triển năng lượng phải gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước và đảm bảo đi trước một bước với tốc độ cao, bền vững, đồng bộ, đi đôi với đa
dạng hóa các nguồn năng lượng và công nghệ tiết kiệm năng lượng là nhiệm vụ trọng
tâm trong suốt thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Phát triển năng lượng gắn
chặt với giữ gìn môi trường sinh thái, bảo đảm thực hiện phát triển năng lượng bền vững.
Để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia trong dài hạn, các loại hình nguồn phát điện
được quy hoạch đa dạng, đầy đủ nhằm khai thác triệt để, có hiệu quả kinh tế và bảo vệ
môi trường. Vì vậy, việc tìm kiếm các giải pháp để đảm bảo an ninh năng lượng được
Chính phủ quan tâm và định hướng các chủ trương phát triển năng lượng bền vững.
Quy hoạch phát triển năng lượng quốc gia nói chung và Quy hoạch phát triển điện
lực, đặc biệt là phát triển nhiệt điện nói riêng trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc
tế là một trong các nội dung quan trọng của QLNN về phát triển bền vững, bao gồm: an
ninh năng lượng, khai thác sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên thiên nhiên gắn với
bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, ứng phó với BĐKH… Tại Hội nghị thượng
đỉnh khí hậu thế giới COP 21 (Thỏa thuận Paris, thông qua ngày 12/12/2015, đã đi vào
lịch sử với sự đồng thuận 195 nước thành viên Công ước khung của LHQ về biến đổi khí
hậu), Thủ tướng Chính phủ cũng thể hiện trách nhiệm rất rõ ràng của Việt Nam đối với

tái tạo (gió, mặt trời, sinh khối, ...) góp phần bảo tồn tài nguyên năng lượng, giảm thiểu
tác động tiêu cực tới môi trường [18]
Bài viết: “Quy hoạch hệ thống điện Việt Nam – nhìn từ phía an ninh năng lượng
Quốc gia” của Ths.Nguyễn Anh Tuấn và KS. Nguyễn Mạnh Cường, Viện Năng lượng,
2015 đã tập trung vào một số vấn đề: Hiệu chỉnh lại dự báo nhu cầu điện đến năm 2030
với mục tiêu giảm dần cường độ tiêu thụ điện, tăng hiệu quả sử dụng điện và hiệu quả
đầu tư các công trình điện; tăng cường tỷ trọng các nguồn năng lượng sạch: điện từ năng
lượng tái tạo, từ khí đốt và khí hoá lỏng để giảm thiểu tác động đến môi trường, phát
triển bền vững; nghiên cứu đề xuất các giải pháp mới về quy hoạch lưới truyền tải: liên
kết lưới truyền tải Bắc-Trung-Nam, truyền tải công suất lớn từ các cụm nhiệt điện - điện
hạt nhân từ duyên hải nam Trung bộ về Nam bộ, giảm dòng ngắn mạch [23]
Đề tài Khoa học và công nghệ: “Xây dựng các biện pháp kiểm soát khí nhà kính
trong lĩnh vực Nhiệt điện đốt than (NĐĐT) và đề xuất lộ trình áp dụng các biện pháp
kiểm soát” của Ths.Nguyễn Thị Thu Huyền và tập thể tác giả Trung tâm Tư vấn Nhiệt
điện - Điện hạt nhân. Đề tài bao gồm những nội dung chính: Đánh giá tổng quan những
vấn đề liên quan như Công nghệ và thiết bị các nhà máy nhiệt điện than, Cơ chế quản lý,
vận hành sản xuất và quản lý môi trường, đánh giá ảnh hưởng của BĐKH; Xây dựng bộ
tiêu chí đánh giá mức giảm phát thải khí nhà kính lĩnh vực nhiệt điện đốt than; đề xuất lộ
trình áp dụng biện pháp kiểm soát phát thải khí nhà kính lĩnh vực nhiệt điện đốt than [10]
Bài báo: “Phát triển nhiệt điện trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở Việt Nam” của
PGS.TS.Bùi Huy Phùng đã đưa ra những kiến nghị: Rà soát, đánh giá chính xác hơn tiềm
năng, trữ lượng các dạng năng lượng, dự báo nhu cầu năng lượng, nhu cầu điện với độ tin
2


cậy cao, tiến hành xây dựng cân bằng năng lượng sơ cấp (Quy hoạch năng lượng tổng thể
quốc gia), theo đúng Luật Điện lực 2013, làm cơ sở khoa học và pháp lý cho quy hoạch
phát triển các phân ngành điện, than, dầu-khí; từ đó sẽ xác định được cơ cấu tối ưu sử dụng
các nguồn năng lượng, cũng như cơ cấu nguồn điện cho cả giai đoạn quy hoạch [17]
Tuy nhiên, có thể nói, vấn đề QLNN về phát triển nhiệt điện ở Việt Nam chưa có

6.2. Về thực tiễn
- Qua phân tích hiện trạng nội dung QLNN về khai thác, sử dụng tài nguyên
khoáng sản; sản xuất và phân phối điện năng cho vùng, miền của Việt Nam, tác giả đề
xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện nội dung QLNN về phát triển nhiệt điện ở Việt Nam
giai đoạn 2016 - 2020.
3


- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong
nghiên cứu, bồi dưỡng cho các công chức, viên chức trong lĩnh vực QLNN về tài nguyên
và bảo vệ môi trường, năng lượng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được cấu
trúc làm 03 chương
Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về phát triển nhiệt điện ở Việt Nam
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về phát triển nhiệt điện ở Việt Nam
Chương 3 Một số giải pháp hoàn thiện nội dung Quản lý nhà nước về phát triển
nhiệt điện ở Việt Nam

4


Chƣơng 1:
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ PHÁT TRIỂN
NHIỆT ĐIỆN Ở VIỆT NAM
1.1. Những khái niệm cơ bản
1.1.1. Nhiệt điện
Nhiệt điện là việc biến đổi nhiệt năng của nhiên liệu thành cơ năng rồi điện năng,
quá trình biến đổi đó được thực hiện nhờ tiến hành một số quá trình liên tục (một chu
trình) trong một số thiết bị của nhà máy nhiệt điện [5]

gần 2 bể khí Cửu Long và Nam Côn Sơn; TTĐL Ô Môn (2.800 MW) và nhiệt điện khí
Cà Mau (1.500 MW) gần khu vực bể khí Malay – Thổ Chu [3]

5


Chính đặc điểm trên cũng giải thích cho việc quy hoạch và phát triển nguồn điện của
nước ta trong tương lai. Nếu như trước đây, xu hướng xây dựng các nhà máy Nhiệt điện là
gần khu vực các mỏ than và khí, nhằm tận dụng tối đa lợi thế về nguồn nhiên liệu. Tuy nhiên
sẽ đánh đổi lại việc không tối ưu được giữa vị trí nguồn điện với khu vực tiêu thụ.
Trong tương lai, việc xây dựng các nhà máy nhiệt điện sẽ không phải phụ thuộc
vào vị trí các mỏ nhiên liệu như hiện tại do chuyển sang xu hướng nhập khẩu nhiên liệu
cho sản xuất điện. Các trung tâm điện lực lớn (chủ yếu là nhiệt điện than) sẽ được xây
dựng dọc theo vùng duyên hải miền Trung và phía Nam nhiều hơn nhằm thuận lợi cho
việc nhập khẩu nhiên liệu (than dự kiến nhập từ Australia và Indonesia) và gần các khu
vực tiêu thụ điện lớn như miền Nam để giảm áp lực cung ứng cho đường dây 500kV
cũng như Hệ thống điện Quốc gia.
1.1.4. Sản xuất, phân phối nhiệt điện
1.1.4.1. Nhiệt điện khí
Nhiệt điện khí có tỷ trọng đóng góp lớn nhất trong cơ cấu nguồn sản xuất nhiệt
điện với tỷ trọng hơn 48% tổng công suất của nhiệt điện. Nguồn nguyên liệu để sản xuất
ra điện là khí tự nhiên được mua lại từ Tập đoàn dầu khí và nhập khẩu, giá bán khí sẽ
biến động theo giá dầu. Mặc dù nguồn khí tự nhiên nước ta khá dồi dào, tuy nhiên do giá
thành sản xuất điện khí ở mức cao do đó mặc dù công suất của các nhà máy điện khí rất
lớn những tỷ lệ khai thác lại không cao
1.1.4.2. Nhiệt điện than
Đứng thứ 2 trong cơ cấu các nguồn nhiệt điện nước ta, nguồn nguyên liệu hiện nay
toàn bộ được mua từ nguồn than đá trong trong nước của Tập đoàn Than khoáng sản Việt
Nam với giá ưu đãi, trong tương lai cùng với sự phát triển của các dự án này thì nhiều
khả năng nước ta sẽ phải nhập khẩu thêm nguồn than bên ngoài

Thứ ba, hoạt động QLNN về nhiệt điện sẽ giải quyết được những tồn tại của
ngành điện quốc gia nói chung và nhiệt điện nói riêng. Nhiệt điện Việt Nam vẫn còn
những hạn chế, xuất hiện tình trạng mất cân đối giữa các nguồn nhiên liệu, giữa cung ứng
và nhu cầu, giữa nhu cầu đầu tư và nguồn vốn đầu tư.
Thứ tư, hoạt động QLNN khắc phục hạn chế sự chồng chéo trong phát triển ngành
điện. Nhà nước có vai trò tạo động lực cạnh tranh quốc gia; thiết lập hạ tầng đồng bộ chi
phí thấp; tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, giá cả cạnh tranh.
1.2.3. Nguyên tắc quản lý nhà nước về phát triển nhiệt điện
Thực hiện QLNN về phát triển nhiệt điện phải quán triệt đầy đủ các nguyên tắc sau:
- Thứ nhất, bảo đảm tính hệ thống: Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất hệ
thống của đối tượng quản lý. Nhiệt điện là một quá trình biến đổi nhiên liệu phức tạp.
- Thứ hai, bảo đảm tính tổng hợp: Nguyên tắc này xuất phát từ cơ sở tác động
tổng hợp của hoạt động phát triển lên đối tượng quản lý (hệ thống các nhiên liệu tạo ra
nhiệt điện).
- Thứ ba, bảo đảm tập trung dân chủ: Đây là một trong các nguyên tắc cơ bản
của QLNN về phát triển nhiệt điện nói riêng, QLNN nói chung. QLNN về phát triển
nhiệt điện được thực hiện ở nhiều cấp khác nhau.
- Thứ tư, kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ: nhiệt điện nói riêng và
ngành điện năng nói chung do Bộ công thương quản lý và sử dụng.
- Thứ năm, kết hợp hài hòa các lợi ích: như chúng ta đã biết, quản lý phát triển
nhiệt điện trước hết là quản lý các hoạt động phát triển do con người tiến hành, là tổ chức
và phát huy tính tích cực hoạt động của con người vì mục tiêu phát triển bền vững.
- Thứ sáu, kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa quản lý phát triển nhiệt điện với quản
lý kinh tế, quản lý xã hội.
- Thứ bảy, tiết kiệm và hiệu quả: QLNN về phát triển nhiệt điện đòi hỏi nguồn
lực lớn, trong khi đó, nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội cũng ngày càng cao.
1.2.4. Đặc trưng quản lý nhà nước về phát triển nhiệt điện
Thứ nhất, QLNN về phát triển nhiệt điện là quản lý một loại hàng hóa đặc biệt.
Giá trị sử dụng của hàng hóa nhiệt điện khác với các loại hàng hóa khác. Sự biến động
của giá nhiệt điện có tác động rất lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Ở góc độ kinh

- Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nhiệt điện, bảo đảm cung
cấp đủ điện năng cho phát triển kinh tế-xã hội
- Xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật về nhiệt điện trong khu vực; mở
rộng kho dự trữ xăng dầu; kết hợp an ninh năng lượng với bảo đảm quốc phòng, an ninh
quốc gia.
- Tổ chức bộ máy QLNN về nhiệt điện
- Hỗ trợ, tạo điều kiện, can thiệp và điều tiết đối với sự phát triển của nhiệt điện
- Thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với các hoạt động liên quan về nhiệt điện.
1.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nƣớc về phát triển nhiệt điện của một số quốc gia
1.3.1. Mỹ
Chính quyền của Tổng thống Mỹ Barack Obama cũng công bố một kế hoạch
nhằm đối phó với biến đổi khí hậu, theo đó cắt giảm 30% lượng khí thải gây hiệu ứng
nhà kính trong 15 năm tới. Ngoài ra, Mỹ cũng quyết định hạn chế đầu tư cho các dự án
xây dựng nhà máy nhiệt điện sử dụng than đá ở nước ngoài, đồng thời kêu gọi các tổ
chức quốc tế và các nước cho vay hạn ngạch khí thải carbon sớm thực hiện các bước đi
tương tự. Than đá hiện đóng góp tới 42% sản lượng điện của Mỹ nhưng cũng là nguồn
thải ra lượng khí CO2 lớn nhất tại các nhà máy điện, chiếm tới 83%.

8


Hiện nay, Bộ Năng lượng Mỹ đang triển khai Chương trình nghiên cứu công nghệ
than nhằm mục đích hỗ trợ sự phát triển và thương mại hóa các công nghệ tiên tiến, giá
thành thấp cho các quá trình đốt than, khí hóa than và khống chế mức phát tán ô nhiễm do
đốt than. Chương trình này sẽ áp dụng cho cả các nhà máy nhiệt điện hiện có và các nhà
máy sắp xây dựng thế hệ mới. Trong thực tế, từ chương trình trên, một số công nghệ cao
cấp cho mục đích kiểm soát ô nhiễm môi trường khi đốt than (ví dụ các vòi đốt với mức
phát tán NOx thấp và các hệ thống tách lưu huỳnh từ khí ống khói ở các nhà máy đốt than
nghiền mịn thông thường) đã được thương mại hóa và áp dụng rộng rãi.
1.3.2. Hàn Quốc

Để phát triển ngành điện bền vững, đảm bảo an ninh cung cấp điện, việc đẩy mạnh
thực hiệu quản lý nhu cầu điện và sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả là giải pháp
quan trọng nhằm giảm công suất, sản lượng tiêu thụ điện, tránh quá tải lưới điện. Vì vậy,
9


Việt Nam cần nghiên cứu và thí điểm điều chỉnh phụ tải điện trong giai đoạn cao điểm,
đảm bảo an ninh cung cấp điện. Việc tích hợp các giải pháp công nghệ tự động điều
chỉnh phụ tải ADR vào lưới điện của Việt Nam sẽ cho phép các nhà cung cấp giảm thiểu
nhu cầu điện năng trong giờ cao điểm bằng cách làm việc với khách hàng để giảm thiểu
và chuyển hướng nhu cầu tiêu thụ điện năng.
Ngoài ra, với vấn đề tiết kiệm năng lượng tại các nhà máy nhiệt điện cần ứng dụng
sản phẩm công nghệ mới E-Plus làm phụ gia cho các lò đốt than, dầu và khí của các nhà
máy. Sản phẩm đã được ứng dụng tại các nhà máy nhiệt điện của Đài Loan và đã thử
nghiệm tại một số đơn vị ở Việt Nam. Kết quả thử nghiệm ở Việt Nam cho thấy, khả
năng tiết kiệm than của các nhà máy từ 3,5 - 12%, lượng dầu đốt tiết kiệm 12 - 20%,
lượng phát thải khí độc hại công nghiệp giảm đáng kể.
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1
Quá trình xây dựng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia và các Quy hoạch
phát triển điện lực Việt Nam, trong đó có phát triển nhiệt điện phải dựa trên các yếu tố sau:
nhu cầu năng lượng để đáp ứng tốc độ tăng trưởng kinh tế, tiềm năng các nguồn năng
lượng sơ cấp trong nước, hợp tác quốc tế về năng lượng (xuất/nhập khẩu năng lượng), phát
triển năng lượng/điện phải gắn liền với bảo vệ môi trường – phát triển bền vững.
Hiện nay ở nước ta có 2 nguồn sản xuất điện năng chủ yếu đó là thủy điện và nhiệt
điện. Nhiệt điện hiện nay chủ yếu là 3 nguồn: nhiệt điện than, nhiệt điện khí và nhiệt điện dầu.
Trong chương 1, tác giả đã trình bày một số khái niệm cơ bản như: nhiệt điện, vai
trò của nhiệt điện trong quá trình cung ứng điện năng tại Việt Nam, cách thức khai thác,
sản xuất, phân phối nhiệt điện… Luận văn cũng đi sâu nghiên cứu nội dung QLNN về
phát triển nhiệt điện. Vai trò của QLNN về nhiệt điện. Các nguyên tắc, sự cần thiết của
QLNN về lĩnh vực này.

thành điểm đến hấp dẫn của các công trình nhiệt điện mang tầm cỡ lớn. Theo quy hoạch
phát triển năng lượng của Chính phủ, đến năm 2020, Vũng Áng sẽ trở thành một trong
những trung tâm nhiệt điện lớn của quốc gia, với tổng công suất 6.450 MW. Khu kinh tế
Vũng Áng là nơi thuận tiện cho việc cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy qua các cầu
cảng (yếu tố quyết định đến tính hiệu quả của dự án nhà máy nhiệt điện).
Nam bộ có thềm lục địa là khu vực có tiềm năng dầu khi lớn. Trữ lượng dầu khí
tập trung chủ yếu trong 3 bể trầm tích chính:
2.1.2. Khả năng khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản
2.1.2.1. Than đá
Về mặt lý thuyết, Việt Nam là nước có tiềm năng khá lớn về tài nguyên than, bao
gồm than Anthracite phân bố chủ yếu ở các bể than Quảng Ninh, Thái Nguyên, Sông
Hồng, Nông Sơn, với tổng tài nguyên đạt trên 18 tỷ tấn. Bể than Quảng Ninh là lớn nhất
với tài nguyên trữ lượng đạt trên 9 tỷ tấn, trong đó hơn 4 tỷ tấn than đã được thăm dò và
đánh giá đảm bảo độ tin cậy. Bể than Quảng Ninh đã được khai thác từ hơn 100 năm nay
phục vụ tốt cho các nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Than á bitum ở phần lục địa trong
bể than sông Hồng tính đến chiều sâu -1.700m (so với mực nước biển) có trữ lượng đạt
36,96 tỷ tấn và có thể đạt đến 210 tỷ tấn nếu tính đến độ sâu -3.500m. Than bùn có tổng
trữ lượng khoảng 7,1 tỷ tấn (70% tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long).
Hiện nay, toàn bộ sản lượng than khai thác bằng 2 phương pháp: lộ thiên và hầm
lò, bao gồm 24 mỏ lộ thiên và 49 mỏ hầm lò, chủ yếu tập trung ở Bể than Đông Bắc (tỉnh
Quảng Ninh) và các mỏ than ở khu vực phía Bắc (Thái Nguyên, Lạng Sơn, Nông Sơn).
Nhiều năm liền, Việt Nam luôn nằm trong nhóm các nước sản xuất và xuất khẩu than
nhiều nhất Thế giới, tuy nhiên sản lượng khai thác cũng như xuất khẩu đang giảm dần
qua các năm. Cụ thể năm 2010, tổng sản lượng than sản xuất đạt 46,98 triệu tấn đã giảm
xuống chỉ còn 37,5 triệu tấn than nguyên khai vào năm 2014 (giảm 20,2%).
11


2.1.2.2. Dầu mỏ
Đến nay, Việt Nam được đánh giá là quốc gia thuộc nhóm nước có nhiên liệu về

12


Hình 2.4: Cân bằng cung - cầu than Việt Nam (Triệu tấn) 2020- 2030
(Nguồn: Theo quy hoạch phát triển ngành than VN đến năm 2020)
2.2. Thực trạng quản lý nhà nƣớc về phát triển nhiệt điện ở Việt Nam
2.2.1. Ban hành các văn bản quản lý nhà nước về phát triển nhiệt điện
Trong những năm qua, để đáp ứng yêu cầu QLNN về nhiệt điện, hàng loạt các văn
bản quy phạm pháp luật về ngành điện (bao hàm cả nhiệt điện) với hiệu lực pháp lý khác
nhau đã được ban hành trong đó phần lớn là các văn bản quy phạm do các cơ quan
QLNN ở Trung ương ban hành. Các văn bản này tập trung vào việc thiết lập cơ chế pháp
lý cần thiết cho sự vận hành của thị trường hàng hóa điện năng, điều tiết sự phát triển của
hàng hóa điện năng nhằm bảo đảm an ninh năng lượng, cung cấp đủ điện năng cho tiêu
dùng và sản xuất.
Và đặc biệt, Việt Nam còn thiếu các chế tài kiểm tra, giám sát bảo vệ môi trường
đối với các nhà máy nhiệt điện than; bởi việc tăng tỷ trọng điện than là đi ngược với xu
thế thời đại, mâu thuẫn với các chiến lược tăng trưởng xanh, ứng phó với biến đổi khí
hậu. Nhiệt điện than tiêu tốn một lượng than khổng lồ, do đó Việt Nam phải nhập khẩu
một lượng than lớn, đòi hỏi đầu tư cơ sở hạ tầng vận chuyển. Cùng với đó là việc nhập
khẩu công nghệ lạc hậu của các nước tiên tiến đã từ bỏ công nghệ này. Tỷ lệ điện than
quá lớn (56%) ảnh hưởng đến an ninh năng lượng; phát thải khí nhà kính lớn, ô nhiễm
môi trường sống; chi phí lớn và gánh nặng cho xã hội đối với việc chăm sóc sức khỏe
2.2.2. Hoạt động quản lý nhà nước về phát triển nhiệt điện
Ngày 18 tháng 03 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
số 428/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn
2011 - 2020 có xét đến năm 2030
Quy hoạch phát triển các nhà máy nhiệt điện với tỷ lệ thích hợp, phù hợp với khả
năng cung cấp và phân bố của các nguồn nhiên liệu
Nhiệt điện sử dụng khí thiên nhiên và khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG): Đến năm
2020, tổng công suất khoảng 9.000 MW, sản xuất khoảng 44 tỷ kWh điện, chiếm 16,6%

cung – cầu điện năng, (4) cấp giấy phép và kiểm tra hoạt động điện lực, (5) tham mưu
cho Bộ Công thương về cơ cấu và chính sách của thị trường điện.
Ngoài EVN và Bộ Công Thương nắm vai trò chủ chốt, một số đơn vị khác cũng có
ảnh hưởng nhất định vào hoạt động QLNN về ngành điện nói chung và nhiệt điện nói
riêng. Cụ thể:
- Bộ Tài Chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng, Bộ tài nguyên môi
trường… và các Bộ ngành khác có ảnh hưởng gián tiếp đến các văn bản pháp lý của
ngành Điện như quy hoạch điện, giá bán điện,…
- Các Tập đoàn/ Tổng công ty Nhà nước như Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN),
Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam (Vinacomin),… có quan hệ mật thiết với nhau trong
việc phối hợp đầu tư, xây dựng, cung cấp nguồn nhiên liệu,… nhằm đảm bảo thực hiện các
Quy hoạch điện lực quốc gia được lập cho mỗi thời kỳ theo chỉ đạo của Chính phủ
2.2.4. Giám sát, kiểm tra, thanh tra quá trình thực hiện quản lý nhiệt điện
Thanh tra là chức năng thiết yếu của QLNN, là hoạt động tự kiểm tra, xem xét của
cơ quan hành chính Nhà nước, được thực hiện bởi chủ thể quản lý có thẩm quyền, nhằm
đánh giá ưu khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, để
hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Hoạt động quản lý
luôn sáng tạo, đổi mới, vì thế công tác thanh tra, kiểm tra với ý nghĩa là khâu thiết yếu
trong hoạt động quản lý, đòi hỏi được đổi mới không ngừng. Do vậy, cần được hiểu toàn
diện trên cả phương diện quản lý, điều hành và phương pháp thanh tra, kiểm tra cụ thể
2.3. Đánh giá hoạt động quản lý nhà nƣớc về phát triển nhiệt điện
2.3.1. Những kết quả đạt được
Hoạt động QLNN về phát triển nhiệt điện ở Việt Nam trong những năm qua đã có
những đổi mới quan trọng. Hệ thống văn bản QLNN về năng lượng ngày càng được hoàn
thiện. Việc phân công, phân nhiệm trong QLNN về nhiệt điện từng bước được hợp lý hóa.
Điều này đã góp phần vào sự phát triển của ngành điện nói chung và nhiệt điện nói riêng.
Ngành Điện đang tập trung xây dựng nhiều nhà máy điện ở khu vực ở miền Nam
như các Trung tâm điện lực Vĩnh Tân, Duyên Hải, Ô Môn, Sông Hậu, Long Phú… với
công suất lên tới hàng chục nghìn MW để hàng năm đảm bảo điện cho khu vực này, giảm

không ít các khó khăn về điều kiện thời tiết khăc nghiệt và cực đoan; hệ thống cơ sở hạ
tầng chưa hoàn thiện, tiến độ giải phóng mặt bằng chậm.
2.3.3. Nguyên nhân cơ bản của những hạn chế
Những hạn chế trong hoạt động QLNN về phát triển nhiệt điện xuất phát từ
nguyên nhân cơ bản sau:
Thứ nhất, cơ quan QLNN về nhiệt điện hiện nay phân tán, chưa thống nhất. Hiện
nay, ở Trung ương có 2 cơ quan trực tiếp tham gia vào công việc QLNN về nhiệt điện đó
là Tổng cục năng lượng và Cục điều tiết điện lực.
Thứ hai, cơ chế phối hợp giữa Bộ công thương, Bộ tài chính, Bộ kế hoạch và đầu
tư và một số bộ ngành khác trong QLNN về nhiệt điện còn chưa thực sự hiệu quả.
Thứ ba, trong cơ cấu tổ chức của Tổng cục năng lượng còn nhiều vấn đề phải hoàn
thiện. Tổng cục Năng lượng là cơ quan trực thuộc Bộ Công Thương, thực hiện chức năng
tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương QLNN và thực thi một trong các nhiệm vụ,
đó là QLNN về nhiệt điện. Như vậy, nếu xét về chức năng thì Tổng cục chỉ là "cơ quan
tham mưu" giúp Bộ trưởng QLNN và thực thi các nhiệm vụ QLNN

16


TIỂU KẾT CHƢƠNG 2
Hiện nay, vị trí lắp đặt của các nhà máy điện đều phụ thuộc rất lớn vào sự phân bổ
của nguồn tài nguyên thiên nhiên, do đó có sự phân hóa rõ rệt về vùng miền.
Việc tự chủ được nguồn nhiên liệu trong nước có ý nghĩa rất lớn trong việc xây
dựng nguồn điện cho phát triển kinh tế xã hội cũng như đảm bảo an ninh năng lượng cho
một Quốc gia. Nước ta có rất nhiều tiềm năng để phát triển nhà máy nhiệt điện, trong đó
trữ lượng đáng kể các loại khoáng sản năng lượng, đặc biệt là than và khí đốt, là nhân tố
hỗ trợ cho nguồn nhiên liệu để sản xuất điện năng. Các nhà máy điện hiện nay vẫn được
xây dựng ở gần nguồn tài nguyên sẽ thuận tiện hơn trong việc cung cấp nhiên liệu cũng
như giảm được chi phí vận chuyển, chi phí kho bãi…
Tuy nhiên, đối với hoạt động QLNN với phát triển nhiệt điện còn gặp nhiều khó

giữa các vùng, miền trên cơ sở sử dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn tài nguyên năng lượng
sơ cấp của mỗi vùng, miền.
- Phát triển lưới truyền tải 220 kV, 500 kV trong hệ thống điện quốc gia nhằm bảo
đảm truyền tải điện từ các trung tâm điện lực tới các trung tâm phụ tải một cách an toàn,
tin cậy và kinh tế; đồng thời chú trọng phát triển các nguồn điện nhỏ sử dụng năng lượng
tái tạo đấu nối với lưới điện phân phối, góp phần giảm tổn thất điện năng.
- Từng bước nâng cao chất lượng điện năng để cung cấp dịch vụ điện với chất
lượng ngày càng cao. Thực hiện giá bán điện theo cơ chế thị trường nhằm khuyến khích
đầu tư phát triển ngành điện; khuyến khích sử dụng điện tiết kiệm và có hiệu quả.
- Phát triển thị trường điện lực cạnh tranh theo đúng lộ trình nhằm đa
dạng hóa phương thức đầu tư và kinh doanh điện. Nhà nước chỉ giữ độc quyền lưới điện
truyền tải để đảm bảo an ninh hệ thống năng lượng quốc gia.
3.1.2. Định hướng phát triển
 Định hướng phát triển
- Phát triển cân đối công suất nguồn trên từng miền: Bắc, Trung và Nam, đảm bảo
độ tin cậy cung cấp điện trên từng hệ thống điện miền nhằm giảm tổn thất truyền tải, chia
sẻ công suất nguồn dự trữ và khai thác hiệu quả các nhà máy thủy điện trong mùa mưa và
mùa khô.
- Phát triển hợp lý các trung tâm điện lực, kết hợp với phát triển các nguồn điện
vừa và nhỏ tại các vùng, miền trong cả nước nhằm đảm bảo độ tin cậy cung cấp điện tại

18


chỗ và giảm tổn thất trên hệ thống điện quốc gia cũng như đảm bảo tính kinh tế của các
dự án, góp phần phát triển kinh tế - xã hội cho từng vùng và cả nước.
- Phát triển nguồn điện mới đi đối với đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ các
nhà máy điện đang vận hành; đáp ứng tiêu chuẩn môi trường; sử dụng công nghệ hiện đại
đối với các nhà máy điện mới.
- Đa dạng hóa các hình thức đầu tư phát triển nguồn điện nhằm tăng cường cạnh

thời gian tới, để khắc phục tình trạng chồng chéo, thiếu sự đồng bộ, thiếu kịp thời, không
phù hợp của hệ thống luật pháp, chính sách về phát triển nhiệt điện hiện nay, cần sửa đổi,
bổ sung và hoàn thiện hệ thống này.
19


3.2.2. Nâng cao năng lực bộ máy quản lý nhà nước về quản lý nhiệt điện
Đây là một trong những giải pháp cơ bản, then chốt, có ý nghĩa quyếtđịnh đến việc
nâng cao năng lực bộ máy QLNN về nhiệt điện ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Bởi
vì, hệ thống này chính là lực lượng xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ
QLNN về nhiệt điện. Giải pháp này phải được tiến hành đồng thời, song song với giải
pháp hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách về phát triển nhiệt điện thì mới đảm bảo
cho việc nâng cao hiệu lực QLNN về phát triển nhiệt điện.
Kiện toàn tổ chức bộ máy QLNN về nhiệt điện: Khẩn trương hoàn chỉnh cơ cấu bộ
máy QLNN về ngành điện nói chung và nhiệt điện nói riêng theo Quyết định Số:
14318/QĐ-BCT về “Phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành điện lực Việt Nam phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bên vững giai đoạn đến năm 2020,
tầm nhìn đến năm 2030”.
3.2.3. Tăng cường phối hợp các cơ quan, tổ chức trong quản lý nhà nước về
phát triển nhiệt điện
Để hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong QLNN về phát
triển nhiệt điện cần tiến hành các công việc sau:
Nội dung phối hợp là trao đổi thông tin, tài liệu giữa các cơ quan. Việc phối hợp
này phải được tiến hành thường xuyên, định kỳ hàng tháng, quý, năm.Trong tình huống
đột xuất phải chủ động báo cho nhau để phối hợp xử lý. Không chỉ phối hợp trong thực
hiện các biện pháp tác nghiệp (điều tra, khảo sát...), mà còn phối hợp trong công tác
thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm pháp luật trong quá trình phát triển nhiệt điện.
Ngoài ra, các cơ quan QLNN về nhiệt điện tại các cấp phải có sự liện hệ chặt chẽ
với các quan về lĩnh vực bảo vệ môi trường.Bởi đây là một trong những thực trạng cấp
bách của các nhà máy nhiệt điện trong thời gian gần đây, đặc biệt là các nhà máy nhiệt

cần phải xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh về chuyên môn, có cơ cấu hợp lý, có năng
lực phẩm chất đáp ứng được yêu cầu đặt ra..
3.2.7. Tuyên truyền, giáo dục
Hiệu lực QLNN về phát triển nhiệt điện không chỉ phụ thuộc vào các quy phạm
pháp luật về nhiệt điện, vào hệ thống tổ chức bộ máy QLNN về nhiệt điện các cấp, mà
còn phụ thuộc rất nhiều vào ý thức, trách nhiệm của các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý,
các chủ doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư. Vì vậy, cần phải tuyên truyền, giáo dục
nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm phát triển nhiệt điện của toàn xã hội
3.3. Kiến nghị
3.3.1. Cần thay đổi tư duy nhận thức
Các nhà máy nhiệt điện đưa vào vận hành giai đoạn trước năm 2015 phần lớn sử
dụng công nghệ cận tới hạn hoặc thấp hoen, có hiệu suất không cao, tiêu thụ nhiều nhiên
liệu. Chính vì vậy, cần có sự thay đổi mạnh mẽ về tư duy và nhận thức trong việc phát
triển, định hướng công nghệ của các nhà máy nhiệt điện trong tương lai. Việc sử dụng
các công nghệ hiện đại, tiêu hao ít nhiên liệu, áp dụng các yêu cầu về môi trường nghiêm
ngặt có thể dẫn tới tăng chi phí đầu tư ban đầu hoặc tăng giá thành sản xuất. Nhưng định
hướng phát triển này sẽ là yêu cầu bắt buộc trong tương lai không xa
Việt Nam có vị trí địa lý nằm ở trung tâm của Đông Nam châu Á, với thềm lục địa
và vùng đặc quyền kinh tế tại Biển Đông hơn 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền và
là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng, gió, mưa rất nhiều có điều kiện tự nhiên đặc
biệt tốt để phát triển về năng lượng tái tạo.Theo các nhà đầu tư, trở ngại lớn nhất hiện nay
là chính sách phát triển, thu xếp nguồn vốn, đặc biệt là giá bán điện. Việc chưa có văn
bản quy phạm pháp luật ở mức cao (như luật, nghị định) để khuyến khích nhà đầu tư phát
triển năng lượng tái tạo; chưa có chiến lược/quy hoạch cụ thể phát triển nguồn năng
lượng này ở cấp quốc gia được xem là thách thức dẫn đến việc chậm triển khai các dự án đã
cấp phép và thu hút đầu tư mới.
Các nhà đầu tư cũng cho rằng suất đầu tư nguồn năng lượng tái tạo cao so với
nguồn truyền thống nhưng sự hỗ trợ của Nhà nước để triển khai lại thấp hơn so với các
nước trên thế giới dẫn đến việc đầu tư không mang lại hiệu quả.Giá điện gió thấp, giá
21

Trong hơn hai thập niên qua, Việt Nam đã chứng kiến những gia tăng nhanh
chóng về nhu cầu điện trong khi vấn đề nguồn cung luôn gặp căng thẳng để bắt kịp với
cầu. Sản lượng điện thương phẩm năm 2014 tăng gấp 5,73 lần so với nhu cầu ở năm
2000, đạt 128,43 tỷ kWh.
Đề án Điều chỉnh quy hoạch phát triển Điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có
xét đến 2030 (QHĐ7ĐC) do Viện Năng lượng - Bộ Công Thương lập đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 428/QĐ-TTg ngày 18 tháng 3 năm 2016 được
coi là văn bản có tính định hướng cho sự phát triển của toàn bộ chuỗi giá trị ngành điện
Việt Nam trong tương lai, bởi vì nó là sự kết hợp toàn diện giữa nhiều yếu tố.
Ngoài ra, chương 3 của luận văn còn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả QLNN về phát triển nhiệt điện tại Việt Nam. Cụ thể là: Hoàn thiện pháp luật về
QLNN về phát triển nhiệt điện, Nâng cao năng lực bộ máy QLNN về quản lý nhiệt điện,
Tăng cường phối hợp các cơ quan, tổ chức trong QLNN về phát triển nhiệt điện, Đẩy
mạnh công tác kiểm tra về phát triển nhiệt điện, Tăng cường hợp tác quốc tế, Đầu tư
nguồn lực, Tuyên truyền, giáo dục.
Và tác giả cũng đã đưa 03 kiến nghị nhằm thay đổi tu duy của các nhà lãnh đạo,
nhà đầu tư, và cả người dân khi thực hiện xây dựng, vận hành các nhà máy nhiệt điện.
Bởi đây là một trong những nguyên nhân gây ra sự mất cân bằng sinh thái (sử dụng
nguồn tài nguyên khoáng sản), gây ô nhiễm môi trường do xỉ, tro than…Vì vây, QLNN
về phát triển nhiệt điện cần phải quản lý rủi ro, thích ứng với biến đổi khí hậu và cần đưa
ra các chính sách phù hợp cho từng vùng miền.

23


KẾT LUẬN
Ngành điện nói chung và Nhiệt điện nói riêng có vai trò quan trọng trong đời sống
kinh tế, xã hội ở mỗi quốc gia. Vì vậy, QLNN đối với phát triển nhiệt điện tại Việt Nam
là một vấn đề cấp bách cần được quan tâm.
Thực hiện đề tài này, tác giả luận văn đã đạt được những điều sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status