Quản lý nhà nước về phát triển bền vững ở tỉnh
Hà Tĩnh
Đinh Hữu Công
Trường Đại học KHXH&NV
Luận văn ThS. Chuyên ngành: Chính trị học; Mã số: 60 31 02 01
Người hướng dẫn: TS. Lưu Minh Văn
Năm bảo vệ: 2014
Keywords: Chính trị học; Quản lý nhà nước; Phát triển bền vững; Hà Tĩnh
Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đã có một thời gian dài tư duy về phát triển trên phạm vi toàn cầu bị chi phối bởi khuynh
hướng duy kinh tế, theo đó sẵn sàng hy sinh các mặt khác của sự phát triển (xã hội, môi
trường…) cho sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, thực tiễn của hầu hết các nước trên thế giới từ
thập kỷ 70 của thế kỷ XX đến nay cho thấy, bên cạnh những bước tiến bộ vượt bậc về kinh tế thì
những hệ quả xấu, ngoài dự tính của chính quá trình phát triển duy kinh tế ấy đã ngày càng lộ rõ
và trở thành yếu tố đe dọa chính sự tồn tại và phát triển của mỗi xã hội và cả nhân loại.
Ở Việt Nam, ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV năm 1976, Đảng ta đã đặt mục
tiêu: tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Suốt từ đó đến nay, quan điểm
phát triển nhanh và bền vững của Đảng và Nhà nước ta được bổ sung với các nội dung ngày càng
hoàn thiện và đã trở thành chủ trương nhất quán trong lãnh đạo, quản lý, điều hành đối với tiến
trình phát triển đất nước. Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định “phát triển
nhanh, hiệu quả, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ công bằng xã hội và bảo vệ môi
trường” [17, tr.162], Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và XI tiếp tục nhấn mạnh và nâng cao
hơn nữa mục tiêu đó ở mức độ chi tiết và hoàn thiện hơn.
Hà Tĩnh, từ sau khi tái lập tỉnh (1991) đã chú trọng phát triển công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp bên cạnh việc tiếp tục truyền thống về sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp. Đến nay đang có
nhiều dự án lớn trọng điểm của quốc gia đầu tư trên địa bàn tỉnh, như: dự án Formusa, Khu kinh
tế Vũng Áng; Khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo; Sắt Thạch Khê (ước tính trữ lượng 544
công dân, mỗi lĩnh vực đều có phương thức hoạt động, quy luật phát triển riêng, đồng thời có
quan hệ biện chứng với nhau, đều vận hành trong một môi trường chính trị, văn hóa, kinh tế,
pháp luật… nhất định, đòi hỏi phải có cách tiếp cận cụ thể. Khoa học chính trị có vai trò quan
trọng không thể thay thế trong việc nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề trên, giúp cung cấp cơ
sở khoa học cho việc hoạch định chiến lược phát triển chung của đất nước.
- Trung tâm Tài nguyên và Môi trường, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã dịch và giới
thiệu ấn phẩm “Cứu lấy trái đất chiến lược cho cuộc sống bền vững”, Nxb. Khoa học và Kỷ
thuật, Hà Nội 1993; năm 1995 Trung tâm này tiếp tục có công trình nghiên cứu “Tiến tới môi
trường bền vững”.
- Viện Môi trường và phát triển bền vững, Hội liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật Việt
Nam thực hiện Công trình “Nghiên cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở
Việt Nam – giai đoạn I”, công trình đã được hoàn thiện năm 2003. Trên cơ sở tham khảo bộ tiêu
chí PTBV của Brundlantd và kinh nghiệm các nước, đã đưa ra các tiêu chí cụ thể về PTBV đối
với một quốc gia là bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững môi trường. Đồng thời, nhóm
tác giả cũng đề xuất một số phương án lựa chọn bộ tiêu chí PTBV cho Việt Nam.
- Lưu Đức Hải (2000): “Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững”, Nxb. Đại học
Quốc gia Hà Nội.
- PGS.TS Hà Huy Thành (chủ biên), Viện Nghiên cứu Môi trường và phát triển bền vững
là cơ quan chủ trì thực hiện đề tài cấp Bộ “Phát triển bền vững từ quan niệm đến hành động”.
Đề tài đã nghiên cứu những nội dung cơ bản, quá trình hình thành và phát triển của khái niệm,
khuôn khổ, chương trình hành động, chỉ tiêu PTBV của Liên Hợp Quốc và các quốc gia, khu vực
trên thế giới, trên cơ sở đó rút ra những bài học về PTBV phù hợp với điều kiện Việt Nam.
- GS.TSKH Ngô Quang Thái và PGS.TS Ngô Thắng Lợi (2007), biên soạn cuốn “Phát
triển bền vững của Việt Nam: thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng”, đã nghiên cứu, phân
tích thực trạng phát triển của kinh tế, xã hội và môi trường Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, phân
tích những yếu tố hay những điều kiện để có thể giúp Việt Nam đạt được những tiến bộ khả quan
thực hiện PTBV.
- Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế (2010): “Chính trị và Phát triển bền vững trong bối
cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, do Học viện Báo
chí và Tuyên truyền cùng với Văn phòng Viện Friedrich Ebert (Đức) đồng tổ chức. Cuốn Kỷ yếu
triển bền vững còn chưa nhiều so với các lĩnh vực Khoa học phát triển khác” .
Dưới góc độ khoa học Chính trị, việc nghiên cứu thực tiễn quản lý nhà nước đối với
PTBV ở tỉnh Hà Tĩnh đến thời điểm này chưa có công trình, đề tài nào. Vì vậy, dựa trên cơ sở kết
quả các công trình khoa học, các tác phẩm, các bài viết trước đây, tác giả có sự tổng hợp, kế thừa
để nghiên cứu về một số vấn đề PTBV ở Việt Nam, thực tiễn quản lý nhà nước về PTBV ở tỉnh Hà
Tĩnh. Từ đó, đưa ra những nhận định, đánh giá và đề xuất một số giải pháp về lĩnh vực này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Thông qua việc nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về PTBV và quản lý nhà nước về
PTBV, luận văn phân tích, đánh giá tình hình, thực trạng QLNN về PTBV của địa phương Hà
Tĩnh, góp phần luận giải mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế với sự cần thiết của
việc giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường; đề xuất một số giải pháp,
khuyến nghị về quản lý nhà nước đối với PTBV ở tỉnh Hà Tĩnh nói riêng và các địa phương, khu
vực có đặc điểm tương đồng với Hà Tĩnh.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khái quát một số vấn đề lý luận, nhận thức PTBV, quản lý nhà nước về PTBV trong
quá trình đẩy mạnh CNH-HĐH.
- Liên hệ thực tế vấn đề triển khai thực hiện chủ trương, chính sách PTBV và thực trạng
QLNN về PTBV ở tỉnh Hà Tĩnh.
- Đề xuất một số nhóm giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối
với PTBV ở tỉnh Hà Tĩnh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn hướng vào nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước về PTBV ở tỉnh Hà Tĩnh hiện nay cả
trên 3 lĩnh vực: bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường.
* Phạm vi nghiên cứu:
+ Về thời gian: Các số liệu cơ bản để làm cơ sở nghiên cứu, phân tích được giới hạn
trong khoảng thời gian từ 2005 đến nay.
+ Về không gian: Vấn đề QLNN về PTBV ở tỉnh Hà Tĩnh.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4. Chính phủ (2004), Quyết định 153/2004/QĐ-TTg ban hành Định hướng chiến lược
PTBV ở Việt Nam - Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam.
5. Chính phủ (2005), Quyết định số 1032/QĐ-TTg về việc thành lập Hội đồng PTBV quốc
gia.
6. Chính phủ (2001), Chương trình tổng thể Cải cách Hành chính Nhà nước giai đoạn
2001-2010.
7. Chính phủ (2001), Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước (2001-2010).
8. Chính phủ (2006), Quyết định số 72/2006/QĐ-TTg về việc thành lập và ban hành Quy
chế hoạt động Khu kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh.
9. Chính phủ (2007), Quyết định số 162/2007/QĐ-TTg ban hành Quy chế hoạt động của
Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo, tỉnh Hà Tĩnh.
10. Chính phủ (2007), Quyết định số 1693/QĐ-TTg năm 2007 về việc thành lập Ban
Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo, tỉnh Hà Tĩnh.
11. Chính phủ (2009), Quyết định số 33/2009/QĐ-TTg ban hành cơ chế, chính sách tài
chính đối với khu kinh tế cửa khẩu Cầu Treo, Hà tĩnh.
12. Chính phủ (2012), Quyết định số 1786/QĐ- TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế, xã hội tỉnh Hà Tĩnh đến 2020 và tầm nhìn đến năm 2050.
13. Chính phủ (2010), Quyết định số 373/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề
án đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển và hải đảo
Việt Nam.
14. Chính phủ (2012), Quyết định số 432/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020.
15. Chính phủ (2013), Quyết định số 160/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Kế hoạch hành động quốc gia về Phát triển bền vững giai đoạn 2013-2015.
16. Trần Văn Chử (2004), Tài nguyên thiên nhiên môi trường với tăng trưởng và phát
triển bền vững ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
17. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập
(Đại hội VI, VII, VIII, IX, X), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
18. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI,
văn Thạc sỹ Chính trị học, Trường Đại học KHXH & NV.
33. Ths. Nguyễn Thị Thu Hường, Vai trò của cải cách thể chế đối với phát triển bền
vững ở Việt Nam.
34. Nguyễn Đức Khiên (2010), Thực thi luật và chính sách bảo vệ môi trường của Việt
Nam giai đoạn 2001 - 2010, Nxb Thông tin và truyền thông, Hà Nội.
35. Võ Hải Long (2010), Vai trò của pháp luật đối với phát triển bền vững ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội.
36. Võ Hải Long (2012), Phát huy vai trò của pháp luật đối với phát triển bền vững ở
Việt Nam hiện nay.
37. Ngô Thắng Lợi (2008), Kinh tế phát triển, Nxb Lao động, Hà Nội.
38. Một số vấn đề về tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, Sách chuyên khảo. Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009.
39. Ngân hàng thế giới - Nhóm IEG (2008), Xây dựng hệ thống giám sát và Đánh giá
như thế nào để hoàn thiện công tác quản lý của nhà nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
40. Quyền lực trong quan hệ quốc tế-Lịch sử và vấn đề, Sách chuyên khảo. Nxb Văn hóa-
Thông tin, 2011.
41. Phạm Thị Ngọc Trầm (2006), Quản lý nhà nước đối với tài nguyên và môi trường vì
sự phát triển bền vững dưới góc nhìn xã hội, nhân văn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
42. Hà Huy Thành (2009), Phát triển bền vững – từ quan niệm đến hành động, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội.
43. PGS.TS Trần Đình Thiên (2009), Đột phá phát triển- gợi ý từ kinh nghiệm, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội.
44. GS.VS. Đào Thế Tuấn (2008), Các vấn đề khoa học phát triển, Nxb.
45. Đinh Thị Minh Tuyết (2004), “ Vai trò của nhà nước trong mục tiêu giảm đói nghèo
ở Việt Nam”, tạp chí Quản lý nhà nước, số 12, tr.18 - 22.
46. Tỉnh ủy Hà Tĩnh (2011), Kỷ yếu Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lần thứ XVII
(nhiệm kỳ 2010-2015).
47. Tỉnh ủy Hà Tĩnh (2013), Báo cáo tình hình thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng lần
thứ XI về kinh tế - xã hội tại tỉnh Hà Tĩnh.
48. Tỉnh uỷ Hà Tĩnh, Báo cáo kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, năm: 2009,
quốc gia-sự thật, Hà Nội, 2012.
63. TS. Lưu Minh Văn (2009), Các lý thuyết phát triển xã hội hiện đại, Khoa Chính trị
học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn.
64. Phạm Thái Việt (2008), Vấn đề điều chỉnh chức năng và thể chế của nhà nước dưới
tác động của toàn cầu hóa, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
65. Nguyễn Văn Yểu - Lê Hữu Nghĩa (2006), Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị Quốc gia.
66. Roy, K. C, & Tisdell, C. A. (1998), Good governance in sustainable development: the
impact of institutions. [Viewpoint]. International Journal of Social Economics, 25(6/7/8), 1310 –
1325.