BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
--------------------------------
TRẦN THỊ THU THẢO
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM MỐI QUAN HỆ GIỮA
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ
KIỂM TOÁN VIÊN ĐẾN HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN
TẠI CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN
MÃ SỐ: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN ĐÌNH HÙNG
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế: “Nghiên cứu thực nghiệm mối quan
hệ giữa một số đặc điểm của công ty kiểm toán và kiểm toán viên đến hành vi
điều chỉnh lợi nhuận tại công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt
Nam” là công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc của bản thân. Nội dung, kết
quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và dựa theo số liệu thu
thập được. Các tài liệu, đoạn trích dẫn được sử dụng trong luận văn đều được dẫn
nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tác giả.
2.1.4. Một số quy định pháp lý tại Việt Nam liên quan đến các vấn đề trong đề
tài:.................... ...................................................................................................20
2.2 . Tổng quan về hành vi điều chỉnh lợi nhuận ...................................................23
2.2.1. Định nghĩa về hành vi điều chỉnh lợi nhuận ............................................23
2.2.2. Động cơ của hành vi điều chỉnh lợi nhuận: ..............................................25
2.3. Cách thức tiến hành điều chỉnh lợi nhuận ......................................................31
2.4. Một số mô hình định lượng hành vi điều chỉnh lợi nhuận .............................35
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ................................................................41
3.1 . Giả thuyết nghiên cứu .....................................................................................41
3.2. Mô hình nghiên cứu ........................................................................................42
3.3 . Dữ liệu nghiên cứu .........................................................................................43
3.4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................44
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................48
4.1 . Phân tích sơ bộ kết quả nghiên cứu thông qua bảng thống kê mô tả các biến
……………………………………………………………………………….48
4.2. Kiểm định Hausman test để lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp ...................50
4.4 . Kiểm định nghiệm đơn vị ...............................................................................52
4.5. Kết quả hồi quy tuyến tính đơn biến...............................................................53
4.5.1. Kiểm định mối quan hệ giữa biến quy mô công ty kiểm toán (SIZE) và
các khoản dồn tích tự định (DA) ........................................................................53
4.5.2. Kiểm định mối quan hệ giữa biến giới tính kiểm toán viên (GENDER) và
các khoản dồn tích tự định (DA) ........................................................................54
4.5.3. Kiểm định mối quan hệ giữa biến nhiệm kỳ kiểm toán viên (APT) và các
khoản dồn tích tự định (DA) ..............................................................................55
4.5.4. Kiểm định mối quan hệ giữa biến nhiệm kỳ công ty kiểm toán (AFT) và
các khoản dồn tích tự định (DA) ........................................................................56
4.5.5. Kiểm định mối quan hệ giữa biến số năm kinh nghiệm của kiểm toán viên
(AGE) và các khoản dồn tích tự định (DA) .......................................................56
Bảng 4.2: Kiểm định Hausman Test .........................................................................50
Bảng 4.3: Kiểm định Durbin-Watson test .................................................................51
Bảng 4.4: Kiểm định nghiệm đơn vị (Panel unit root test) .......................................52
Bảng 4.5: Kết quả hồi quy tuyến tính đơn biến giữa SIZE và DA ...........................53
Bảng 4.6: Kết quả hồi quy tuyến tính đơn biến giữa GENDER và DA ...................54
Bảng 4.7: Kết quả hồi quy tuyến tính đơn biến giữa APT và DA ............................55
Bảng 4.8: Kết quả hồi quy tuyến tính đơn biến giữa AFT và DA ............................56
Bảng 4.9: Kết quả hồi quy tuyến tính đơn biến giữa AGE và DA ...........................57
Bảng 4.10: Kết quả hồi quy đa biến ..........................................................................58
Bảng 4.11: Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu ........................................59
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Lý thuyết thông tin bất cân xứng chỉ ra rằng nhà quản lý thường có xu hướng
cung cấp thông tin có lợi cho họ và các đối tượng khác không có điều kiện tiếp cận
thông tin gốc nên khả năng sẽ đưa ra quyết định sai. Đó là vấn đề luôn tồn tại trên
thị trường chứng khoán.
Ngành kiểm toán ra đời nhằm giảm thông tin bất cân xứng đặc biệt là thông
tin công bố về lợi nhuận, một trong những chỉ tiêu quan trọng thu hút sự quan tâm
của các nhà đầu tư. Nhằm đảm bảo thông tin về lợi nhuận trong kỳ đáng tin cậy và
có thể sử dụng được, vai trò của kiểm toán viên ở đây là phải phát hiện và điều
chỉnh tối thiểu hóa các khoản điều chỉnh mà nhà quản lý có xu hướng thực hiện để
đạt được mức lợi nhuận mong muốn trong quá trình kiểm toán của mình.
Vậy liệu rằng khi đọc báo cáo kiểm toán với những thông tin như tên công ty
4.
Phạm vi nghiên cứu
Báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 90 công ty niêm yết thị trường
chứng khoán Việt Nam tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở giao
dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE).
5.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu : Sử dụng phương pháp phân tích định lượng như
thống kê mô tả, hồi quy tuyến tính nhằm định lượng và xem xét mối quan hệ giữa
công ty kiểm toán (quy mô công ty kiểm toán, nhiệm kỳ công ty kiểm toán), kiểm
toán viên (giới tính, nhiệm kỳ kiểm toán viên, số năm kinh nghiệm) và hành vi điều
chỉnh lợi nhuận.
Khoảng thời gian nghiên cứu: Giai đoạn 2009 - 2013
6.
Những đóng góp của đề tài
Về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa và trình bày các kết quả nghiên cứu trước đây về vấn đề này
tại Việt Nam cũng như trên thế giới.
- Xác định hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý và tổng hợp một số
biện pháp mà họ có thể sử dụng để điều chỉnh lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp.
3
thấy các công ty được kiểm toán bởi các công ty không phải là Big 6 có giá trị các
khoản dồn tích tự định từ 1,5% đến 2,1% tổng tài sản và cao hơn so các công ty
được kiểm toán bởi Big 6.
Francis và các cộng sự (1999) phán đoán rằng các công ty có các khoản dồn
tích lớn thường tích cực hơn và có cơ hội trong việc thực hiện hành vi điều chỉnh lợi
nhuận và có động cơ thuê các công ty kiểm toán Big 6 nhằm đảm bảo rằng báo cáo
tài chính là đáng tin cậy. Nghiên cứu tiến hành trên mẫu gồm 74.390 quan sát là báo
cáo tài chính trong giai đoạn 1974-1994 của công ty niêm yết trên sàn NASDAQ.
Kết quả cho thấy các công ty có các khoản dồn tích cao có nhiều khả năng sẽ thuê
các công ty kiểm toán Big 6. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho thấy những công ty
được kiểm toán bởi Big 6 mặc dù có mức dồn tích cao nhưng giá trị của các khoản
dồn tích tự định ước tính thì thấp hơn. Phát hiện này nhất quán với các công ty kiểm
toán Big 6 hạn chế áp dụng các khoản dồn tích.
Nghiên cứu thực nghiệm của Elder và Zhou (2002) nhằm kiểm định mối
quan hệ giữ chất lượng kiểm toán (đo lường bằng quy mô công ty kiểm toán và mức
độ chuyên môn hóa nội ngành) và hành vi điều chỉnh lợi nhuận (đo lường bởi các
khoản dồn tích tự định) của các công ty lần đầu phát hành cổ phiếu ra công chúng.
Nghiên cứu tiến hành trên mẫu gồm 1.083 quan sát là các công ty lần đầu phát hành
5
cổ phiếu ra công chúng trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm 1998 được lấy ra từ
cơ sở dữ liệu Compact Disclosure. Cross-sectional Jones model (1994) được sử
dụng để ước tính giá trị các khoản dồn tích tự định. Kết quả nghiên cứu cho thấy
các công ty lần đầu phát hành cổ phiếu ra công chúng được kiểm toán với Big 5 có
mức điều chỉnh thấp hơn so với các công ty được kiểm toán bởi các công ty kiểm
toán không phải là Big 5. Nhóm tác giả trên cũng tiến hành nghiên cứu tương tự đối
với một mẫu gồm 2.453 quan sát là các công ty phát hành thêm cổ phiếu ra công
chúng trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 1999. Một kết luận tương tư như
Lâm Huỳnh Phương (2013) trong luận văn thạc sĩ nghiên cứu về mối quan
hệ giữa chất lượng kiểm toán và nhiệm kỳ kiểm toán viên. Mẫu nghiên cứu được
lựa chọn là báo cáo tài chính đã được kiểm toán từ năm 2000 đến năm 2012 của 39
công ty được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán HNX và HOSE. Kết quả
thực nghiệm của tác giả cho thấy khi xem xét mối quan hệ với các khoản dồn tích
tự định, biến nghiên cứu quy mô công ty kiểm toán không có ý nghĩa thống kê.
Nhìn chung các nghiên cứu đều cho thấy quy mô công ty kiểm toán có ảnh
hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý. Các công ty được kiểm
toán bởi các công ty kiểm toán có quy mô lớn (Big) được kỳ vọng là có giá trị tuyệt
đối của các khoản dồn tích tự định thấp hơn so với các công ty được kiểm toán bởi
các công ty kiểm toán còn lại (không phải là Big).
1.2
Giới tính kiểm toán viên và hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Một số nghiên cứu đã nghiên cứu sự khác biệt giới tính ảnh hưởng lên các
khía cạnh của hành vi cá nhân. Các nghiên cứu đều có chung nhận định rằng ít nhất
về đa số, phụ nữ không thích rủi ro và ít cả tin hơn nam giới (Byrnes & Miller,
1999). Kết quả tương tự khi các mẫu được lựa chọn trong lĩnh vực kế toán và tài
chính (Jianakoplos & Bernasek, 1998; Olsen & Cox, 2001; Graham và các cộng sự.,
2002; Dwyer và các cộng sự, 2002; Watson & McNaughton, 2007). Phụ nữ cũng ít
cả tin trong các vấn đề tài chính hơn nam giới (Johnson & Powell, 1994); Barber &
Odean, 2001; Bliss & Potter, 2002).
7
Một số nghiên cứu cho rằng không có sự khác biệt về giới tính trong vấn đề
đạo đức (Ford & Richardson, 1994), trong khi một số nghiên cứu khác cho rằng phụ
nữ cư xử có đạo đức hơn nam giới. Phụ nữ được quan sát thấy có đạo đức hơn trong
đoán nghề nghiệp (ít hữu hiệu hơn). Gần đây, Ittonen và Peni (2012) đã kiểm định
mối quan hệ giữa kiểm toán viên nữ và phí kiểm toán bằng nghiên cứu thực nghiệm
với mẫu gồm 715 hợp đồng kiểm toán được ký kết với một số công ty thuộc nước
Bắc Âu (Đan Mạch, Phần Lan, Thụy Điển) niêm yết trên sàn giao dịch NASDAQ
OMX trong hai năm tài chính 2005 và 2006. Nghiên cứu chỉ ra rằng chủ phần hùn
phụ trách hợp đồng là nữ đưa ra mức giá phí kiểm toán cao hơn, cho thấy kiểm toán
viên nữ thận trọng, ít cả tin, và mức độ chuẩn bị cho cuộc kiểm toán cao hơn đưa
đến mức giá phí cao hơn.
Niskanen và các cộng sự (2009) nghiên cứu liệu rằng giới tính kiểm toán
viên có tác động lên độ lớn của hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong các doanh nghiệp
tư nhân vừa và nhỏ ở Phần Lan. Nghiên cứu thực hiện trên 5.000 công ty với báo
cáo tài chính cho giai đoạn 1999 – 2006, sử dụng mô hình Jones Model (1991) để
ước tính các khoản dồn tích tự định nhằm đo lường hành vi điều chỉnh lợi nhuận.
Kết quả nghiên cứu kết luận nữ kiểm toán viên cho phép mức tự định trong báo cáo
thu nhập cao hơn các nam kiểm toán viên.
Ittonen và các cộng sự (2013) khảo sát mối liên hệ giữa chất lượng các khoản
dồn tích và giới tính của chủ phần hùn phụ trách hợp đồng kiểm toán. Căn cứ vào
những khác biệt do giới tính về tính thận trọng, tính bảo thủ, việc chấp nhận rủi ro,
tác giả đưa ra định đề là các nữ kiểm toán viên có thể nâng cao chất lượng của các
khoản dồn tích. Nghiên cứu được tiến hành trên một mẫu gồm 770 quan sát là công
ty Phần Lan và Thụy Điển niêm yết trên sàn giao dịch Nasdaq OMX với báo cáo tài
chính từ năm 2005 đến 2007. Kết quả phân tích hồi quy bảng dữ liệu chéo cho thấy,
các công ty được kiểm toán bởi các chủ phần hùn nữ thì có các khoản dồn tích tự
định nhỏ hơn, điều này hàm ý là kiểm toán viên nữ có thể có những tác động nhằm
hạn chế hành vi điều chỉnh lợi nhuận.
Trên đây là một số nghiên cứu về tác động của giới tính đến hành vi điều
chỉnh lợi nhuận. Tổng hợp các nghiên cứu trên đưa đến nhận định là kiểm toán viên
9
bình làm mốc so sánh, các kết quả cho thấy khi nhiệm kỳ kiểm toán ngắn, DA cao
hơn; trong khi đối với loại dài thì DA và nhiệm kỳ kiểm toán không có ý nghĩa về
10
mặt thống kê. Qua đó, các tác giả kết luận rằng không có bằng chứng cho thấy
nhiệm kỳ kiểm toán dài làm giảm chất lượng thông tin lợi nhuận, bên cạnh đó cần
tăng số năm bắt buộc luân chuyển lên vì DA có xu hướng giảm xuống khi nhiệm kỳ
kiểm toán tăng lên (ít nhất là 8 năm).
Myers và cộng sự (2003) nghiên cứu mối quan hệ giữa nhiệm kỳ kiểm toán
viên và chất lượng thông tin lợi nhuận. Chất lượng thông tin lợi nhuận được đo
lường thông qua hai thước đo DA (các khoản dồn tích tự định) được ước tính theo
mô hình Jone model (1991) và TA (tổng các khoản dồn tích). Kết quả thực nghiệm
cho thấy với cả hai thước đo này thì khi nhiệm kỳ kiểm toán tăng lên, cả TA và DA
đều giảm xuống. Và khi nhiệm kỳ càng dài thì các khoản dồn tích này không dương
quá cao và cũng không âm quá cao. Qua đó, các tác giả nêu lên rằng khi kiểm toán
viên cung cấp dịch vụ cho cùng một công ty trong một khoản thời gian dài thì khả
năng điều chỉnh thông tin lợi nhuận của nhà quản lý bị hạn chế, làm gia tăng chất
lượng báo cáo tài chính.
Chi và Huang (2003) cũng thấy rằng ban đầu DA và nhiệm kỳ kiểm toán có
tương quan âm (tức là nhiệm kỳ kiểm toán tăng thì DA giảm). Nhưng khi khoảng
thời gian vượt quá 5 năm, tương quan giữa DA và nhiệm kỳ kiểm toán đổi chiều.
Họ cũng giải thích kết quả này bằng hiệu ứng hiểu biết trong những năm đầu và
hiệu ứng quá quen thuộc trong những năm sau đó khiến chất lượng giảm. Và họ
cũng lưu ý rằng công ty kiểm toán có vai trò quan trọng trong việc luân chuyển
kiểm toán viên bằng các chính sách giúp nhóm kiểm toán viên mới có thêm sự hiểu
biết và kinh nghiệm được truyền lại từ các kiểm toán viên tiền nhiệm. Từ đó, họ cho
rằng quy định bắt buộc luân chuyển là cần thiết nhưng chỉ nên dừng lại ở cấp độ
kiểm toán viên, không áp dụng trên quy mô công ty.
(R&D) và nguồn kinh phí dùng để đầu tư, mua sắm, nâng cấp tài sản cố định
(Dechow và Sloan, 1991; Barker và Mueller, 2002). Demers và Wong (2010) cho
rằng nhà quản lý lâu năm thường có động cơ hơn so với các nhà quản lý mới vào
nghề trong việc thổi phồng lợi nhuận.
Trong lĩnh vực kiểm toán, Sundgren và Svanström (2010) nghiên cứu tác
động của một số đặc điểm của kiểm toán viên (số hợp đồng phụ trách, tuổi và kinh
nghiệm , mức độ phụ thuộc vào giá phí) và chất lượng kiểm toán (đo lường bằng
khuynh hướng phát hành ý kiến về giả định hoạt động liên tục). Nghiên cứu trên
12
một mẫu gồm 1202 công ty trách nhiệm hữu hạn đã nộp đơn phá sản trong giai
đoạn từ tháng 10 năm 2008 đến tháng 9 năm 2009 tại Thụy Điển được lấy từ cơ sở
dữ liệu Affärsdata. Tác giả tiếp cận báo cáo kiểm toán cho năm tài chính gần với
thời điểm nộp hồ sơ xin phá sản và xem xét đoạn lưu ý về vấn đề hoạt động liên tục
trên báo cáo kiểm toán. Trong số 1202 báo cáo kiểm toán thì chỉ có 211 báo cáo
phát hành ý kiến về giả định hoạt động liên tục. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng
các kiểm toán viên lớn tuổi ít phát hành ý kiến về giả định hoạt động liên tục hơn so
với các kiểm toán viên trẻ, hay nói cách khác, tuổi của kiểm toán viên tương quan
nghịch biến với chất lượng kiểm toán.
Người viết chưa tìm thấy nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa tuổi nghề
của kiểm toán viên và hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Nghiên cứu này đang được
thực hiện trên mẫu là các công ty niêm yết, đối tượng mà báo cáo tài chính được
quan tâm và sử dụng rộng rãi và đi kèm với nhiều rủi ro dành cho người hành nghề
kiểm toán. Do đó, kinh nghiệm là một yếu tố quan trọng giúp kiểm toán viên giảm
thiểu rủi ro thì thực hiện kiểm toán đối với các công ty niêm yết. Do đó, người viết
kỳ vọng số năm kinh nghiệm của kiểm toán viên có tương quan nghịch biến với các
khoản dồn tích tự định (DA).
tờ khai nộp thuế, quyết toán ngân sách của các cơ quan nhà nước… Kết quả kiểm
toán sẽ giúp cho người sử dụng đánh giá độ tin cậy của các thông tin này.
- Các chuẩn mực được thiết lập là cơ sở để đánh giá các thông tin được kiểm
tra, chúng thay đổi tùy theo thông tin được kiểm tra.
- Bằng chứng kiểm toán là các thông tin để chứng minh cho ý kiến nhận xét
của kiểm toán viên.
14
- Báo cáo kiểm toán là văn bản trình bày ý kiến chính thức của kiểm toán
viên về sự phù hợp giữa thông tin được kiểm tra và chuẩn mực đã được thiết lập.
- Kiểm toán viên phải có đủ năng lực và độc lập để có thể thực hiện cuộc
kiểm toán đảm bảo chất lượng. Năng lực của kiểm toán viên là trình độ nghiệp vụ
được hình thành qua đào tạo và kinh nghiệm tích lũy, giúp cho kiểm toán viên có
khả năng xét đoán công việc trong từng trường hợp cụ thể. Còn sự độc lập đối với
đơn vị được kiểm toán là yêu cầu tối cần thiết để duy trì sự khách quan của kiểm
toán viên và tạo được niềm tin ở người sử dụng kết quả kiểm toán.
2.1.2 Công ty kiểm toán
2.1.2.1 Định nghĩa
Theo định nghĩa được trình bày ở đoạn 5, điều 5, chương 1 của Luật Kiểm
toán độc lập (2011) thì “Doanh nghiệp kiểm toán là doanh nghiệp có đủ điều kiện
để kinh doanh dịch vụ kiểm toán theo quy định của Luật này và các quy định khác
của pháp luật có liên quan”. Đồng thời theo điều 3, chương 1 của Nghị định
17/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 03 năm 2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật kiểm toán độc lập, đã có phân tích sâu hơn và hướng dẫn
cụ thể: “Doanh nghiệp kiểm toán tại Việt Nam là doanh nghiệp được thành lập và
hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, có đủ điều kiện kinh doanh dịch
vụ kiểm toán theo quy định và đã được Bộ Tài chính Việt Nam cấp giấy chứng nhận
đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán”.
luật phải có chứng chỉ kiểm toán viên sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật đối
với mọi hoạt động của công ty.
Qui mô của các công ty kiểm toán ở Việt Nam có sự khác biệt khá rõ nét.
Nhìn chung các công ty kiểm toán là doanh nghiệp nhà nước có qui mô lớn hơn, có
nhiều chi nhánh và văn phòng ở các thành phố lớn trong cả nước. Các công ty
TNHH có qui mô hạn chế nhất, thường chỉ có một văn phòng chính nơi thành lập.
Các công ty kiểm toán có vốn đầu tư nước ngoài đều có văn phòng ở Hà Nội và
Thành phố Hồ Chí Minh.
Hiện nay, theo điều 21, chương 3 của Luật kiểm toán độc lập (2011) các
doanh nghiệp kiểm toán tại Việt Nam tồn tại dưới các hình thức sở hữu sau: công ty
trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; công ty hợp danh; doanh nghiệp tư
nhân; chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam.
Nếu là công ty hợp danh, công ty kiểm toán thường có cơ cấu tổ chức bao
gồm các cấp bậc là chủ phần hùn, chủ nhiệm, kiểm toán viên chính và kiểm toán
viên phụ với trách nhiệm và quyền hạn như sau:
16
- Chủ phần hùn: là các kiểm toán viên cao cấp và có phần hùn trong công ty.
Họ có thẩm quyền đại diện công ty kiểm toán để tiếp xúc với khách hàng và giải
quyết các ý kiến bất đồng, giám sát nhân viên, ký báo cáo kiểm toán…
- Chủ nhiệm: là những kiểm toán viên nhiều kinh nghiệm, thường được chủ
phần hùn giao nhiệm vụ giám sát một số hợp đồng kiểm toán, như xem xét hồ sơ
kiểm toán, xác định những thủ tục kiểm toán cần thiết, thảo luận với khách hàng…
- Kiểm toán viên chính: là người được giao trách nhiệm lập kế hoạch kiểm
toán, trực tiếp điều hành cuộc kiểm toán và soạn thảo báo cáo kiểm toán trình cho
cấp trên xét duyệt.
- Kiểm toán viên phụ: là những trợ lý cho kiểm toán viên chính và thường
Năm 2010 là năm đỉnh cao với 170 công ty kiểm toán, trong đó có 152 công
ty đủ điều kiện hành nghề kiểm toán với số lượng nhân viên bình quân là 57
người/1 công ty. Năm 2011 vẫn có 152 công ty với số lượng nhân viên bình quân là
56 người. Năm 2012 tăng lên 155 công ty với số lượng nhân viên bình quân là 65
người, đặc biệt năm 2013 số lượng công ty giảm mạnh, chỉ còn 134 công ty (giảm
14%) nhưng số lượng nhân viên bình quân là 78 người, tăng lên 20% so với năm
2012.
Về công ty kiểm toán được công nhận là thành viên Hãng quốc tế cũng tăng
nhẹ, năm 2010 và 2011 có 27 công ty, năm 2012 tăng 4%, năm 2013 tăng 11% so
với năm trước tương ứng.
Về công ty kiểm toán đủ điều kiện kiểm toán niêm yết, năm 2010 có 31 công
ty, giảm 9% so với năm 2009, năm 2011 có 43 công ty, tăng 39%; năm 2012 và
2013 đều có 43 công ty, không tăng giảm so với năm 2011. Đây là kết quả do cơ
cấu lại, một số công ty trung bình có xu hướng sáp nhập để đủ quy mô đạt tiêu
chuẩn, điều kiện kiểm toán niêm yết.
18
Trong hoàn cảnh khó khăn chung của nền kinh tế, ngành kiểm toán độc lập
vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng về doanh thu và tăng nhanh hơn tốc độ tăng
trưởng về khách hàng, giá phí khách hàng có tăng, có giảm nhưng bình quân chung
vẫn là tăng.
Nếu tổng doanh thu toàn ngành năm 2010 là 2.744 tỷ đồng, tăng 25% so với
năm 2009, năm 2011 tăng 11%, 2012 tăng 23% và năm 2013 tăng 11% so với năm
trước tương ứng. Trong khi số lượng khách hàng (hợp đồng) năm 2010 là 29.023,
tăng 12% so với năm 2009, năm 2011 tăng 7%, năm 2012 tăng 0% và năm 2013
tăng 8% so với năm trước tương ứng. Như vậy tốc độ tăng doanh thu vẫn nhanh hơn
tốc độ tăng khách hàng, vì giá phí bình quân trên một hợp đồng cũng tăng khá. Năm
2010 bình quân là 95 triệu đồng/hợp đồng, tăng 12% so với năm 2009, năm 2011
Kiểm toán viên
2.1.3.1 Định nghĩa
Theo điều 5, chương 1 Luật Kiểm toán độc lập (2011):
“Kiểm toán viên là người được cấp chứng chỉ kiểm toán viên theo quy định
của pháp luật hoặc người có chứng chỉ của nước ngoài được Bộ Tài chính công
nhận và đạt kỳ thi sát hạch về pháp luật Việt Nam.”
“Kiểm toán viên hành nghề là kiểm toán viên đã được cấp Giấy chứng nhận
đăng ký hành nghề kiểm toán.”
2.1.3.2 Tiêu chuẩn để trở thành kiểm toán viên
Hầu hết các quốc gia đều đòi hỏi kiểm toán viên phải có trình độ chuyên
môn và phẩm chất đạo đức nhất định. Vì thế, nếu muốn hành nghề kiểm toán độc
lập, họ thường phải đạt các tiêu chuẩn sau đây:
- Được đào tạo về kế toán ở một trình độ nhất định
- Đã có kinh nghiệm thực tiễn về kiểm toán
- Trúng tuyển một kỳ thi quốc gia về các kiến thức kế toán, kiểm toán, luật
kinh doanh…
Tại Việt Nam, điều 14, chương 2, Luật Kiểm toán độc lập (2011) quy định: