Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn cây pơ mu (fokienia hodginsii) tại vườn quốc gia pù mát, tỉnh nghệ an - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THU LÊ

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
BẢO TỒN CÂY PƠ MU (FOKIENIA HODGINSII)
TẠI VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT, TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THU LÊ

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
BẢO TỒN CÂY PƠ MU (FOKIENIA HODGINSII)
TẠI VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT, TỈNH NGHỆ AN

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ: 60.44.03.01

giáo trong Khoa Môi trường, Ban quản lý đào tạo trường Học viện Nông nghiệp
Việt Nam
Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc
tới PGS.TS. Đoàn Văn Điếm và các thầy cô giáo trong Khoa Môi trường
Tôi cũng xin cảm ơn nhân dân địa phương và cán bộ kiểm lâm trạm kiểm
lâm Vườn quốc gia Pù Mát, các cán bộ phòng ban Vườn quốc gia Pù Mát,
UBND các xã thuộc địa bàn nghiên cứu cùng các bạn đồng nghiệp đã tạo điều
kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã
động viên và giúp đỡ tôi về tinh thần, vật chất trong suốt quá trình học tập và
thực hiện luận văn.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Lê

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận án Tiến sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page iii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN

ii


Các nghiên cứu ở ngoài nứớc

3

1.1.1. Nghiên cứu về sinh học, sinh thái loài Pơ Mu

3

1.1.2. Nghiên cứu về nhân giống loài Pơ Mu

4

Các nghiên cứu ở trong nước

5

1.2.

1.2.1. Nghiên cứu về sinh học, sinh thái loài Pơ Mu

5

1.2.2. Nghiên cứu về nhân giống loài Pơ Mu

9

1.3.

Tình hình nghiên cứu đa dạng thực vật tại Vườn quốc gia Pù Mát


15

Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

17

2.1.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

17

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

17

2.1.2. Phạm vi nghiên cứu

17

2.2

Nội dung nghiên cứu

17

2.3.

Phương pháp nghiên cứu

Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

23

3.1.

Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội

23

3.1.1. Điều kiện tự nhiên

23

3.1.2. Những đặc điểm dân số, kinh tế, xã hội

28

3.2.

Nguồn tài nguyên rừng ở Vườn quốc gia Pù Mát

37

3.2.1. Hiện trạng sử dụng đất

37

3.2.2. Tài nguyên rừng



Kết quả nhân giống vô tính

51

3.5.

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phân bố và tái sinh loài Pơ Mu

53

3.5.1.

Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên - kinh tế, xã hội tới loài Pơ Mu
tại Vườn quốc gia Pù Mát.

3.5.2.
3.6.

53

Đánh giá tác động của người dân địa phương đến tình hình bảo tồn
Pơ Mu.

55

Xác định tình trạng bảo tồn hiện nay và đề xuất giải pháp hành động

62



Chữ viết đầy đủ

1

CGIS

Canadian Geographic Infomational System

2

CS

Cuộc sống

3

HGĐ

Hộ gia đình

4

QLBVR

Quản lý bảo vệ rừng

5

GPS


Phân khu phòng hộ sinh thái

11

TNR

Tai nguyên rừng

12

VQG

Vườn Quốc gia

13

UBND

Ủy ban nhân dân

14

WRI

Tài nguyên Thế giới

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận án Tiến sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page vi


21

3.1

Dân số và mật độ dân số của 17 xã vùng đệm

28

3.2

Thành phần các dân tộc sinh sống trong và quanh VQG Pù Mát

29

3.3

Lao động và phân bố lao động trong vùng

30

3.4

Diện tích các loại đất loại rừng phân theo đơn vị hành chính

38

3.5

Các taxon thực vật có mạch ở VQG Pù Mát


50

3.11

Tổng hợp kết quả thử nghiệm giâm hom Pơ mu

52

3.12.

Mức độ khai thác gỗ phục vụ sinh hoạt và đem bán của các HGĐ
điều tra

58

3.13

Mức độ khai thác các loại LSNG khác của các hộ điều tra

60

3.14

Tình hình QLVBR của Kiểm lâm Pù Mát qua các năm

63

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận án Tiến sỹ Khoa học Nông nghiệp



Sơ đồ vị trí Vườn Quốc Gia Pù Mát

24

3.2.

Phẫu đồ phân bố Pơ Mu trên đường dông Pù Xám Liệm

44

3.3.

Mức độ khai thác gỗ cho sinh hoạt và bán theo vị trí của các hộ
điều tra

3.4.

57

Mức độ khai thác gỗ cho sinh hoạt và đem án theo kinh tế hộ của
các hộ điều tra

59

Mức độ khai thác cây thuốc của các hộ điều tra

61

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận án Tiến sỹ Khoa học Nông nghiệp

các thung lũng bờ sông trong VQG. Mặc dù qui mô khai thác gỗ lậu đó giảm trong vài
năm gần đây, tại một số khu vực hoạt động khai thác gỗ lậu đang làm thay đổi cấu
trúc rừng và đe dọa nghiêm trọng quần thể của một số loài cây gỗ quan trọng, kể cả
các loài bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu như loài cây Pơ Mu (Fokienia
hodginsii) và các loài cây gỗ họ Dầu Dipterocarpaceae.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận án Tiến sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 1


Vườn quốc gia Pù Mát là một trong những vườn quốc gia có giá trị đa
dạng sinh học cao của Việt Nam; thành phần động, thực vật phong phú, đa dạng.
Tuy nhiên trong số đó có nhiều loài quý hiếm đang bị đe dọa tuyệt chủng. Chính
vì điều đó, Vườn quốc gia Pù Mát được xem là điểm nóng về bảo tồn đa dạng
sinh học. Riêng về thực vật có 70 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam trong đó có
cây loài cây Pơ Mu (Fokienia hodginsii).Loài này không chỉ có ý nghĩa về mặt
khoa học mà còn có giá trị về kinh tế rất cao như gỗ bền, ít mối mọt, có hoa vân
và màu sắc rất đẹp nên rất được ưa dùng để làm các đồ thủ công mỹ nghệ, làm
các vật dụng trong gia đình, làm nhà. Do gỗ tốt có giá trị kinh tế cao nên chúng
đang là đối tượng bị chú trọng về khai thác.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn trên, đồng thời được sự nhất trí của
thầy giáo, Ban giám đốc Vườn quốc gia Pù Mát, sự nhất trí và phối kết hợp của
Phòng Khoa VQG Pù Mát, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng
và đề xuất giải pháp bảo tồn loài cây Pơ Mu (Fokienia hodginsii) tại Vườn
Quốc Gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng cây Pơ Mu, khả năng tái sinh và các yếu tố ảnh hưởng
đến sự sinh trưởng phát triển đối với loài cây Pơ Mu (Fokienia hodginsii) tại
Vườn quốc gia Pù Mát từ đó đưa ra giải pháp cho việc quản lý, bảo tồn loài thực

vùng phụ cận Alberta, Canada (Tự điển Bách khoa toàn thư Việt Nam).
Về phân bố sinh thái, yêu cầu nơi sống (Habitat) của cây Pơ Mu cho thấy
Fokienia hodginsii là loài cây có nguồn gốc thực vật từ Đông Nam Trung Quốc đến
Bắc Việt Nam (Hà Bắc, Hà Giang, Hà Tĩnh, Hòa Bình, Sơn La, Nghệ An,Lào Cai,
Lai Châu, Thanh Hoá, Tuyên Quang, Yên Bái và Vĩnh Phú), đến Tây Nguyên (Đăk
Lắk, Gia Lai, Lâm Đồng) và Bắc Lào. Đây là loài cây không cần bóng che, sống
trong điều kiện lượng mưa cao trong năm. Xuất hiện trên đất mùn trên núi, đó là
habitat của Pơ Mu . Ở Việt Nam, Pơ Mu xuất hiện trên đất hình thành trên đá
limestone hoặc granite ở độ cao trên 900 m so với mặt nước biển.
Về yêu cầu sinh thái trong gieo trồng cây Pơ Mu cũng được nghiên cứu ở
Trung Quốc, cây con yêu cầu chế độ nhiệt ẩm khá khô vào mùa xuân, cần bóng
che ở giai đoạn non. Trong gây trồng nếu tưới quá nhiều cây sẽ chết. Cây cao
12m trong điều kiện tự nhiên khi trồng với mật độ 2x1,8m trong 10 năm đầu.
Về nghiên cứu hệ sinh thái rừng và các mối quan hệ sinh thái giữa các loài
cho thấy hệ sinh thái rừng là một tổng hợp phức tạp các mối quan hệ lẫn nhau

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận án Tiến sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 3


của các quá trình, trong đó sự trao đổi vật chất và năng lượng với môi trường là
quá trình cơ bản nhất. Nhiều nhà khoa học đã dày công nghiên cứu về sinh thái,
đặc biệt là mối quan hệ giữa các loài thực vật, các quần thể đối với rừng mưa
nhiệt đới, trong đó đáng chú ý là công trình cấu trúc rừng mưa đã mang lại kết
quả có giá trị như Baur G.N (1964) đã nghiên cứu các vấn đề về sinh thái
trong kinh doanh rừng mưa, phục hồi và quản lý rừng mưa nhiệt đới. Odum E.P
(1971) đã nghiên cứu các vấn đề về sinh thái nói chung và sinh thái trong rừng
mưa nhiệt đới làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu sinh thái loài và cấu trúc
rừng. Nghiên cứu tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới châu Á, Catinot (1965) cho

giá trị công dụng của nó về dược liệu và trong đời sống; và mới đây là một số
nghiên cứu thị trường loài Pơ Mu, cụ thể:
Trong quyển sách “Cây cỏ Việt Nam” (Phạm Hoàng Hộ, 1999) trong đó
có giới thiệu về cây Pơ Mu (Fokienia hodginsii) là cây đại mộc cao 20 m; nhánh
dẹp. Lá ở nhánh trẻ là vảy dẹp, mỏng, đầu nhọn, lá ở nhánh già nhỏ hơn, cong
vào thân. Chùy tròn, to 1,5 – 2,2 cm, vảy hình khiên; hột 2, vàng rơm sậm, cao 6
mm, hai cánh một to, một nhỏ. Chùy cái cần 2 năm mới chín.Rừng có độ cao độ
900 -1.700 m; Gỗ làm hòm, đồ mỹ nghệ.
Trần Hợp (2002) trong quyển sách “Tài nguyên cây gỗ Việt Nam” của tác
giả đã mô tả cây Pơ Mu (Fokienia hodginsii ) cao tới 30 – 35 m, đường kính 1m.
Thân thẳng, có bạnh to. Vỏ màu xám xanh, bong thành mảnh. Mùi thơm dịu.
Cành nhỏ dẹt. Lá hình vảy, cây non hay cành không mang nón có lá to, hai bên
xòe rộng, còn ở cành già hay cành mang nón lá nhỏ hơn, mặt dưới lá màu trắng
xanh. Nón đực mọc ở nách lá dài 1cm. Nón cái mọc ở đầu cành có đế mập
nhỏ.Nón hình cầu, khi chín nứt, màu nâu đỏ.Hạt hình trứng tròn, có hai cánh
không đều nhau. Hai lá mần hình dải, lá mới sinh gần đối, 4 lá sau mọc vòng
(Trần Hợp, 2002).
Về mô tả thực vật trong tài liệu ở Vườn Quốc gia Bi Đúp núi Bà (Vườn
Quốc gia Bi Đúp Núi Bà, 2006) cho thấy Pơ Mu (Fokienia hodginsii) là cây gỗ
lớn, họ Hoàng đàn (Cupressaceae). Thân thẳng, cao 25 - 30 m, không bạnh vè.
Tán hình tháp. Vỏ nâu xám.Cành non không mang quả. Lá to hình mác, dài 0,7
cm, rộng 0,4 cm. Nón đực hình trứng hay bầu dục, nón cái hình cầu. Quả màu nâu,
hạt có cánh. Là loài cây đặc hữu ở Nam Trung Quốc, Việt Nam, Lào. Ở Việt Nam,
cây mọc tự nhiên ở Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu,
Hoà Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Gia
Lai, Kon Tum, Đắc Lắc, Lâm Đồng. Thường mọc từng dải thuần loài theo các

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận án Tiến sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 5

Bách Đài Loan (Taiwania cryptomerioides) và Thông Pà Cò (Pinus
kwangtungensis). Trên các vùng núi đá vôi miền Bắc Việt Nam (Hà Giang, Bắc

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận án Tiến sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 6


Kạn và Hoà Bình) loài Pơ Mu đôi khi hình thành các khu rừng thuần loài trên
dông núi đá vôi ở độ cao 900 -1400 m so mặt nước biển (Nguyễn Tiến Hiệp,
Phan Kế Lộc, Nguyễn Đức Tố Lưu, P.I. Thomas, A. Farjon, L. Averyanov &
J.Regalado Jr,2004).
Ở Việt Nam, cây Pơ Mu gặp ở Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Yên
Bái, Hà Giang, Bắc Kạn, Phú Thọ, Hoà Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa ThiênHuế, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Ninh Thuận và Khánh
Hoà. Trên thế giới loài có từ cực Nam Trung Quốc sang tới Lào. Ở tất cả các
nước này phạm vi của các khu rừng còn lại đều không được xác định. Điều này
làm cho việc ước lượng tỷ lệ các quần thể ở Việt Nam so với quốc tế trở nên khó
khăn (Nguyễn Tiến Hiệp và cs, 2004).
Hiện trạng bảo tồn quốc tế thì cây Pơ Mu ở mức gần bị tuyệt chủng theo
tiêu chí IUCN, 1994. Ở Việt Nam loài này đã được xếp ở mức đang bị tuyệt chủng
(Nguyễn Đức Tố Lưu và Thomas, 2004) dựa trên mức suy giảm nơi sống do phát
triển của các hoạt động khai thác. Theo các chỉ tiêu mới (IUCN, 2001) loài này có
thể đáp ứng chỉ tiêu A2cd cho mức đang bị tuyệt chủng do mức độ khai thác
mạnh. Về đặc điểm sinh học - sinh thái, hiện trạng và phương án bảo tồn loài cây
Pơ Mu ở Việt Nam cũng đã được Nguyễn Hoàng Nghĩa (2004) đề cập khá đầy đủ.
Đặc biệt, tác giả cho rằng, cây Pơ Mu mọc với mật độ thưa, tái sinh tự nhiên kém,
thiếu hẳn thế hệ trung gian để có thể thay thế những cây già cỗi. Đồng thời cũng
khẳng định cây Pơ Mu có thể nhân giống bằng hom với tỷ lệ ra rễ cao, có thể góp
phần đắc lực vào công tác nhân giống phục vụ trồng rừng.
Trung tâm Nghiên cứu Lâm sản Ngoài gỗ (NTFPRC) (Thân Văn Canh

trong quần thụ: Chúng mọc hỗn giao với nhiều loài cây lá rộng thuộc họ Dẻ
(Fagaceae), họRe(Lauraceae), họChè (Theaceae), họ Ngọc lan (Magnoliaceae),
họ Ngũ gia bì (Araliaceae), họ Ngũ liệt (Pentaphylacaceae), họ Sau sau
(Hamamelidaceae), họ Hồ đào (Juglandaceae), họ Trâm (Myrtaceae), họ Đỗ
Quyên (Ericaceae), họ Thích (Aceraceae), họ Hồi (Illiciaceae)...và một số loài
khác trong lớp Thông (Pinopsida) với mật độ thấp, gần như chúng không chiếm
tỷ lệ tổ thành cao để tạo thành quần thể thuần loài như một vài vùng khác.
Về mặt thương mại và sử dụng cây Pơ Mu ở Việt Nam đã được Nguyễn
Phi Truyền và Thomas Osborn nghiên cứu (2006); kết quả đã phản ảnh nhu cầu
sử dụng cây Pơ Mu của các cộng đồng bản địa ở Lào Cai và Sơn La trong đời
sống, tập quán; ngoài ra còn đề cập đến yếu tố thương mại của nó trong giao dịch
mua bán loài cây này ở vùng núi phía bắc trong thời gian qua.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận án Tiến sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 8


Về mặt dược liệu của cây Pơ Mu cũng được nghiên cứu: Pơ Mu
(Fokienia hodginsii (Dunn) A. Henry et Thomas), thuộc họ Hoàng đàn
(Cupressaceae) bộ phận dùng là Dầu (Oleum Fokieniae Hodginsii). Thành phần
hóa học: Gỗ và nhất là rễ chứa tinh dầu, từ 2 - 3%. Tinh dầu đặc sắc bởi một tỷ
lệ rất cao của 1 rượu sesquiterpenic đơn vòng gọi là fokienol, nó có mùi thơm
rất dễ chịu. Về gỗ Pơmu có vân mịn không mối mọt, dùng làm đồ mỹ nghệ,
làm cầu, xây dựng, làm áo quan.
Về công dụng cây Pơ Mu cũng được mô tả: Người Lào và người
Dao dùng gỗ cây Pơ Mu để làm nóc nhà hay vách ngăn phòng. Trước đây, gỗ Pơ
Mu còn được sử dụng để làm quan tài. Tại Việt Nam, nó được coi là một loại gỗ
quý do mùi thơm đặc trưng, vân gỗ đẹp cũng như trọng lượng khác thường của
nó và đặc tính không bị mối mọt phá hoại; vì thế nó được sử dụng để làm các đồ

vụ cho bảo tồn và mở rộng qui mô trồng rừng khôi phục lại nguồn tài nguyên
quí hiếm này.
Nghiên cứu nhân giống Pơ Mu (Fokienia hodginsii (Dunn) A. Henry et
Thomas) bằng hom trong Các loài cây lá kim ở Việt Nam của Nguyễn Hoàng
Nghĩa (2004): Cành của cây con 1 năm tuổi được dùng cho nhân giống hom trên
cát mịn trong nhà kính tại Đà Lạt. Sau hai tháng giâm, tất cả các công thức xử lý
đều ra rễ, chỉ riêng đối chứng mới ra mô sẹo. Trong thí nghiệm này, chất ANA
cho tỷ lệ ra rễ cao nhất, đạt 80 -90 %, trong khi đối chứng vẫn chưa ra rễ. Ngoài
ra, chất ABT và các thuốc khác cũng có một vài công thức cho tỷ lệ ra rễ đạt 70
-80%. Số rễ trên hom biến đổi song không tuân theo một quy luật nhất định.
Chẳng hạn ở chất AIA, nồng độcàng tăng thì số rễ cũng tăng lên, còn chất AIB
thì lại tuân theo quy luật ngược lại. Riêng đối với chất ABT và chất ANA thì các
nồng độ thấp và cao cho số rễ thấp. Chất ANA cho số rễ thấp nhất trong số các
thuốc thí nghiệm. Tóm lại, loài Pơ Mu có thể nhân giống bằng hom với tỷ lệ ra rễ
cao, có thể góp phần đắc lực vào công tác nhân giống phục vụ trồng rừng.
1.3. Tình hình nghiên cứu đa dạng thực vật tại Vườn quốc gia Pù Mát
Để làm cơ sở cho việc thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát, năm
1992 các chuyên gia của Viện điều tra quy hoạch rừng đã tiến hành điều tra
nghiên cứu hệ thực vật trong vùng, bước đầu đã thống kê được 986 loài thực vật
trong 522 chi, thuộc 153 họ, đồng thời phân tích tính đa dạng và đánh giá nguồn
tài nguyên của nó gồm 291 loài cây gỗ, 220 loài cây thuốc, 60 loài cây cảnh, 37
loài cây dầu béo, 96 loài cây ăn được, 37 loài cây làm rau, 30 loài cây độc và 40
loài cây nguy cấp (Dự án khả thi khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát).
Năm 1995 Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát chính thức được thành lập. Từ
năm 1997 đến nay được sự hỗ trợ của dự án Lâm nghiệp xã hội và bảo tồn thiên
nhiên Nghệ An (SFNC), cùng với sự cộng tác của nhiều chuyên gia trong và
ngoài nước đã có nhiều chương trình nghiên cứu đa dạng sinh học được thực
hiện, kết quả thu được như sau.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận án Tiến sỹ Khoa học Nông nghiệp

Đến nay tổng hợp tất cả các số liệu điều tra trong hệ thực vật Pù Mát có
tới 2.494 loài, thuộc 931 chi của 202 họ.
Từ số liệu chỉ dẫn ở trên, có thể khẳng định Vườn quốc gia Pù Mát là một
trong những khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao của vùng Bắc Trung Bộ
cũng như của Việt Nam.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận án Tiến sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 11


1.4. Tình hình nghiên cứu loài Pơ Mu (Fokienia hodginsii (Dunn) Henry et
Thomas) tại Vườn quốc gia Pù Mát
Trong số các loài thực vật được phát hiện ở Vườn quốc gia Pù Mát thì số
lượng các loài cây hạt trần khá phong phú. Qua số liệu điều tra năm 2001 - 2002,
gần đây nhất là chương trình đánh giá nhanh đa dạng sinh học do Tổ chức bảo
tồn chim quốc tế (Birdlife) thực hiện (phần thực vật do các chuyên gia của Viện
điều tra quy hoạch rừng đảm nhận). Đến nay đã thống kê được một số loài hạt
trần (Pinophyta) đều có mẫu vật khô lưu giữ tại Bảo tàng Vườn quốc gia Pù Mát,
trong đó có loài Pơ Mu (Fokienia hodginsii (Dunn) Henry et Thomas).
Tuy nhiên, các loài cây hạt trần (Pinophyta) nói chung và loài Pơ Mu
(Fokienia hodginsii (Dunn) Henry et Thomas) nói riêng phân bố trong phạm vi
tương đối hẹp nên có thể nói có một tác động tiêu cực nào đó xẩy ra cũng có thể
làm tuyệt chủng loài tại Vườn quốc gia Pù Mát, hơn nữa loài Fokienia hodginsii
có số lượng tương đối nhiều nhưng do có giá trị kinh tế, giá trị sử dụng cao nên
nó đang trở thành đối tượng bị bọn lâm tặc và người dân khai thác.
Trên thực tế các nghiên cứu loài Pơ Mu (Fokienia hodginsii) mới dừng lại
ở mức phát hiện loài, thu thập số liệu về phạm vi phân bố ở một số vùng, độ cao
phân bố, các đặc điểm sinh thái khác và đưa ra một số đề xuất để bảo tồn chúng.
Hiện chưa có công trình cụ thể nào đi sâu nghiên cứu về đặc điểm phân bố, sinh

Chron. Ser.
Thuộc họ: Hoàng Đàn- Cupressaceae
1.5.1. Đặc điểm phân bố
- Trên thế giới: Pơ Mu chỉ gặp một số nơi như Nam Trung Quốc, trong đó
hai tỉnh giáp với Việt Nam là Vân Nam và Quảng Đông; và bắc Lào
- Trong nước: Pơ Mu gặp ở vùng Tây Bắc (Lai Châu, Điện Biên, Sơn La,
Hoà Bình), Đông bắc (Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai), các tỉnh thuộc vùng Bắc,
Trung và Nam dải Trường Sơn từ Hà Tĩnh tới Lâm Đồng.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận án Tiến sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 13


1.5.2. Đặc điểm nhận dạng

Hình 2.1. Phân bố loài Pơ mu (Fokienia hodginsii (Dunn) A. Henry et
Thomas, Gard. Chron. Ser.) tại Vườn quốc gia Pù Mát
Pơ Mu là loài cây gỗ to, có tán hình tháp, thường xanh, cao 25-30m hay
hơn, đường kính thân tới 1m. Thân thẳng, không có bạnh gốc, cành phân ngang.
Vỏ thân màu xám nâu, bong thành mảnh khi non, sau nứt dọc, thơm. Lá hình vảy
xếp thành 4 dãy; ở cành non hoặc cành dinh dưỡng 2 lá trong ngắn và hẹp hơn
hai lá bên, dài đến 7mm, rộng đến 4mm, có đầu nhọn dựng đứng; ở cành già hay
cành mang nón, lá nhỏ hơn (dưới 1mm), có mũi nhọn cong vào trong. Nón đơn
tính cùng gốc; nón đực hình trứng hay hình bầu dục; dài 1cm, mọc ở nách lá; nón
cái gân hình cầu, đường kính 1,6 đến 2,2cm mọc ở đỉnh cành ngắn, khi chín tách
thành 5-8 đôi vảy màu nâu đỏ, hoá gỗ, hình khiên, đỉnh hình tam giác, lõm giữa
và có mũi nhọn. Mỗi vảy hữu thụ mang hai hạt với 2 cành bằng nhau.
1.5.3. Đặc điểm sinh học và sinh thái:
Loài Pơ Mu quả chín vào tháng 5-6. Loài này thuộc yếu tố Đông Á. Trung


Hình 2.3. Cây Pơ Mu ở Pù Xám Liệm VQG Pù Mát.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận án Tiến sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status