HỒI ức TRONG TRUYỆN THIẾU NHI của NGUYỄN NHẬT ÁNH - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

----------

NGUYỄN MINH PHƯỢNG

HỒI ỨC TRONG TRUYỆN THIẾU NHI
CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH
Chuyên ngành:
Mã số
:

Văn học Việt Nam hiện đại
60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN THỊ BÌNH

HÀ NỘI, NĂM 2014
MỤC LỤC


2

2
2


MỞ ĐẦU


phần đổi mới diện mạo văn học thiếu nhi nước ta vài chục năm nay.
1.2. Từ sau năm 1975, văn học Việt Nam xuất hiện hiện tượng phổ biến là
các nhà văn đã chọn hồi ức làm chất liệu sáng tác, đặc biệt là hồi ức tuổi thơ
chất chứa nhiều rung cảm. Với mỗi con người, tuổi thơ là quãng thời gian đầu
đời có ý nghĩa quan trọng để định hình nên nhân cách. Tuổi thơ đong đầy kỷ
niệm, vụng dại, thơ ngây càng lùi xa càng không ngừng quay trở về trong hiện
tại. Với văn chương, hồi ức không chỉ là chất liệu mà còn là phương thức
chiêm nghiệm, nhận thức lại các vấn đề của quá khứ, là cách thức bộc lộ cái tôi
sâu kín. Sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh cũng không nằm ngoài mạch chảy này.
1.3. Trong truyện Nguyễn Nhật Ánh, hồi ức có vai trò quan trọng, nhất là
hồi ức tuổi thơ và tuổi mới lớn. Hồi ức có khi là nỗi nhớ bất chợt từ hiện tại
mở ra câu chuyện quá khứ hay sự hiện hữu song song của quá khứ và hiện tại
mà sợi dây kết nối tưởng đứt lìa hóa ra vẫn bền chặt đến bí ẩn. Từ hồi ức, thế
giới trẻ thơ hiện lên đẹp đẽ, sinh động, đối lập với những gì duy ý chí cằn cỗi.
Tìm về quá khứ qua màn sương hoài niệm cũng là tìm lại sự vô tư, tìm lại
phần tự nhiên, hồn hậu của con người. Đó không chỉ là đích đến mà còn là
cuộc hành trình tìm lại bản thể, là sự chiêm nghiệm, nghĩ suy về cuộc đời khi
cá nhân trở nên từng trải và sâu sắc hơn. Phải chăng đây là một trong những lí
do khiến tác phẩm sử dụng chất liệu hồi ức có khả năng neo lại bền lâu trong
trái tim nhiều thế hệ độc giả?
Chúng tôi thực sự ấn tượng với truyện viết cho tuổi thơ và tuổi mới lớn của
Nguyễn Nhật Ánh bởi những trang văn hóm hỉnh, giàu ý nghĩa nhân sinh. Từ
công việc đang làm là giảng dạy Văn học Việt Nam cho sinh viên Cao đẳng Sư
phạm - những thầy cô giáo tiểu học, THCS tương lai, chúng tôi nhận thức được
ảnh hưởng của tác giả đối với văn học thiếu nhi nên quyết định chọn đề tài: “Hồi
ức trong truyện thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh” với mong muốn chiếm lĩnh
4

4


5


Quảng “có sức hấp dẫn lạ và mới. Nó lôi cuốn thiếu nhi và có sức thuyết phục
người lớn có trách nhiệm với thế hệ trẻ” [95; 52]. Truyện Nguyễn Nhật Ánh
“luôn gần gũi như truyện dân gian cổ tích, như ước mơ của tuổi thơ mà lại
mang tính hấp dẫn hiện đại” [95; 52]. Cũng tiếp cận từ phương diện nội dung,
Vân Thanh trong Nguyễn Nhật Ánh nhà văn thân quý của tuổi thơ đăng trên
Tạp chí Văn học số 6- 1998 nhận định: “Nguyễn Nhật Ánh thông qua sự sống
dung dị và trẻ trung, giúp ta tiếp nhận được nhiều vấn đề: lí tưởng sống, tình
bạn, tình yêu nam nữ, tình thầy trò, tình yêu quê hương” [86; 78].
Nhà nghiên cứu Văn Hồng dành sự chú ý tới hiện tượng Nguyễn Nhật
Ánh từ sớm. Ông coi Nguyễn Nhật Ánh là “cây bút mến mộ nhất của tuổi học
trò”. Trong bài Kính vạn hoa - phép lạ giữa đời thường (1996), Văn Hồng
nhấn mạnh thành công của Nguyễn Nhật Ánh ở nghệ thuật dẫn truyện theo
phong cách tân cổ điển, nhân vật và chất hài ở nhiều cung bậc. Năm 2002, Văn
Hồng viết Nguyễn Nhật Ánh - một mình một chợ khẳng định vị trí nhà văn
trong dòng văn học thiếu nhi, nhất là trong hoàn cảnh truyện tranh Nhật và các
tác phẩm văn học dịch xuất hiện ồ ạt. Sự khẳng định ấy được tái nhấn mạnh
trong bài Nguyễn Nhật Ánh như một ví dụ (2004): “...với cách kết hợp truyền
thống và hiện đại, tinh hoa thế giới và bản sắc Việt Nam, vốn văn hóa - thẩm
mĩ rộng và tay nghề cao, nhắm tới một đối tượng xác định, Nguyễn Nhật Ánh
đã trở thành một hiện tượng độc đáo trong văn học thiếu nhi”. Như vậy,
“không còn là ví dụ, mà thực sự Nguyễn Nhật Ánh đã trở thành một bông hoa
tươi thắm trong vườn hoa 30 năm Hòa Bình - Thống Nhất” [50; 202].
Công trình nghiên cứu Truyện viết cho thiếu nhi sau năm 1975 [65] của
Lã Thị Bắc Lý nhắc đến truyện Nguyễn Nhật Ánh, đặc biệt là bộ Kính vạn
hoa như những minh chứng cho sự đổi mới của truyện viết cho thiếu nhi Việt
Nam sau 1975 ở các phương diện: đề tài, quan niệm về con người và nghệ

trong một tác phẩm cụ thể để đưa ra kiến giải về phẩm chất cần có của sáng
tác cho trẻ thơ: “sự bất bình thường trong nhân dạng đã mặc nhiên ấn định
cho sinh thể bé nhỏ ấy sự bất bình thường trong nhân cách và vì thế ấn định vị
7

7


thế của một kẻ lạc loài trong mắt đồng loại” [96].
Năm 2013, cuốn Nguyễn Nhật Ánh - hoàng tử bé trong thế giới tuổi thơ
(Lê Minh Quốc biên soạn) ra đời giúp người đọc có cái nhìn khá đầy đủ về
tiểu sử, hành trình văn chương Nguyễn Nhật Ánh. Bằng tình cảm nồng hậu
dành cho bạn văn đồng hương xứ Quảng, tác giả tập sách nhận định: “Với
dòng văn học dành cho thiếu nhi và tuổi mới lớn, hiện nay anh (Nguyễn Nhật
Ánh - Lê Minh Quốc) đang giữ một vị trí đặc biệt. Khó có người thay thế. Khi
liệt kê tên tuổi và tác phẩm của một thế hệ nhà văn, hội đồng văn học sử có
thể nhớ người này và quên béng người kia. Có thể chọn người này và bỏ sót
người kia. Nhưng với Nguyễn Nhật Ánh, người ta không thể, dù cố tình hoặc
vô tâm” [77; 51]. Lê Minh Quốc giải thích nguyên nhân tạo ra “ma lực
Nguyễn Nhật Ánh” là nhờ “cách viết phù hợp với tâm lí đối tượng bạn đọc”,
“Câu văn trong sáng như nó vốn có, như lời ăn tiếng nói ta tiếp nhận hàng
ngày...” [77; 52]. Các tác phẩm Nguyễn Nhật Ánh “kết hợp nhuần nhuyễn
yếu tố giải trí và giáo dục” hướng trẻ thơ tới những giá trị nhân bản, “yếu tố
hóm hỉnh đóng vai trò rất quan trọng” [77; 54], nhà văn “đồng hành cùng với
nhân vật, chứ không phải đứng ở ngoài quan sát” [18; 61].
Thái Phan Vàng Anh với bài viết Nguyễn Nhật Ánh, người kể chuyện
của thiếu nhi đăng trên Tạp chí Non nước (số 187 - 2013) đã góp thêm một
cách nhìn về truyện Nguyễn Nhật Ánh ở góc độ nghệ thuật kể chuyện. Chị
cho rằng dù không quá chú ý đến cách kể, đến kĩ thuật dựng truyện nhưng
“Cái hấp dẫn, cái “duyên” của truyện Nguyễn Nhật Ánh chủ yếu nhờ vào sự

Nhật Ánh như Thế giới nghệ thuật truyện Nguyễn Nhật Ánh của Vũ Thị
Hương (2009), Yếu tố huyền thoại trong truyện Nguyễn Nhật Ánh của Lê Thị
Diệu Phương (2011), Đặc điểm truyện Nguyễn Nhật Ánh của Bùi Thị Thu
Thủy (2011)... Các luận văn có nhiều điểm gặp gỡ nhau nhưng không có đề
tài nào thực sự chú ý đến vấn đề mà chúng tôi khảo sát.
Truyện của Nguyễn Nhật Ánh được dịch ra một số ngôn ngữ khác, là cầu
nối đưa văn học thiếu nhi Việt Nam đến với bạn bè thế giới. Năm 2004,
9

9


truyện Mắt biếc được dịch sang tiếng Nhật (do Nhà xuất bản Terrainc ấn
hành). Dịch giả Kato Sakae tự tin cho rằng tác phẩm tái hiện không gian làng
quê Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc nên không chỉ lớp trẻ mà cả độc giả
trung niên Nhật cũng sẽ yêu thích tác phẩm này. Theo nhà thơ Takatsuki
Fumiko, tác phẩm cuốn hút bởi giọng văn “rất hay và nhẹ nhàng. Câu chuyện
tình cảm trong sáng” [dẫn theo 77; 77]. Còn nhà phê bình nhà phê bình văn
học Sakai Tazuko thì ấn tượng với lối kết cấu của Nguyễn Nhật Ánh. Với
ông, kết cục “vượt ra ngoài những sự đoán về cuộc đời đã để lại dư âm sâu
đậm” [dẫn theo 77; 77].
Năm 2008, tác phẩm Cô gái đến từ hôm qua được Tiến sĩ Maxim
Synnerberg - người biên soạn Từ điển Nga - Việt đề nghị đưa vào giáo trình
giảng dạy tiếng Việt của Đại học Moscow, Nga. Dịch giả của cuốn sách đã
nói: “Tôi rất thích cách viết của Nguyễn Nhật Ánh. Tôi nghĩ sinh viên cũng sẽ
thích truyện này nên bắt đầu đưa tác phẩm đó vào quá trình giảng dạy tiếng
Việt” [dẫn theo 77; 74].
Việc Nguyễn Nhật Ánh tham dự Hội thảo quốc tế về văn học thiếu nhi
tại Stockhom năm 2009 và giải thưởng Văn học ASEAN năm 2010 đã tạo cơ
hội thuận lợi để tác phẩm của anh đến với độc giả nhiều nước trên thế giới.

Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ còn được dịch sang tiếng Hàn (nhà xuất
bản Dasan Books tại Seoul ấn hành) năm 2013. Và đầu tháng 10 -2014, cuốn
sách sẽ ra mắt ấn bản tiếng Anh với tên Give me a ticket to childhood do
William Naythons chuyển ngữ (nhà xuất bản Overlook, Mỹ phát hành). Trong
lời giới thiệu sách đăng trên trang web Amazon, Give me a ticket to
childhood được nhắc đến là tác phẩm có thể khiến người lớn lẫn trẻ em xúc
động. Sách hứa hẹn chinh phục trái tim độc giả Mỹ nhờ kĩ thuật viết điêu
luyện, vẽ nên một thế giới tuổi thơ phong phú, giàu có, được dệt nên từ niềm
vui, nỗi buồn, bất hạnh lẫn hạnh phúc.
Như vậy, tác phẩm viết cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh không chỉ chạm
tới trái tim của bạn đọc trong nước mà đã vượt qua khoảng cách địa lý, tạo được
11

11


sự đồng cảm với độc giả nước ngoài. Văn chương là con đường đẹp đẽ để dân tộc
này đến với dân tộc khác. Với ý nghĩa đó, truyện Nguyễn Nhật Ánh là nhịp cầu
hòa bình nối kết tâm hồn độc giả, nối kết văn học Việt Nam với thế giới.
Những ý kiến của các dịch giả, bạn đọc nước ngoài mới chỉ là những
cảm nhận mang tính khái quát, bước đầu, chưa có tính hệ thống, toàn diện về
sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh, nhưng đó là tín hiệu đáng mừng, là
niềm vinh dự mà không phải cây bút nào cũng đạt được. Tương lai văn học
của tác giả vẫn còn dài và chúng ta có thể tin tưởng vào kinh nghiệm sống,
sức sáng tạo dồi dào của nhà văn.
Nhìn một cách tổng thể, chúng tôi nhận thấy hầu như không có sự đối
lập trong các nhận xét, đánh giá về Nguyễn Nhật Ánh - nhà văn được xem là
“nhà ảo thuật”, người tạo ra “phép lạ giữa đời thường”. Số lượng ý kiến
phong phú chứng tỏ sự quan tâm đông đảo của các nhà nghiên cứu, phê bình,
các nhà văn và độc giả đối với “hiện tượng” Nguyễn Nhật Ánh. Tác phẩm của

nhàng và giàu cảm xúc như thơ” [77; 57]. Thái Phan Vàng Anh nhận xét:
“nhà văn thường chọn cách kể từ ngôi thứ nhất - người kể chuyện “tôi”,
khiến cho truyện Nguyễn Nhật Ánh có tính chất hồi ức” [1; 61]. Nguyễn Thị
Thanh Xuân chỉ ra rằng khi viết về những bâng khuâng rung cảm đầu đời,
Nguyễn Nhật Ánh “tựa quá nhiều vào quá khứ. Qua màn sương hoài niệm,
những mối tình mới chớm đề buồn, dở dang và gắn liền với một nhân dáng”
[106; 28].
Từ việc tóm lược các ý kiến trên, có thể thấy việc Nguyễn Nhật Ánh ưa
dùng hồi ức làm chất liệu truyện không nằm ngoài dòng chung của văn học
thiếu nhi Việt Nam sau 1975, nghĩa là nó chứa đựng vấn đề của văn học sử.
Nhưng đến nay, chưa có công trình nào trực diện đặt vấn đề nghiên cứu hồi
ức trong sáng tác Nguyễn Nhật Ánh như một đối tượng khoa học. Thực hiện
đề tài này, chúng tôi mong muốn góp thêm một cách tiếp cận văn chương

13

13


Nguyễn Nhật Ánh và có thêm thu hoạch quý báu cho công việc giảng dạy mà
chúng tôi đảm nhiệm.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi tập trung tìm hiểu hồi ức tuổi thơ và tuổi mới lớn trong truyện
Nguyễn Nhật Ánh với hai bình diện: nội dung hồi ức và nghệ thuật thể hiện
hồi ức, từ đó góp phần khẳng định đóng góp độc đáo của Nguyễn Nhật Ánh
trong văn học thiếu nhi ở nước ta.
Ngoài ra, là người giảng dạy, người thực hiện đề tài này cũng nhằm mục
đích rèn luyện cho mình kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học.
3.2. Đối tượng nghiên cứu

thiếu nhi Việt Nam đương đại.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Luận văn được triển
khai trên ba chương:
Chương 1: Hồi ức và truyện viết cho thiếu nhi giai đoạn sau năm 1975.
Chương 2: Hồi ức và những chủ đề chính trong truyện thiếu nhi của
Nguyễn Nhật Ánh.
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện hồi ức trong truyện thiếu nhi của Nguyễn
Nhật Ánh.

15

15


Chương 1
HỒI ỨC VÀ TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI
GIAI ĐOẠN SAU NĂM 1975
1.1. Khái niệm “hồi ức” và quan niệm về đề tài
Trong tiếng Hán, “về, đi rồi trở lại nghĩa là hồi” [34; 124], “ức” có nghĩa:
1. Nhớ tương ức: cùng nhớ nhau; 2. Ghi nhớ, nhớ chôn vào tim óc gọi là kí ức
[3; 257]. “Hồi ức” hiểu một cách đơn giản là nhớ lại những điều đã qua.
Từ điển tiếng Việt định nghĩa “hồi ức” là “nhớ lại điều bản thân đã trải
qua hoặc một cách có chủ định” [72; 594].
Như vậy, nếu đặt trên trục thời gian quá khứ - hiện tại - tương lai, hồi ức
thuộc về quá khứ, là cái đã qua. Trong Marcel Proust và vấn đề thời gian
nghệ thuật, Lê Phong Tuyết cho rằng: “để tìm lại thời gian đã mất, nhà văn
phải nhớ đến Hồi ức. Hồi ức là cái cớ để đi ngược dòng thời gian. Nhờ hồi ức,
tác giả đã tái tạo lại quá khứ, nhờ hồi ức, quá khứ và hiện tại luôn gắn bó chặt
chẽ với nhau” [100; 49].

khi chui qua hàng rào bị vướng, Benjy đột ngột lùi vào quá khứ - lúc còn nhỏ
hắn cũng bị vướng rào như thế khi cùng chị Caddy mang lá thư tình của cậu
Maury cho bà Patterson. Dòng hồi ức cứ lan dần, tỏa rộng, qua đó người đọc
nhận ra hai sự kiện chính: đám tang bà nội khi Caddy bảy tuổi và đám cưới
của Caddy sau này. Xuất phát từ một cái cớ ngẫu nhiên, không có gì quan
trọng trong hiện tại, quá khứ lan rộng, khơi sâu theo dòng hồi ức, mở rộng
thời gian và không gian, trở thành “quá khứ trong quá khứ” hay “hồi ức trong
hồi ức”.
Cũng có khi người kể nhớ lại những sự việc, kỉ niệm một cách có chủ
định (hồi ức chủ ý). Trong Cái trống thiếc của Gunter Grass, nhân vật chính
Oskar ba mươi tuổi, trốn tránh xã hội trong trại tâm thần viết một cuốn tiểu
thuyết tái hiện lại quá khứ gia đình và bản thân. Hồi ức của nhân vật bắt đầu
17

17


bằng hình ảnh bà ngoại Anna với bốn tầng váy ngồi dưới cánh đồng khoai tây
rồi tới cuộc hôn nhân của cha mẹ. Dòng kí ức xuôi theo từng chặng đời đã
qua của nhân vật: sinh nhật lần thứ ba và quyết định ngừng lớn, ngày đầu tiên
đến trường, đi lưu diễn cùng đoàn xiếc Bebra...
Hồi ức thuộc về quá khứ - một quá khứ đã xa nên sự việc, hình ảnh được
tái hiện đôi khi không nguyên vẹn, không trùng khít với những gì đã diễn ra
trong thực tế. Mức độ của sự trùng hợp còn phụ thuộc vào tâm trạng của
người kể, vào độ dài của thời gian lâu hay mới diễn ra của sự kiện được nhớ
lại và cả ý nghĩa của nó với người kể.
Nói hồi ức là một chất liệu cũng bao hàm nó là một phương thức biểu
đạt vì thực tế nhà văn chọn chất liệu nào là đã chọn một cách ứng xử với nghệ
thuật, với bạn đọc. Bởi vậy, chất liệu của nghệ thuật không bao giờ đơn giản
chỉ là “vật liệu” khách quan. Nó thấm đẫm tính chủ quan của sự lựa chọn. Với

cơm áo gạo tiền, vấn đề lối sống, tư tưởng, quan hệ giữa cái “tôi” cá nhân với
cộng đồng... Sự đề cao cái “ta” trong thời kì kháng chiến cứu nước đã không
còn thích hợp với xã hội hôm nay. Trong thời bình, nhu cầu của cá nhân nổi
lên, văn học có điều kiện để trở lại mối quan tâm đến con người đời tư. Ý
thức dân chủ mạnh mẽ với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật” đã tạo tiền đề
cho văn học chuyển từ cái nhìn sử thi sang cái nhìn thế sự và đời tư, lấy con
người làm hệ quy chiếu đánh giá những vấn đề xã hội. Dòng chảy văn học
thiếu nhi cũng nằm trong quỹ đạo đó. Các nhà văn quay trở về quá khứ như
một con đường nhận thức sâu hơn về hiện tại. Hồi ức trong truyện thiếu nhi
sau năm 1975 hầu hết là hồi ức mang màu sắc tự truyện với lối “hồi thuật” rất
phổ biến của người kể. Sơ bộ ban đầu, chúng tôi thấy mạch truyện thiếu nhi
sử dụng nhiều hồi ức thường hướng tới mấy mục đích chính sau đây:

19

19


1.2.1. Hồi ức gắn với nhu cầu nhìn lại các sự kiện lịch sử
Mỗi cá nhân dù trưởng thành hay còn thơ dại đều không thể tách rời với
xã hội, cộng đồng. Truyện viết cho thiếu nhi sau năm 1975 vẫn có những tác
phẩm đi theo mạch cảm hứng về lịch sử đấu tranh hào hùng của dân tộc. Hồi
ức của người kể gắn hướng tới tôn vinh những sự kiện lịch sử lớn lao, những
chiến công không thể nào quên. Đó là hành trình ngược thời gian làm sống
dậy hiện thực hào hùng của dân tộc. Tiêu biểu cho khuynh hướng này có thể
kể đến Cơn giông tuổi thơ (Thu Bồn), Hồi đó ở Sa Kỳ (Bùi Minh Quốc), Tuổi
thơ dữ dội (Phùng Quán) Dòng sông thơ ấu (Nguyễn Quang Sáng)...
Tuổi thơ dữ dội - “bản di chúc chiến sĩ” của Phùng Quán được viết khi
kháng chiến chống Pháp đã lùi xa nhưng dư âm vẫn còn hằn sâu trong hồi ức
tác giả. Chiến tranh không chỉ tác động tới người lớn, mà còn ảnh hưởng tới

giống như một lời tâm tình bình dị mà vẫn bi tráng, hào hùng, đậm lòng yêu
nước và niềm tự hào dân tộc.
Hoài niệm tuổi thơ dữ dội mở ra những trang viết bi tráng hào hùng, nối
tiếp mạch nguồn ngợi ca vẻ đẹp cách mạng. Nhưng như hai mặt của một vấn
đề, đằng sau tấm huy chương rực rỡ của chiến công vẫn tồn tại ít nhiều góc
khuất thương đau mà chỉ khi có độ lùi thời gian, con người mới có điều kiện
nhìn thấu. Trước năm 1975, tác phẩm viết về thiếu nhi luôn tiếp cận trẻ thơ ở
quá trình thức tỉnh cách mạng. Nhân vật mang dáng dấp người anh hùng,
được lí tưởng hóa nên có phần đơn giản một chiều và “già” hơn so với lứa
tuổi. Từ sau khi hòa bình thống nhất, các tác giả vẫn đặt trẻ em trong mối
quan hệ với lịch sử cách mạng nhưng nhìn nhận lại bằng cái nhìn bình tĩnh,
sâu sắc hơn.
Nhà văn không né tránh sự khốc liệt của chiến tranh - điều mà trong văn
học trước đây, chúng ta ngại nhắc đến. Hiện thực cách mạng qua sự chiêm
nghiệm lại quá khứ, không chỉ có hào hùng, cao cả mà còn có sự mất mát, đau
thương và cả cái xô bồ, nghiệt ngã. Tuổi thơ dữ dội tái hiện cảnh thành phố
rực lửa đạn trong những câu văn nhói lòng: “Mười giờ tối. Cả Mặt trận thành
21

21


Huế phút chốc rung lên trong tiếng gầm nổ dữ dội của các loại súng đạn cầu
vồng.Nửa giờ sau, như không thể chịu nổi sức nổ dồn dập, quyết liệt của quân
ta, một cột lửa đỏ khé vụt dựng lên chính giữa trung tâm khu vực bọn Pháp
chiếm đóng. Cột lửa mỗi lúc dựng cao hơn, tỏa rộng, chiếu đỏ cả bầu trời
thành phố”. Tác phẩm nhìn sâu vào nỗi đau trẻ thơ trong cuộc chiến để thấy
cả những bi kịch cá nhân phía sau vầng hào quang chiến thắng. Nỗi oan ức
của cậu bé Mừng bị lãnh đạo nghi ngờ trở thành bi kịch cào xé tâm hồn trong
sáng của cậu. Mừng lúc hấp hối khẩn cầu: “Anh ơi, anh đừng nghi em là Việt

Trước năm 1975, văn học Việt Nam do áp lực chiến tranh đề cao tính tập
thể, con người gạt bỏ cái cá nhân, riêng tư. Tình yêu cách mạng trở thành
điểm quy chiếu những tình cảm khác. Sau 1975, sự thức tỉnh của ý thức cá
nhân trong bối cảnh hòa bình, hội nhập khiến văn học có sự chuyển mình
mạnh mẽ. Lùi dần khỏi từ trường văn học sử thi, đa phần người cầm bút đi
sâu vào số phận con người, khám phá con người từ góc độ cá thể. Trong
truyện viết cho thiếu nhi sau hòa bình, hồi ức như một “chỉ dấu” về sự vận
động của tư duy văn học đang trở lại với đời tư cá nhân, coi trọng các giá trị
nhân bản mà biểu hiện rõ nhất là coi trọng các quan hệ gia đình, họ tộc.
Gia đình là nơi hình thành và phát triển nhân cách trẻ em. Các nhà văn
đã thể hiện mối quan tâm này trong một loạt tác phẩm như Tuổi thơ im lặng
(Duy Khán), Miền xanh thẳm (Trần Hoài Dương), Miền thơ ấu (Vũ Thư
Hiên), Tuổi thơ khát vọng (Vũ Đức Nguyên), Côi cút giữa cảnh đời (Ma Văn
Kháng)...
Đề cao vai trò gia đình, nhân vật chính trong Tuổi thơ im lặng qua dòng
hồi ức làm hiện diện những gương mặt người thân với tình cảm trìu mến. Bà
nội gầy, vai mỏng tanh, lặng lẽ như chiếc bóng, hiền như đất nhưng luôn là
chỗ dựa tinh thần cho con cháu. Hình ảnh người bà qua màn sương hoài niệm
được nâng lên thành biểu tượng cho thiên tính, cho sức mạnh thanh trừ cái ác,
cái xấu. Những câu ca dao bà hát ru dạy con cháu nên người. Có một người
bà như thế, con cháu không thể bất lương. Hình như lớp bụi thời gian không
làm nhòe mờ gương mặt người thân mà lại làm chúng càng trở nên sáng tỏ.
23

23


Người cha có những ngón chân khum khum - “đôi chân vất vả” dãi nắng dầm
sương thành bệnh để giữ cho đôi chân con thật khỏe, đi thật xa. Người mẹ đôi
vai gầy nứt ra rớm máu vì gánh gồng. Chắc chắn, qua bao năm thắng, nhiều

kỉnh, quát mắng em (Tuổi thơ khát vọng). Tâm hồn nhạy cảm của cậu bé
Thiện nhận ra những rạn nứt trong ngôi nhà tưởng như êm ấm, hòa thuận
“suốt trong mấy chục năm, chưa bao giờ có một câu nói nặng lời, một cử chỉ
gì gây xức phạm đối với người này người khác” nhưng thực chất là “không
khí uể oải, buồn chán, lạnh lùng, một sự không bằng lòng do một nguyên
nhân thầm kín nào đó không dễ nói ra chi phối”. Bố Thiện lấy hai người vợ vốn là hai chị em. Người vợ sau mà Thiện gọi là “cô” dường như không yêu
quý hai chị cả của cậu bé. Sự túng quẫn về kinh tế khiến không khí gia đình
càng nặng nề hơn (Miền xanh thẳm). Nhờ hồi ức, nhân vật Bê nhận ra mẹ rất
thương em nhưng không biết lắng nghe con cái. Khi em cãi lại ông thầy dạy
thể dục, mẹ xem Bê là đứa con hư. Sự độc đoán của mẹ gây tổn thương sâu
sắc cho cô bé: “Sự im lặng của mẹ khiến tôi cảm thấy tôi đã chết rồi. Tôi đã
chết thật”. Quyết định bỏ nhà đi tìm bố thực ra là phản ứng mạnh mẽ, đầy uất
ức của Bê (Hành trình ngày thơ ấu). Mâu thuẫn xuất phát từ quan niệm, cách
nhìn khác nhau giữa trẻ em và người lớn. Đi cùng những rạn nứt trong tình
cảm gia đình vốn thiêng liêng, cao đẹp là những đổ vỡ trong tâm hồn trẻ thơ.
Thế giới trẻ thơ không chỉ có màu hồng mà còn những gam buồn, sắc lạnh.
Tất cả những màu sắc ấy sẽ để lại dấu ấn trong cuộc sống sau này của trẻ thơ
và nó nhắc nhở chúng ta rằng gia đình có ý nghĩa vô cùng to lớn định hình
nhân cách con người.
1.2.3. Hồi ức - một cách “trình diện” của cái tôi cá nhân
Trên thực tế, không phải mọi hồi ức đều đưa đến biểu hiện cái tôi cá
nhân. Đã có rất nhiều hồi kí cách mạng dùng hồi ức để trình bày, đánh giá các
sự kiện lịch sử theo nhãn quan cộng đồng. Nhưng khi các cá nhân có nhu cầu
tự nhận thức, tự biểu hiện thì hồi ức là một cách thức quan trọng phát lộ cái
“tôi”. Hành trình số phận, quá trình hình thành một nhân cách con người
25

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status