BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 NGÔ THỊ THỦY THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG
KÍNH VẠN HOA CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Kiều Anh
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Tiến sĩ Nguyễn
Thị Kiều Anh, người đã tận tình hướng dẫn, định hướng cho tôi trong suốt
quá trình thực hiện đề tài: Thế giới nhân vật trong Kính vạn hoa của Nguyễn
Nhật Ánh.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo trong Khoa Ngữ văn -
những thầy cô đã từng dạy dỗ tôi, Thư viện trường - nơi tôi tìm được nhiều
kiến thức và tài liệu hỗ trợ cho việc làm luận văn này, Phòng sau Đại học
trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 - nơi tổ chức khóa học.
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và các đồng chí đồng nghiệp đã tạo điều
kiện giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận
văn này.
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2013
Học viên Ngô Thị Thủy MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3. Mục đích nghiên cứu 8
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 8
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 9
6. Phương pháp nghiên cứu 9
3.3.2. Năng động, tự chủ trong mối quan hệ đa chiều với thế giới xung
quanh 81
3.3.3. Nhiều tật xấu 89
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
H: Hà Nội
KVH: Kính vạn hoa
NNA: Nguyễn Nhật Ánh
Nxb: Nhà xuất bản
TS: Tiến sĩ
VHTN: Văn học thiếu nhi
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1 Mikhain Ilin – nhà văn Nga chuyên viết truyện khoa học cho thiếu
nhi từng tâm sự rằng: “Trước khi bắt đầu kể chuyện tôi viết văn như thế nào,
tôi muốn kể cho các bạn nghe tôi bắt đầu đọc sách như thế nào”. Còn Assen
Bossev – nhà văn Bungari, tác giả của hơn 60 tập truyện ngắn và thơ viết cho
thiếu nhi lại nói: “những cuốn sách hay đều là người bạn đời vĩnh viễn của
tuổi nhỏ; chính chúng cho trẻ con đôi cánh để bay lên mà chinh phục cuộc
sống”.Qua những trang văn thơ ấy cuộc sống với đầy đủ âm điệu, màu sắc kì
thú được tái hiện đưa các em đến thế giới của những câu chuyện cổ tích và ở
đó là cả một bầu trời tình yêu thương ấm áp. Với những lí do đó mà văn học
về đề tài trẻ thơ hay văn học viết cho trẻ thơ là mảng đề tài cực kì quan trọng.
mình. Nguyễn Nhật Ánh thấu hiểu tâm lí trẻ thơ một cách tinh tế, và hơn thế
văn phong của ông luôn mang nét đặc trưng là chất hài hước, dí dỏm, đáng
yêu lại rất tự nhiên khiến cho độc giả luôn cảm thấy vui vẻ, gần gũi khi đọc
các tác phẩm của ông.
Sẽ rất thiếu sót khi nhắc đến Nguyễn Nhật Ánh mà không kể đến bộ
truyện Kính vạn hoa. Bộ truyện được viết trong khoảng thời gian dài từ 1995
đến 2005 bao gồm 7 tập lớn với 54 tập truyện nhỏ. Bộ truyện KVH là thành
công lớn của tác giả với việc xây dựng thế giới nhân vật đồ sộ với hơn 200
nhân vật, chủ yếu là nhân vật trẻ em đang trong độ tuổi cắp sách đến trường
cùng với đó là thế giới nhân vật người lớn có mối quan hệ mật thiết với nhân
vật trẻ thơ. Hai nhóm nhân vật được miêu tả đan xen, lồng ghép trong tất cả
các tập truyện một cách sinh động, hài hước, thú vị lôi cuốn các em nhỏ đến
kì lạ. Tập truyện đi sâu khai thác đời sống của các em nhỏ nơi thành thị với
nhiều hoàn cảnh, tính cách, tài năng khác nhau, cùng với đó là vai trò hỗ trợ,
3
vai trò là môi trường hình thành nhân cách trẻ thơ của nhóm nhân vật người
lớn cũng hết sức quan trọng. Tác giả NNA đi sâu vào ngõ ngách tâm tư, sự
thay đổi tâm lí của lứa tuổi mới lớn một cách không thể tinh tế hơn.
Nghiên cứu về tác giả Nguyễn Nhật Ánh và các tác phẩm của ông tính
đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu lớn nhỏ, nhưng với bản thân tôi
xuất phát từ tình yêu mến trẻ thơ, khâm phục tài năng của tác giả, yêu thích
những sáng tác của nhà văn chúng tôi lựa chọn đề tài Thế giới nhân vật trong
Kính vạn hoa của Nguyễn Nhật Ánh để đóng góp thêm một hướng tiếp cận
mới, góc nhìn mới về thế giới nhân vật được đánh giá là kỉ lục của văn học
Việt Nam nói chung và văn học viết cho thiếu nhi nói riêng này.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đánh giá chung về KVH, trước hết, phải kể đến công trình Truyện viết
cho thiếu nhi sau năm 1975 của nhà phê bình Lã Thị Bắc Lý. Trong công
trình này, tác giả đã đề cập đến KVH dưới phương diện là một ví dụ để minh
mẩu chuyện vui ở trường, ở nhà và nhiều sinh hoạt của học trò hiện nay”.
Hay trong báo Nhi đồng số 17 (535) tháng 12/1996 nói về sự đón nhận của
bạn đọc nhỏ tuổi cả nước “đó là một bộ sách mới mẻ, lần đầu tiên ra mắt bạn
đọc mà đã sớm được thiếu nhi hai miền Nam, Bắc say mê. Nhà văn NNA đã
từ tốn và tỉ mỉ trân trọng và dí dỏm kể lại những câu chuyện sinh hoạt rất
thường nhật của trẻ nhỏ. Trẻ con có biết bao chuyện “riêng tư”, lo âu, thấp
thỏm, mơ ước… mà người lớn đôi khi dửng dưng không hiểu”. Sự đa dạng
trong đề tài được thể hiện trong mỗi câu chuyện giống như những biến thể ảo
huyền, lung linh đủ màu sắc trong bộ truyện theo nhà thơ Đỗ Trung Quân là
“những cú lắc”của chiếc KVH kỳ diệu”[5]; theo nhà thơ Nguyễn Hoàng Sơn
là “bộ tiểu thuyết trường thiên về sinh hoạt tuổi học trò”[6]; còn theo nhà văn
Văn Hồng là “bộ tiểu bách khoa cho thiếu nhi”[7]. Nhà nghiên cứu Vân
5
Thanh nhận xét KVH là “bộ sách liên hoàn, mỗi tập một màu sắc óng ánh,
phản ánh cuộc sống linh hoạt của các em, một cuộc sống bình thường nhưng
chứa bao điều mới mẻ, trong các mối quan hệ giữa con cái và bố mẹ, trò đối
với thầy cô và trong thế giới nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò”[8; 73-78]. Tác
giả đã viết về “cuộc sống bình thường, cuộc sống hôm nay, cuộc sống như nó
vẫn thường xảy ra thường ngày quanh ta”[9]. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện nhận
định: “KVH dẫn dắt các em từ thành phố Hồ Chí Minh đến thôn quê, từ
chuyện đánh võ, ma quỷ, gái giả trai đến chuyện trinh sát, khoa học. Cũng có
nhiều pha bí ẩn, ly kỳ nhưng vẫn giữ được tính cách Việt Nam”[10]. Nhận xét
về sự phổ biến của các đề tài về nhà trường trong KVH – vốn “hiếm và
mỏng” trong sáng tác VHTN, Hương Giang cho rằng NNA đã miêu tả “là
những chuyện bình thường hàng ngày vẫn xảy ra, trong lớp học nào cũng có,
ở đâu cũng có, lúc nào cũng có”[11].
Trong cuốn Tác giả văn học thiếu nhi Việt Nam, tác giả Vân Thanh đã
trích dẫn lời nhận xét của Nguyễn Hương Giang trích trong Tạp chí Văn nghệ
quân đội – 8.2000: “Ai cũng biết: nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò. Nguyễn
kính vạn hoa và bây giờ, đã lớn tôi vẫn mê thứ đồ chơi này. Nếu được bỏ
phiếu, tôi sẽ không ngần ngại bình chọn ống kính vạn hoa là đồ chơi kì thú
nhất của tuổi thơ, là quà tặng tuyệt diệu nhất mà người lớn đã nghĩ ra cho trẻ
em. Hằng hà bông hoa lần lượt xuất hiện dưới tay mình, chỉ sau mỗi cái lắc
nhẹ những cánh hoa không ngừng thay dáng, những sắc hoa không ngừng đổi
màu, có tới hàng vạn, hàng triệu những bông hoa như thế, và tuyệt vời thay,
không bông hoa nào giống bông hoa nào trong hàng vạn, hàng triệu cái kia.
Tôi ao ước những tập Kính vạn hoa của mình cũng sẽ đem lại cho các độc giả
nhỏ tuổi điều gì na ná như thế: Cứ lắc một cái, một câu chuyện mới lại hiện
ra….”[26]. Và từ những thôi thúc đó, Nguyễn Nhật Ánh đã tặng cho các em
7
nhỏ bộ truyện Kính vạn hoa, với 7 tập truyện lớn 54 tập truyện nhỏ, mỗi tập
truyện chính là một bông hoa nhỏ xinh, nhiều màu sắc, có khi đó là câu
chuyện về tình yêu thương trong gia đình, tình yêu thương với các con vật, có
lúc là câu chuyện mối quan hệ bạn bè, thầy trò, đôi lúc đó là những chuyến
thám hiểm vô cùng kỳ thú, và cả những câu chuyện về những rung động của
tuổi mới lớn thật phức tạp và khó hiểu.
Những công trình nghiên cứu chuyên biệt về tác giả Nguyễn Nhật
Ánh: Theo thống kê của chúng tôi, tính đến nay đã có nhiều công trình nghiên
cứu về tác giả Nguyễn Nhật Ánh và những vấn đề nổi bật trong sáng tác của
ông. Chúng tôi liệt kê theo trình tự thời gian như sau:
Năm 2005, công trình: “Thế giới trẻ thơ qua cái nhìn của Nguyễn Nhật
Ánh trong bộ truyện Kính vạn hoa” của học viên Phạm Thị Bền, chuyên
ngành Văn học Việt Nam, trường Đại học sư phạm Hà Nội. Đây có thể coi là
công trình nghiên cứu chuyên sâu khá xuất sắc về cách tiếp cận thế giới trẻ
thơ của tác giả Nguyễn Nhật Ánh trong bộ truyện Kính vạn hoa.
Năm 2009, công trình: “Thế giới nghệ thuật truyện Nguyễn Nhật Ánh”
của học viên Vũ Thị Hương, chuyên ngành Văn học Việt Nam hiện đại,
trường Đại học sư phạm Hà Nội. Công trình khoa học này lại đánh giá một
thâm nhập vào đời sống của nhân vật để thấy rõ tài năng của tác giả NNA,
tâm huyết của ông với thiếu nhi, và những phương diện liên quan đến sự hình
thành nhân cách thiếu nhi.
Tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật trong Kính vạn hoa cũng là
nhiệm vụ lớn trong luận văn góp phần tạo nên một Kính vạn hoa có một
không hai trong nền văn học thiếu nhi Việt Nam tính đến thời điểm này.
9
5. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung vào việc tìm hiểu thế giới
nhân vật trong Kính vạn hoa của Nguyễn Nhật Ánh
Phạm vi đề tài: Bộ truyện Kính vạn hoa của tác giả Nguyễn Nhật Ánh
(Nhà xuất bản Kim Đồng, 2005).
Ngoài ra luận văn còn tham khảo thêm một số tác phẩm khác của nhà
văn, một số tài liệu tham khảo, bài viết trên internet trong quá trình thực hiện
đề tài với mục đích tạo sự so sánh khi cần thiết và tạo sự phong phú cho đề
tài, dẫn chứng và minh chứng.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Xuất phát từ yêu cầu của đối tượng và mục đích nghiên cứu, luận văn
vận dụng một một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp thống kê
7. Đóng góp của luận văn
Tập trung nghiên cứu thế giới nhân vật trong bộ truyện Kính vạn hoa của
Nguyễn Nhật Ánh nhằm:
Về mặt lí luận: Với đề tài luận văn này, người nghiên cứu sẽ làm nổi bật
nét đặc sắc về thế giới nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong bộ
truyện Kính vạn hoa của Nguyễn Nhật Ánh.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, VHTN theo nghĩa hẹp “gồm những
tác phẩm văn học hoặc phổ cập khoa học dành riêng cho thiếu nhi… gồm một
phạm vi rộng rãi những tác phẩm văn học thông thường (cho người lớn) đã đi
vào phạm vi đọc của thiếu nhi [12;342]. Nhưng cũng có quan niệm “chỉ
những tác phẩm viết cho thiếu nhi một cách trực tiếp mới thuộc bộ phận
VHTN”. Hiện chưa có một khái niệm chính xác và đầy đủ thế nào là VHTN
mà chỉ có những tiêu chí để xác định khái niệm này. Thứ nhất là tính chất
giáo dục trong tác phẩm viết cho thiếu nhi phải được đặt ra một cách rõ ràng,
dứt khoát và đưa lên hàng đầu (yêu cầu này đối với tác phẩm văn học cho
người lớn cũng rất quan trọng nhưng đối với thiếu nhi lại càng đặc biệt quan
trọng hơn); thứ hai là có hình thức tươi vui, hồn nhiên, dí dỏm, giàu yếu tố
tưởng tượng; thứ ba là hình tượng văn học phải chân thực, cụ thể, sinh động,
phù hợp với tâm lý trẻ thơ; thứ tư là ngôn ngữ phải trong sáng, giản dị và dễ
hiểu. Nhà văn NNA thì quan niệm: “Tác phẩm VHTN trước hết và chủ yếu là
những tác phẩm viết cho thiếu nhi chứ không chỉ là viết về thiếu nhi”[93].
VHTN là văn học phục vụ cho những bạn đọc nhỏ tuổi, do đó phải xem thiếu
12
nhi là đối tượng cảm thụ chứ không đơn giản chỉ là đối tượng miêu tả, dù
rằng viết về thiếu nhi cho thiếu nhi đọc bao giờ cũng được xem là phương
pháp thích hợp nhất. Sứ mệnh của VHTN được nhắc đến trong Tạp chí Văn
học số 5/1993 như sau: “Nếu sự tồn tại và phát triển của dân tộc, cũng như
nhân loại trong các tương lai gần và xa là đặt vào thế hệ thiếu nhi thì câu
chuyện về VHTN, câu chuyện về các món ăn tinh thần cho thiếu nhi chúng ta
bàn hôm nay và ở đây không thể xem là một câu chuyện “nhỏ”, “ngoài lề” mà
là câu chuyện nghiêm trang của tất cả mọi “người lớn”, của các bậc cha mẹ,
của các thầy cô, và cố nhiên, của tất cả những người viết cho thiếu nhi, của tất
cả những ai có quan tâm và có trách nhiệm đến việc bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục thiếu nhi”.
Do “tính đặc thù của nền VHTN là ở chỗ nó chiếu cố đến đặc điểm của
Dương, Nguyễn Quỳnh mặc dù tuổi cao nhưng vẫn cần mẫn viết cho các em.
Tô Hoài rất thành công với mảng đề tài truyện cổ viết lại (Chuyện nỏ thần,
Nhà Chử, 101 truyện ngày xưa…); Phạm Hổ với truyện cổ tích hiện đại
(Chuyện hoa, chuyện quả…); Trần Hoài Dương với những truyện đầy chất
thơ về cỏ cây hoa lá và kí ức tuổi thơ (Nhớ một mùa hoa thạch thảo, Cô bé
mảnh khảnh, Hoa cỏ thì thầm, Miền xanh thẳm…)… Đến đầu những năm
90, đội ngũ viết cho các em được bổ sung thêm nhiều cây bút trẻ như Trần
Thiên Hương, Nguyễn Quang Thiều, Lê Cảnh Nhạc, Nguyễn Nhật Ánh, Hà
Lâm Kì, Quách Liêu, Phan Hồn Nhiên (về truyện) và Phùng Ngọc Hùng,
Trương Hữu Lợi, Dương Thuấn, Mai Văn Hai (về thơ). Tiếp nữa là những
cây bút không chỉ trẻ về tuổi nghề mà còn rất trẻ về tuổi đời. Họ là những
người vừa chia tay với tuổi thơ, đang hăm hở bước vào đời như Hoàng Dạ Thi,
Nguyễn Thị Thu Thuỷ, Nguyễn Thị Châu Giang, Thu Trân, Quế Hương,
Nguyễn Thúy Loan Lớp người viết trẻ này đã đem đến cho văn học thiếu nhi
14
những nét mới trẻ trung, tươi tắn, đầy nhiệt huyết. Một lực lượng nữa cũng góp
phần làm phong phú thêm cho đội ngũ sáng tác văn học thiếu nhi, đó là chính
các em. Có thể thấy rõ điều này qua những tác phẩm Tuổi xanh, Mực tím, báo
Thiếu niên tiền phong, Hoa học trò, Văn học với tuổi thơ
Nhìn chung, đội ngũ sáng tác văn học thiếu nhi từ thời kì Đổi mới đã
phát triển thật hùng hậu. Nó chứng tỏ tính chuyên nghiệp của bộ phận sáng
tác cho các em. Và cũng vì vậy mà chưa bao giờ, văn học thiếu nhi Việt Nam
lại phát triển phong phú và đa dạng như ở thời kì này. Sáng tác cho các em
ngày càng có sự mở rộng đề tài cũng như hướng tiếp cận đời sống, tiếp cận trẻ
em và khả năng khám phá con người. Với những thành tựu như vậy, VHTN
xứng đáng giữ một vị trí quan trọng, góp phần làm nên diện mạo của nền văn
học dân tộc.
Được tạo đà từ một thành tựu rực rỡ như vậy, văn học thiếu nhi Việt
Nam bước sang thế kỉ XXI tràn đầy sức sống, vừa hội nhập với thế giới, vừa
Thắng, Đặng Chân Nhân và Ngô Gia Thiên An
Nguyễn Ngọc Thuần mở đầu cho văn học thiếu nhi Việt Nam thế kỉ XXI
bằng những tác phẩm liên tiếp được giải cao: Giăng giăng tơ nhện (Giải ba
cuộc vận động Sáng tác văn học tuổi 20 năm 2000), Vừa nhắm mắt vừa mở
cửa sổ (Giải A cuộc thi sáng tác văn học Vì tương lai đất nước lần thứ ba
2001-2002, giải thưởng Peter Pan của Thụy Điển năm 2008 dành cho những
tác phẩm văn học thiếu nhi hay nhất). Một thiên nằm mộng (Giải A cuộc vận
động sáng tác cho thiếu nhi (2001-2002).
Nguyễn Ngọc Tư viết cho thiếu nhi không nhiều. Khiêm tốn một tập
truyện Ông ngoại với tám câu chuyện nhỏ nhắn, xinh xắn nhưng cũng đủ cho
bạn đọc cảm nhận về một Ngọc Tư giản dị mà tinh tế; nhỏ nhẻ mà sâu sắc.
Nhà thơ trẻ Nguyễn Lãm Thắng với 1008 bài thơ thiếu nhi đã thực sự chinh
16
phục bạn đọc bởi những vần thơ đầy tâm huyết. Tập thơ hiếm hoi dành cho
thiếu nhi của Vi Thùy Linh Chu du cùng ông nội (gồm 23 bài) là những kỉ
niệm về tuổi thơ, về gia đình, về ông nội. Hai tác giả thực sự trẻ là Đặng Chân
Nhân (sinh năm 1993) với Giấc mơ và Ngô Gia Thiên An (sinh năm 1999)
với tập thơ đầu tay Những ngôi sao lấp lánh đã đem đến cho bạn đọc một cái
nhìn mới mẻ về cuộc sống , thiên nhiên và vũ trụ của thế hệ trẻ ngày hôm nay.
Kể từ sau Trần Đăng Khoa, Cẩm Thơ, Khánh Chi, Hoàng Dạ Thi, Ngô Thị
Bích Hiền… rất lâu, bạn đọc Việt Nam mới lại được đọc những trang thơ hồn
nhiên, trong trẻo do chính các em viết. Năm 2011, khi Nhà xuất bản Kim
Đồng phát hành Giấc mơ và Những ngôi sao lấp lánh, nhiều người đã gọi
hai tác giả này là “Thần đồng”thơ thế kỉ XXI. Thiên An viết về cuộc sống với
những sự việc xảy ra xung quanh cùng những điều em băn khoăn và mơ ước,
Thơ Chân Nhân cũng là những câu chuyện về gia đình, về vũ trụ, cuộc sống,
thiên nhiên và cây cỏ nhưng mang vẻ hồ nghi, già dặn so với tuổi của em.
Một số tác giả nổi lên từ giải thưởng Cây bút Tuổi hồng (Giải thưởng hàng
năm của Trung ương Đoàn TNCS Hồ chí Minh , Báo Thiếu niên tiền phong
Nam. Quê hương có“chợ Đo Đo” ở chỗ “quán Gò đi lên”, có món mì Quảng
“nhiều tôm thịt”, có cái giọng trọ trẹ, lơ lớ… đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi
người con đất Quảng. Tuổi ấu thơ gắn bó với gia đình, làng xóm quê hương
đã nuôi dưỡng tâm hồn nhà văn mà mỗi khi hồi tưởng lại nó như một đoạn
phim không có đoạn dừng. Vùng quê tươi đẹp trù phú với những ngõ trúc
quanh co đầy lá rụng; với những rừng sim, đồi trâm mênh mông; với những
phiên chợ đêm nghèo nàn; với cái giếng đá đầy rêu; với những cây bàng lá
đỏ; với những mùa thị đầy xác hoa và vỏ thị khô trên tường đánh lừa những
con bướm nhỏ… đã in đậm trong ký ức tuổi thơ. Vùng quê đó đã trở thành
một tình yêu, một nỗi nhớ khắc khoải, một nỗi niềm bồn chồn day dứt, một sự
18
mắc nợ chưa bao giờ trả hết, cứ trở đi trở lại lúc hiển hiện lúc thấp thoáng
trong các sáng tác của NNA.
NNA tâm sự: “Đo Đo là một ngôi làng nhỏ ở xã Bình Quế, huyện Thăng
Bình, Quảng Nam. Đó là nơi tôi sinh ra và lớn lên trong quãng thời gian đầu
đời vô tư lự. Năm tôi lên tám, gia đình tôi dời về Cẩm Lũ, sau đó dọn ra
huyện lỵ Hà Lam. Như vậy, tôi gắn bó thực sự với làng Đo Đo chỉ khoảng tám
năm. Tám năm, một thời gian không dài, tôi lại ở độ tuổi còn quá nhỏ, nhưng
không hiểu sao rất lâu về sau này tôi vẫn nhớ như in những kỷ niệm ở ngôi
làng đơn sơ đó. Tôi nhớ ngôi chợ đêm lấp lánh ánh đèn, nhớ những đoàn xiếc
lưu diễn thỉnh thoảng vẫn đến làng tôi và làm bọn trẻ con chúng tôi khiếp vía
với những con trăn lớn quấn quanh cổ bọn người bán dạo. Tôi nhớ những cái
giếng trên con đường cuối chợ ba tôi vẫn dẫn tôi đi tắm vào những đêm trăng
sáng trên đường làng. Những hình ảnh thơ mộng ấy sau này đã đi vào trang
sách của tôi như những phản quang tuyệt vời của kỷ niệm”. Trong 1 lần khác
“Tôi là nhà văn. Nên tôi thỏa nỗi nhớ quê của mình theo cách của người hành
nghề bằng con chữ. Những kỷ niệm, những vùng đất, những gương mặt bạn
bè ấu thơ thi nhau hiện lên trong hết cuốn sách này đến cuốn sách khác. Đến
bây giờ, tôi vẫn băn khoăn tự hỏi: có phải đó là nguyên nhân sâu xa khiến tôi
bây giờ thầy đi dạy. Làm sao tôi kêu thầy bằng em được!
Trước lí lẽ cứng nhắc của cô, tôi đành xuống nước:
- Vậy thôi, cô kêu em bằng tên! Cô đừng kêu em bằng thầy, em áy náy lắm!
Cô Thung suy nghĩ một lát rồi gật gù:
- Vậy cũng được! Tôi sẽ kêu Ngạn là Ngạn!
Tôi mừng quýnh. Từ đó, các thầy cô trong trường đều bắt chước cô
Thung, gọi tôi bằng tên. Tôi là cái thằng Ngạn ngày xưa, trùm đánh nhau,
chúa bị phạt, bữa nào đi học về cũng rách quần rách áo, bươu cổ u đầu, nay